Đền Giao Cù (Nam Trực, Nam Định)

Đền Giao Cù (Nam Trực, Nam Định)

Thông tin cơ bản

Tên goị và vị trí địa lý 

Đền Giao Cù, còn được biết đến với các tên gọi đền Đăng Long hay đền thờ Ông Nghè Giao Cù, tọa lạc tại thôn Giao Cù, xã Đồng Sơn, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định (nay thuộc xã Nam Đồng, tỉnh Ninh Bình). Từ xa xưa đến nay, cư dân làng Giao Cù, xã Đồng Sơn chủ yếu sinh sống bằng nghề làm phở bò, trong đó nổi bật và hưng thịnh nhất là dòng họ Cồ một dòng họ trứ danh với nghề phở, tiếng tăm lan rộng khắp cả nước. 

Không chỉ nổi danh bởi nghề truyền thống, vùng đất Giao Cù còn được biết đến là miền quê giàu truyền thống hiếu học, nơi đã sản sinh ra nhiều bậc danh nhân, hiền tài. Tiêu biểu trong số đó là Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi  nhà yêu nước tiêu biểu trong phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp năm 1886, người được nhân dân địa phương tôn kính và lập đền thờ để tưởng niệm công lao và khí tiết của ông.

Lịch sử hình thành và nhân vật

Xưa kia, đền Giao Cù là nơi thờ Thần Thiên Lôi (thần Sấm), sau khi Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi hy sinh, nhân dân địa phương đã lập bài vị thờ ông tại đền để tưởng nhớ công lao và khí tiết của một bậc hiền tài yêu nước.

Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi, tên thật là Vũ Ngọc Tuân, hiệu Nam Dao Mộng Duyên Tử, sinh ngày 8 tháng 8 năm Bính Thân (1836) tại làng Giao Cù, tổng Sa Lung, huyện Nam Trực, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định xưa (nay thuộc xã Đồng Sơn, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định).

Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo. Cha là cụ Vũ Ngọc Châu, hai lần đi thi Hương, đỗ Tú tài, ở quê mở lớp dạy học, mẹ làm nghề dệt cửi và buôn bán vải. Từ nhỏ, Vũ Ngọc Tuân đã nổi tiếng thông minh, ham học và nhanh nhẹn. Hơn mười tuổi, ông được mẹ gửi về quê ngoại học thêm cậu là Bùi Văn Đức và Bùi Mền Hoà đã từng đỗ ba khoá Tú tài. Sau này ông được Bà Cai Can là người họ cùng chỉ với cậu Bùi Văn Đức nhận về nuôi và cho học cụ Cử nhân Vũ Trọng Uy ở làng Bái Thượng. Một thời gian sau ông lại được gửi lên Vĩnh Tru (huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) để theo học cụ nghè Lý.

Do quy định của triều đình nhà Nguyễn, người dự thi phải đứng tên một người có chức dịch, ông đã mượn tên Vũ Hữu Lợi trong họ để đăng ký thi cử. Từ đó, tên Vũ Hữu Lợi trở thành tên chính thức của ông. Năm 1870, ông đỗ Cử nhân, đến khoa thi Ất Hợi (1875), ông đỗ Tam giáp đồng Tiến sĩ dưới triều vua Tự Đức thứ 29 (1876). 

Sau khi đỗ đạt, Vũ Hữu Lợi được bổ nhiệm giữ nhiều chức vụ quan trọng như Quang Lộc Tự Thiếu Khanh, Tá lý Bộ Binh, Thượng biện tỉnh Nam Định, Đốc học Nam Định. Tuy làm quan trong triều, ông sớm nhận rõ sự bạc nhược và đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn trước thực dân Pháp.

Năm 1883, khi thực dân Pháp mở cuộc tấn công lần thứ hai vào thành Nam Định, Vũ Hữu Lợi  lúc đó đang giữ chức Tá lý Bộ Binh đã trực tiếp chỉ huy quân sĩ chống trả quyết liệt tại khu vực bến Đò Quan. Tuy nhiên, trong bối cảnh triều đình nhà Nguyễn đầu hàng, ký Hòa ước Quý Mùi và chính thức thừa nhận sự đô hộ của thực dân Pháp, quân phòng thủ không được tiếp viện kịp thời, khiến thành Nam Định rơi vào tay giặc.

