Tên gọi và vị trí địa lý
Từ Thị trấn Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, dọc theo quốc lộ 17B khoảng 10km về phía Nam là xã Lý Học, nơi tọa lạc của Di tích Quốc gia đặc biệt, gắn liền với tên tuổi, cuộc đời và sự nghiệp của vị Trạng nguyên triều Mạc Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm (hay còn gọi là đền quan Trạng, đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm) có sứ mệnh lịch sử đặc biệt, vừa là nơi để tri ân những đóng góp của vị danh nhân lỗi lạc trong lịch sử, vừa là địa điểm diễn ra các hoạt động, sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của nhân dân trong vùng.
Lịch sử và nhân vật
Nguyễn Bỉnh Khiêm 阮秉謙 (1491-1585) người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, trấn Hải Dương (nay là thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng), được biết đến nhiều vì tư cách đạo đức, tài thơ văn cũng như tài tiên tri các tiến triển của lịch sử Việt Nam.
Theo một số nguồn tư liệu, đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm được xây dựng sau khi ông mất và hoàn thành vào cuối năm 1586.
Ngày 28 tháng 11 năm Ất Dậu, niên hiệu Đoan Thái nguyên niên (1585), Nguyễn Bỉnh Khiêm tạ thế tại quê nhà ở tuổi 95, tuổi thọ hiếm có đương thời. Bấy giờ vua Mạc cử Phụ chính đại thần Ứng vương Mạc Đôn Nhượng cùng văn võ bá quan về lễ tang để tỏ sự trọng thị. Việc vua Mạc cử người được vua coi như cha về dự lễ tang đã nói lên sự trân trọng rất lớn của triều Mạc với Nguyễn Bỉnh Khiêm. Triều đình lại sai cấp ruộng tư điền trăm mẫu, đồng thời cấp ba nghìn quan tiền để lập đền thờ ông tại quê nhà. Đích thân vua Mạc đề chữ lên biển gắn trước đền thờ: “Mạc Triều Trạng nguyên Tể Tướng Từ”.(1)
Theo “Từ Vũ bi ký” lập năm Vĩnh Hựu thứ hai (1736) hiện lưu tại di tích, đền dựng từ sau khi ông mất, đến năm 1735, dân làng Trung Am, tổng Thượng Am đóng góp công của trùng tu, tôn tạo lại đền để thờ phụng.
Theo những ghi chép còn lưu lại thì đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp tục tồn tại ở thời Lê Trung Hưng, thế kỷ thứ XVII cho đến thời Nguyễn.
Vào năm 1928, đền tiếp tục được trùng tu, với kiến trúc chữ “đinh”, mang đậm phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.
Tháng 9/1985, ngôi đền được UBND thành phố Hải Phòng chỉ đạo tu sửa khuôn viên, đường xá.
Năm 1991, nhân kỷ niệm 500 năm sinh Nguyễn Bỉnh Khiêm, di tích được tu bổ, phục hồi, mở rộng, dựng tượng đài, lập quảng trường, xây hồ bán nguyệt, với quy mô và cảnh quan như hiện nay.
Đặc biệt vào cuối năm 2000, kỷ niệm 415 năm ngày mất của Trạng Trình, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng duyệt kế hoạch cho nâng cấp tạo dựng cả một vùng rộng lớn thành quần thể “Di tích danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm” tại thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
Kiến trúc cảnh quan
Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm được xây dựng trong một không gian văn hóa rộng lớn, hài hòa với cảnh quan thiên nhiên vùng cửa biển ven sông của quê hương Trung Am. Di tích quay mặt về hướng Đông, phía trước là hồ nước rộng, phía Bắc tựa vào triền đê và dòng Tuyết Giang lịch sử, phía Đông hướng ra biển, phía Nam là khu dân cư và phía Tây là những cánh đồng xanh. Tổng diện tích khu di tích khoảng 91.500,7m², bao gồm nhiều hạng mục kiến trúc gắn với cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Nghi môn ngoại
Nghi môn ngoại được xây dựng bằng đá, tạo dáng bề thế nhưng thanh nhã. Hai trụ chính giữa có đỉnh tạc hình quả dành dành cách điệu, hai trụ bên đắp tượng nghê chầu hướng vào trung tâm khu di tích. Phần đèn lồng trên thân trụ được chạm khắc các đề tài tứ linh, cuốn thư và hàm thư tinh xảo. Thân trụ khắc câu đối chữ Hán ca ngợi công lao, đức độ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, chân trụ tạo kiểu thắt đáy cổ bồng theo phong cách kiến trúc truyền thống.
