Tên gọi và vị trí địa lý
Đền Lác nằm tại xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, thuộc thành phố Hà Nội. Ngôi đền được gọi theo tên Nôm là Đền Lác, do vị trí của nó tọa lạc trên đồi Lác.
Lịch sử và nhân vật
Đền Lác là một công trình kiến trúc có từ lâu đời, tuy nhiên do trải qua nhiều biến cố lịch sử, hiện nay không còn tài liệu ghi rõ thời điểm xây dựng ban đầu của ngôi đền. Dẫu vậy, căn cứ vào tấm bia đá có niên hiệu Chính Hòa 18 (1697), ta có thể xác định rằng đền đã tồn tại ít nhất từ cuối thế kỷ XVII. Ngôi đền này thờ phụng Tản Viên tam thánh, bao gồm các vị thần Sơn Tinh, Cao Sơn và Quý Minh, đây là những nhân thần có công lao lớn trong truyền thuyết dân gian của người Việt.
Kiến trúc và cảnh quan
Đền Lác nằm trên một không gian thoáng đãng, với phần Tiền tế được thiết kế mở, không có cửa vây quanh. Bốn góc mái đao được xây kèm với một đoạn tường nhỏ nhằm gia tăng sự vững chắc cho cấu trúc. Tường này được xây bằng gạch thời Thành Thái, có kích thước nhỏ gọn, giống như các viên gạch được sử dụng trong toàn bộ tường bao quanh di tích. Bên trong Tiền tế, cấu trúc bao gồm ba gian chính và hai gian chái, với bốn bộ vì trên bốn hàng cột. Các bộ vì của các gian chính được thiết kế theo kiểu “thượng giá chiêng, chồng rường, hạ kẻ, bẩy,” với mái phân chia thượng tứ và hạ ngũ. Các hoành của bộ vì được làm vuông, thể hiện đặc trưng của kiến trúc thời Lê. Đặc biệt, trong gian giữa, người xưa đã làm trốn một hàng cột cái phía trước để tạo không gian cho các buổi hội họp, trong khi các gian bên vẫn giữ nguyên hai hàng cột cái. Các bộ vì của hai gian chái được thiết kế theo kiểu “thượng chồng rường, hạ kẻ,” với các cấu kiện gỗ chủ yếu để trơn, tập trung vào độ bền chắc mà không trang trí nhiều. Một số chi tiết chạm khắc được khéo léo thể hiện ở các bẩy hiên. Tiền tế không bài trí đồ thờ tự, và từ đây, qua một khoảng sân lọng, chúng ta có thể bước vào Đại bái. Hai chữ “Nghiêm” và “Túc” được khắc lớn trên tường sân lọng, tạo nên một không gian tôn nghiêm.
Về phần kiến trúc Đại bái, ngôi nhà này cũng có kết cấu ngang ba gian hai chái, với bốn mái đao cong. Mái đao không có trang trí, nhưng bốn góc đao được đắp hình rồng rất công phu, thể hiện sự tinh xảo của nghệ thuật tạo tác thế kỉ XVIII. Phía ngoài của hai gian đầu hồi có hình tượng hổ phù ngậm chữ “Thọ” và các diềm của bộ vì được trang trí với hoa lá rất tinh tế. Bên trong Đại bái, các bộ vì của ba gian và hai chái được cấu tạo tương tự như Tiền tế. Tuy nhiên, bộ vì của hai gian chái lại được trang trí với khám lửng dạng ván bưng.
Không gian bên trong Đại bái còn nổi bật với gác lửng, được bưng kín, và những chạm khắc công phu hình lưỡng long chầu nguyệt cùng những mảng chạm khắc chim phượng tinh xảo, thể hiện nghệ thuật chạm khắc đặc sắc cuối thời Lê. Các đồ thờ trong đây cũng thuộc niên đại thời Lê, như bát hương gốm, long ngai và bài vị. Đặc biệt, dưới chân khám thờ còn đặt các hòn đá thiêng, truyền thuyết kể rằng đó là những hòn đá mà các vị Tam vị Tản Viên Sơn Thánh và Mẫu Thân đã từng ngồi nghỉ.
Gian ống muống nối liền Đại bái với hậu cung được xây theo kiểu ván bưng, với các mảng chạm khắc tinh xảo hình rồng phượng. Không gian dưới đây được bài trí hai hương án gỗ có niên đại thế kỷ XVIII, cùng các đồ thờ tự như bát hương, chân đèn, đài nước. Hậu cung gồm ba gian, bốn mái đao cong, mái lợp ngói ri cổ. Mái Hậu cung có thiết kế mềm mại, các đao cong vút, và bốn góc mái được trang trí bằng các con so, nghê làm từ gốm đất nung thế kỷ XVII, tương tự như tạo hình trên mái đình Tường Phiêu. Bên trong, bộ vì của Hậu cung được làm tương tự như Trung cung, với phần gian giữa có khám lửng để đặt long ngai và bài vị của Tam vị Tản Viên Sơn Thánh. Đặc biệt, gian ống muống phía ngoài khám được sơn đỏ, một chi tiết tượng trưng cho sự uy nghi và tôn kính đối với các vị thần. Trong khám thờ, ba cỗ long ngai và bài vị có phong cách tạo tác đồng nhất và có niên đại thế kỷ XVIII, thể hiện sự tôn thờ sâu sắc đối với các vị thần linh thiêng.
Hiện vật
- Bia đá có niên hiệu Chính Hòa 18 (1697)
- Ba cỗ long ngai có niên đại khoảng thế kỷ XVII
- Hai hương án gỗ có niên đại khoảng thế kỷ XVIII
Sự kiện và lễ hội
Lễ hội Đền Lác được tổ chức hằng năm vào tháng Giêng, thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách thập phương. Lễ hội bắt đầu vào ngày mùng 6 tháng Giêng với phần khai hội, sau đó vào ngày mùng 7 và mùng 8 là chính hội, khi các hoạt động lễ nghi diễn ra trang trọng và sôi nổi nhất. Đặc biệt, vào ngày mùng 9, lễ hội tiếp tục với các nghi thức tại đền Trúc Lâm, tạo nên một không gian linh thiêng và thanh tịnh.
Ngoài phần nghi lễ tôn nghiêm, lễ hội Đền Lác còn nổi bật với nhiều trò chơi dân gian vui nhộn, tạo không khí phấn khởi cho những ngày hội. Những trò chơi như vật, chọi gà, kéo co… không chỉ là dịp để người dân thi thố tài năng, mà còn là cơ hội để mọi người xích lại gần nhau, giao lưu và thể hiện tinh thần đoàn kết, vui tươi. Những hoạt động này luôn thu hút sự tham gia đông đảo của cả người dân địa phương và du khách từ khắp nơi, tạo nên một lễ hội đặc sắc, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.
Xếp hạng
Ngày 23/9/2014, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch đã xếp hạng đền Lác là Di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật quốc gia.
Tài liệu tham khảo
- Cổng thông tin điện tử huyện Ba Vì, Đền Lác – Di tích lịch sử cấp Quốc gia của huyện Ba Vì.
- Đền Lác (Ba Vì), Di tích lịch sử – văn hóa Hà Nội.