Trước sự bạc nhược và bất công của triều đình, Vũ Hữu Lợi vô cùng thất vọng. Ông xin từ quan, trở về quê nhà mở trường dạy học, đồng thời âm thầm chuẩn bị lực lượng, nuôi chí cứu nước, chờ thời cơ đứng lên chống lại ách xâm lược.

Hưởng ứng Chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi năm 1886, ông nhận được chiếu cần vương, và được phong chức Tham táng quân vụ, ông đứng lên chiêu mộ nghĩa quân, rèn vũ khí, tổ chức lực lượng chống Pháp. Nghĩa quân của ông có lúc lên tới gần 2.000 người, thu hút đông đảo sĩ phu, hào kiệt trong vùng tham gia. Năm vua Đồng Khánh lên ngôi, triều đình lại bán nước một lần nữa, ra lệnh giải tán các đội quân Cần Vương chống Pháp. Đội quân của Vũ Hữu Lợi lúc này đang lâm vào tình trạng khó khăn, thiếu lương thực, căn cứ nằm ngay vùng đồng bằng và bị quan đầu tỉnh ráo riết bức bách. Tình thế này buộc ông phải công khai tuyên bố giải tán nghĩa quân nhưng thực ra đi sâu vào xây dựng lực lượng bí mật chống Pháp. Vũ Hữu Lợi cử ông Đốc Nhưỡng đi tham gia phong trào bãi sậy của Nguyễn Thiện Thuật ở Hưng Yên để học thêm kỹ thuật đánh du kích. Đồng thời ông còn cử em ruột là Vũ Ngọc Thụy với các ông ấm Đoan, Lê Xuân đưa một cánh quân nhỏ vào Thanh Hoá giúp Đinh Công Tráng xây dựng chiến lũy Ba Đình và học tập kế hoạch chiến đấu ở đây. Ông còn cử người đi học kỹ thuật đúc súng của phong trào khởi nghĩa Phan Đình Phùng.

Trước sự nguy hiểm mà Vũ Hữu Lợi gây ra cho chính sách cai trị, thực dân Pháp nhiều lần tìm cách mua chuộc nhưng không thành. Cuối cùng, ông bị bắt. Trước kẻ thù, ông kiên cường, không khuất phục, không khai báo. Ngày 30 Tết năm Bính Tuất (1887), thực dân Pháp đã xử chém ông tại bến Đò Che (Nam Định).

Để tưởng nhớ Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi, người con ưu tú, trọn đời vì dân vì nước dòng họ và nhân dân quê hương đã lập từ đường và đền thờ ông tại làng Giao Cù. Hơn một trăm năm qua, nơi đây vẫn luôn được hương khói phụng thờ, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” và lòng tri ân sâu sắc của các thế hệ hậu nhân.

Vũ Hữu Lợi mất đi nhưng công danh sự nghiệp, tiếng thơm vẫn còn mãi. Câu đối trong đền có ghi:

Khoa hoạn quốc nhiếp lưu Việt sử
Anh thanh từ vũ chốn Nam thiên

Tạm dịch:

Công danh sự nghiệp luôn được lưu truyền trong sử nước Việt
Tiếng thơm nơi đền sở chấn động cả trời Nam

Và câu đối:

Tiến sĩ khai khoa quyết khởi binh đao trừ Pháp tặc
Giao Cù linh khí tuy công tư đức phụng trung thần

Tạm dịch:

Bậc Tiến sĩ khai khoa quyết dấy binh đao trừ giặc Pháp
Ngài là khí thiêng đất Giao Cù dân ghi nhớ thờ phụng như một bậc trung thần

Trải qua nhiều năm tồn tại, ngôi đền dần bị xuống cấp. Trước thực trạng đó, địa phương đã tiến hành đợt trùng tu, tôn tạo quy mô lớn, bao gồm tu sửa đền chính, xây dựng kè hồ, cổng đền, tường bao bằng đá và hoàn thiện toàn bộ khuôn viên. Công trình được hoàn thành và chính thức khánh thành vào năm 2025.