Nghi môn nội
Nằm phía trong nghi môn ngoại, nghi môn nội có kiến trúc hai tầng tám mái với các đầu đao cong mềm mại. Trên mái và bờ nóc trang trí hình rồng, phượng cùng nhiều linh vật truyền thống. Mặt ngoài cổng đắp đại tự “Trung Am từ”, còn mặt trong đề ba chữ “Trình Quốc Công”, tôn vinh tước vị cao quý mà triều đình phong tặng cho Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Hồ Thái Ất và Hồ Thái Nhâm
Phía trước đền là hai hồ nước mang tên Thái Ất và Thái Nhâm, gắn với tư tưởng triết học và thuật số của Trạng Trình. Giữa hồ có đảo nhỏ được nối với bờ bằng cầu đá xanh năm nhịp. Thành cầu được chạm khắc hoa văn sóng nước mềm mại, tạo nên không gian thanh tịnh, thơ mộng. Trên đảo đặt bia đá ghi lại quá trình trùng tu và xây dựng đền thờ.
Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm
Đây là công trình trung tâm của khu di tích, được xây dựng theo mặt bằng hình chữ “Đinh”, gồm Tiền tế và Hậu cung.
Tiền tế
Tiền tế gồm ba gian hai chái, kết cấu bằng gỗ lim với 22 cột lớn và bốn bộ vì kèo. Bộ khung mang phong cách kiến trúc truyền thống kiểu “giá chiêng chồng rường”. Các cấu kiện gỗ được chạm khắc công phu với các đề tài lá lật, cánh sen, rồng mây, thủy ba, cá chép hóa long và hoa văn chữ triện. Nhiều chi tiết còn lưu dấu đợt tu sửa năm 1928 dưới triều vua Bảo Đại.
Hậu cung
Hậu cung là không gian linh thiêng nhất của đền, nơi đặt tượng và khám thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Công trình có kết cấu tường hồi bít đốc, hệ khung gỗ liên kết theo kiểu “ván mê” và “giá chiêng chồng rường”. Các mảng chạm trang trí thể hiện hình tượng lưỡng long chầu nhật, long mã, rùa, hoa sen và cây mai, biểu tượng cho trí tuệ, đạo đức và sự trường tồn.
Đền thờ thân phụ và thân mẫu Nguyễn Bỉnh Khiêm
Được xây dựng năm 2010, công trình nhằm tưởng niệm song thân của Trạng Trình là cụ Nguyễn Văn Định và cụ Nhữ Thị Thục. Đền có mặt bằng hình chữ “Công”, gồm Tiền tế, Ống muống, Hậu cung, hai dãy Tả vu – Hữu vu cùng hệ thống cổng Nam, cổng Bắc. Toàn bộ kiến trúc được dựng theo phong cách truyền thống với kết cấu gỗ, mái ngói vẩy và các hoa văn trang trí mang đậm mỹ thuật dân gian Việt Nam.
Am Bạch Vân
Am Bạch Vân là nơi Nguyễn Bỉnh Khiêm lui về ở ẩn, dạy học và sáng tác sau khi cáo quan. Đây cũng là nơi ông tiếp đón nhiều nhân vật chính trị quan trọng của thời đại đến tham vấn quốc sự. Công trình hiện nay được phục dựng năm 2004 trên nền cũ, gồm ba gian với hệ thống 24 cột gỗ. Các cấu kiện được trang trí bằng họa tiết lá lật, hoa sen, rồng cách điệu và trụ đấu hóa sen, thể hiện không gian thanh cao của một bậc đại nho.
Quán Trung Tân
Quán Trung Tân gắn liền với tư tưởng giáo dục và triết lý sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sau nhiều thế kỷ bị mất dấu, công trình được phục dựng năm 2001 bên bến đò Hàn. Quán gồm ba gian, diện tích khoảng 905,5m², là nơi tái hiện không gian sinh hoạt văn hóa và học thuật của Trạng Trình khi trở về quê mở trường dạy học.