Kiến trúc cảnh quan 

Đền tọa lạc trong khu dân cư sinh sống, có khuôn viên rộng rãi, khang trang, các hạng mục kiến trúc gồm: Nghi Môn, Tam Quan Nội, Tam Quan Ngoại, Bia tưởng niệm, xung quanh có nhiều cây cảnh, ao hồ. 

Tam Quan Nội

Tam Quan nằm bên tuyến đường liên xã chạy qua, thuận tiện cho việc đi lại và sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân địa phương. Tam Quan có cấu trúc với ba lối đi, cửa chính lớn ở trung tâm và hai cửa phụ nhỏ hơn nằm đối xứng hai bên. Cổng giữa có quy mô cao và rộng hơn, xây dựng hai tầng, phía trên là lầu gác treo chuông, bốn góc mái được uốn cong mềm mại theo hình vân mây. Toàn bộ cổng được trang trí công phu với những mảng phù điêu chạm khắc mây trời, hoa lá, hồi văn, hổ phù, hai cột trụ nổi bật với những dòng chữ Hán khắc dọc chạy dọc thân cột, mái lợp ngói truyền thống. 

Qua Tam Quan về phía trái là một hồ nước rộng, từ sân bắc qua hồ bằng một cây cầu đắp nổi hình rồng uốn lượn dọc theo thân cầu. Giữa lòng hồ là khoảng đất nổi hình lục giác, nơi tọa lạc một cây cổ thụ lâu năm. Xung quanh hồ được xây lan can bao bọc, tạo nên một không gian hài hòa, cổ kính và thanh tịnh.

Tam Quan Ngoại

Phía trước ao hồ là công trình Tam Quan mới được xây dựng và khánh thành, nổi bật với quy mô bề thế và kiến trúc uy nghi. Tam Quan gồm ba lối cửa, kết cấu hai tầng mái, trong đó mái chính ở trung tâm treo chuông đồng. Hệ mái lợp ngói đỏ, các đầu đao vươn cong mềm mại theo hình rồng, giữa đỉnh mái gắn biểu tượng mặt nguyệt. 

Tầng dưới được đổ trần kiên cố, hai bên bố trí hành lang dẫn lối lên tầng trên. Tầng hai là không gian mở, được chống đỡ bởi tám hàng cột, tạo cảm giác thoáng đãng, vững chãi. 

Nghi Môn 

Từ Tam Quan đi vào, phía tay phải là Nghi Môn, được kiến tạo theo dạng tứ trụ. Hai trụ chính ở trung tâm cao khoảng 4m, kiểu dáng lồng đèn, phần chân thắt cổ bồng vững chãi, trên đỉnh đặt đôi lân chầu. 

Kề hai trụ trung tâm, mỗi bên được xây thêm các trụ phụ mô phỏng hình thức cổng nhỏ hai tầng, phần tường xây kín, ngoài cùng là hai trụ thấp hơn, tạo nên bố cục cân xứng và hài hòa. Trên các mặt trụ đều chạm khắc chữ Hán. 

Qua Nghi Môn, tiến vào bên trong sân là một bức bình phong án ngữ, vừa có tác dụng che chắn, vừa mang ý nghĩa phong thủy theo quan niệm truyền thống.

Đền Chính

Đền Giao Cù được xây dựng quay về hướng Tây, tọa lạc trên khu đất rộng rãi, có bố cục kiến trúc theo hình chữ Đinh  () gồm Tiền Tế và Hậu Cung. Tiền Tế gồm ba gian chính, hai bên tường hồi nhà Tiền Tế xây cột đồng trụ lớn, phía lùi sang hai bên là các cột đồng trụ nhỏ và thấp hơn, bố trí cân xứng. Khoảng không gian giữa cột trụ lớn và nhỏ được tạo thành một miếu thờ, bên trong đặt tượng đắp bằng vôi vữa.

Hệ thống vì kèo phía trước nhà Tiền Tế là dạng biến thể của kiểu vì “suốt giá chiêng trốn cột”. Hàng cột quân phía ngoài cửa được làm có kích thước tương đương cột cái, giữa các hàng cột là hệ thống cửa ra vào. Bộ vì kèo phía trước được kéo dài, kết hợp với hệ thống kẻ và bẩy, tạo nên mái hiên rộng rãi, thông thoáng. Toàn bộ kết cấu kiến trúc gồm vì, kèo, cột, xà ngang, xà dọc đều được sơn son, góp phần làm tăng vẻ rực rỡ, uy nghi cho ngôi đền. Bên trong đền hiện còn lưu giữ nhiều câu đối ca ngợi và ghi danh công lao của người anh hùng được thờ phụng. Các gian thờ được trang trí bằng cửa võng sơn thếp vàng tinh xảo, kết hợp với hệ thống hoành phi, câu đối, tạo nên không gian thờ tự trang nghiêm, cổ kính và giàu giá trị văn hóa truyền thống. Đi sâu vào bên trong là gian Hậu Cung, nơi thờ tự chính của đền, tại gian thờ đặt bài vị của Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi, xung quanh bày biện các đồ thờ cúng trang nghiêm. 

Trên nóc nhà Tiền Tế là hình tượng “lưỡng long chầu nguyệt” đắp nổi, mang ý nghĩa linh thiêng và biểu trưng cho sự hòa hợp âm dương. 

Bia tưởng niệm 

Nằm bên phải ngôi đền, trên khoảng sân rộng, là đặt bia tưởng niệm Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi. Công trình có kiến trúc hai tầng, mặt bằng hình vuông, được cấu thành bởi bốn hàng cột, các mặt để thoáng, không xây tường bao. Ở trung tâm đặt tấm bia đá, trên bề mặt khắc chữ Quốc ngữ ghi lại thân thế và sự nghiệp của ông, phía trước bia bài trí đồ thờ tự. 

Tầng trên của bia có diện tích thu nhỏ hơn so với tầng dưới, phần mái phía trên gắn biểu tượng quầng lửa. 

Sự kiện và lễ hội

Trong 3 ngày, từ ngày 6 tháng 8 đến ngày 8 tháng 8 Âm lịch, tại Đền làng Giao Cù, nhân dân thôn Giao Cù long trọng tổ chức Lễ hội truyền thống Đền làng Giao Cù nhân kỷ niệm 189 năm ngày sinh Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi. Tham dự lễ hội có các lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể của xã cùng đông đảo nhân dân thôn Giao Cù và du khách thập phương. Lễ hội truyền thống Đền Giao Cù được tổ chức định kỳ 5 năm một lần, trong đó ngày 8 tháng 8 Âm lịch là ngày chính hội. Đây là dịp để nhân dân tưởng nhớ, tri ân công lao to lớn của Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi, đồng thời góp phần gìn giữ, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của vùng quê giàu truyền thống cách mạng.

Bên cạnh các nghi lễ truyền thống như rước lễ về đình tế Thánh, tế nữ…, lễ hội còn tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, trò chơi dân gian đặc sắc như bắt vịt, leo cầu phao, đập niêu đất, tổ tôm, đánh cờ người,… thu hút sự tham gia sôi nổi của đông đảo nhân dân và du khách.

Xếp hạng 

Đền Giao Cù đã được bộ Văn hoá – Thông tin công nhận là di tích lịch sử – văn hoá cấp Quốc gia năm  1990.

Tài liệu tham khảo 

    1. Di tích lịch sử văn hóa tỉnh Nam Định, Nxb Văn hóa tỉnh Nam Định (2008). 
    2. “Di tích lịch sử cấp quốc gia Đền Giao Cù xã Đồng Sơn”, trang Thông tin điện tử xã Nam Đồng, tỉnh Ninh Bình. 
    3. “Lễ trùng tu tôn tạo đền Giao Cù – xã Đồng Sơn, huyện Nam Trực – tỉnh Nam Định”, kênh youtube Vũ Lâm media. 
    4. “Gương sáng danh nho đất Giao Cù”, Kênh Phát thanh và truyền hình Ninh Bình. 
    5. “Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi – Khí phách danh nho đất Giao Cù”, HTV Đài Hà Nội.
    6. Hồ Đức Thọ (2003), Lễ hội cổ truyền ở Nam Định, Nxb Khoa học xã hội.
Chấm điểm
Chia sẻ
Checkin
Đên Giao Cu Nam Đinh (nguon gg) (1)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)