Tháp bút Kình Thiên
Tháp bút Kình Thiên là biểu tượng tôn vinh tài năng và học vấn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Theo truyền thuyết, tháp được học trò dựng lên từ hơn bốn thế kỷ trước để ca ngợi trí tuệ của người thầy lớn như “cột chống trời”. Công trình hiện nay được phục dựng theo kiểu hai tầng tám mái, bên trong đặt bát hương thờ phụng. Các câu đối và đại tự trên thân tháp ca ngợi công lao, sự nghiệp văn hóa của Trạng Trình.
Mộ phần cụ Nguyễn Văn Định
Mộ phần thân phụ Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong khu vực di tích, giữa không gian đồng quê thanh bình của làng Trung Am. Cụ Nguyễn Văn Định là một nhà giáo có uy tín, từng theo học tại Quốc Tử Giám và được triều Mạc truy phong tước Thái Bảo Nghiêm Quận Công. Khu mộ hiện nay là địa điểm thể hiện truyền thống hiếu đạo và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.
Quảng trường, tượng đài và phù điêu
Quảng trường trung tâm là không gian sinh hoạt văn hóa lớn của khu di tích. Nổi bật tại đây là tượng đài Nguyễn Bỉnh Khiêm bằng đá granite cao 5,7m, nặng khoảng 8,5 tấn. Tượng khắc họa Trạng Trình trong tư thế ngồi, tay cầm bút và sách, biểu tượng cho trí tuệ, học vấn và tinh thần phụng sự đất nước.
Hai bức phù điêu lớn hai bên tượng đài tái hiện cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm và lịch sử phát triển của vùng đất Hải Phòng qua các thời kỳ. Không gian quảng trường hiện là nơi tổ chức các lễ hội truyền thống, hoạt động văn hóa, giáo dục và các sự kiện lớn nhằm tôn vinh di sản tư tưởng, văn hóa của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Hiện vật
Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm còn lưu giữ được một số cổ vật, có giá trị, niên đại từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, như: bản chúc, bát bửu, long ngai, bài vị, câu đối, đại tự.., trong đó đáng chú ý là Bia đá “Từ vũ bi kí…” thời Lê Trung Hưng, năm Vĩnh Hựu thứ hai (1736) đã bị mờ khá nhiều chữ, không đọc được toàn văn, nội dung bia nhắc đến việc dựng lại đền Nguyễn Bỉnh Khiêm vào năm 1736; Bát hương gốm men vàng nâu (thế kỷ XVIII)…
Ngoài ra, trong đền còn lưu giữ một tảng đá xanh hình khối chữ nhật, khắc 3 chữ Hán “Trường Xuân Kiều” (Cầu Trường Xuân), tương truyền do đích thân Nguyễn Bỉnh Khiêm viết khi khuyến khích nhân dân địa phương xây dựng cầu.
Điểm nhấn trong khu di tích là những bức tượng được tạc bằng đá với kích cỡ hệt như người thật, được sắp xếp một cách có chủ ý nhằm mô tả lại các khung cảnh đời thường trong cuộc sống của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, như: Cảnh dân làng mừng rỡ chào đón Trạng Trình từ quan trở về làng hay khi cụ ngồi giảng văn thơ cho các học trò….
Sự kiện và lễ hội
Lễ hội Đền Trạng Trình Kỷ niệm Ngày mất của Danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm được tổ chức từ ngày 27 – 29/11 âm lịch hàng năm, với những nghi thức như Lễ Mộc dục, Rước văn, Cáo yết và nhiều chương trình văn hoá văn nghệ của các địa phương (đấu vật, cờ tướng, múa tứ linh, đua thuyền, pháo đất, đu sòng/đu tiên, múa rối cạn, rối nước). Lễ hội là dịp quảng bá, tuyên truyền, giới thiệu về thân thế, sự nghiệp, công lao của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, khơi dậy niềm tự hào dân tộc, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, giá trị của Khu di tích Quốc gia đặc biệt Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Bên cạnh đó, hàng năm, nhân dịp khai giảng năm học mới, thành phố Hải Phòng còn tổ chức Lễ biểu dương học sinh – sinh viên tiêu biểu xuất sắc, ngay tại đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đây là nét văn hóa mới, thể hiện truyền thống tôn sư trọng đạo, giáo dục về tấm gương sáng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tạo động lực cho thế hệ trẻ phấn đấu trên bước đường học tập và lập nghiệp.
Xếp hạng
Với những giá trị đặc biệt tiêu biểu, di tích lịch sử Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm (huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng) được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt (tại Quyết định số 2367/QĐ-TTg ngày 23/12/2015 ).
Chú thích
- PSG.TS Vũ Trọng Lâm, Một số di tích tiêu biểu ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia sự thật, 2016, tr 77.
Tham khảo
- PSG.TS Vũ Trọng Lâm (2016), Một số di tích tiêu biểu ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia sự thật.
- Khắc Đoài, Di tích lịch sử Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm, website Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch – Cục di sản văn hóa.
__________________________
Các ngôn ngữ khác
1. English
Name and Geographical Location
From Vinh Bao Town, Hai Phong City, travel about 10 km south along National Highway 17B to reach Ly Hoc Commune, home to a Special National Relic associated with the life and career of the Mac-dynasty Grand Chancellor and Top Graduate (Trang nguyen) Nguyen Binh Khiem.
The Nguyen Binh Khiem Temple (also called the Temple of the Grand Chancellor / Temple of Trang Trinh Nguyen Binh Khiem) serves a special historical mission: a place to honor the eminent scholar and a living venue for local cultural–spiritual activities.
History and Figures
Nguyen Binh Khiem (1491–1585), from Trung Am Village, Vinh Lai District, Hai Duong Province (today Trung Am Hamlet, Ly Hoc Commune, Vinh Bao District, Hai Phong), is renowned for his moral virtue, poetry, and prescient insights into Vietnam’s historical course.
According to sources, the temple was built after his passing and completed in late 1586.
On 28 November, Year At Dau, era name Doan Thai 1 (1585), he passed away at age 95. King Mac dispatched Regent Prince Ung Vuong Mac Don Nhuong and court officials to attend the funeral—signifying the dynasty’s high respect. The court granted 100 mau of private fields and 3,000 strings of cash to found a temple in his native village; the king himself inscribed the temple board: “Mac Trieu Trang nguyen Te Tuong Tu.”(1)
As recorded on the stele “Tu Vu Bi Ky” (Vinh Huu 2, 1736) preserved on site, the temple was erected after his death and repaired in 1735 by the people of Trung Am. The sanctuary continued through the Later Le and Nguyen periods.
In 1928 it was restored in a “ding-shaped” (丁) ground plan, bearing late-Nguyen artistic style.
In September 1985, Hai Phong authorities repaired the grounds and access.
In 1991, marking his 500th birth anniversary, the relic was comprehensively restored and expanded: a statue square, a semicircular lake, and today’s landscape were added.
In late 2000, for the 415th death anniversary, Hai Phong approved upgrading the wider “Nguyen Binh Khiem Cultural Celebrity Relic Complex” at Trung Am, Ly Hoc.
Architecture and Landscape
The temple faces east amid a vast setting: a lake in front; to the north the dyke and Tuyet River; to the east the open sea; to the south villages; to the west rice and tobacco fields.
Total protected area: 91,500.7 m² (Zone I: 3,137.5 m²; Zone II: 88,327.2 m²), including:
- Nguyen Binh Khiem Temple: ground plan in ding-shape (丁) with a three-bay Front Hall (Tien te) + two lean-to bays and a two-bay Rear Sanctuary (Hau cung) with gable-wall ends.
- Temple of his Parents: begun 2010, ground plan in gong-shape (工) comprising Front Hall, Connecting Vestibule, Rear Sanctuary, two Side Corridors (Ta/Huu mac), and South/North Gates.
- Bach Van Hermitage: built after his retirement; once his residence and school where he received envoys of the Mac, Trinh, and Nguyen. Ruined by time, it was rebuilt in 2004 with a yi-shape (一) plan, three bays, four frame-trusses, 24 pillars.
- Trung Tan Pavilion: erected after his retirement for teaching.
- But Kinh Thien Stela-Tower: total area 845.5 m²; tradition says his disciples raised it over 400 years ago to laud the master’s talent as a “pillar propping up the sky.”
- Tomb of Nguyen Van Dinh: his father (style name Cu Xuyen), titled Thai Bao Nghiem Quan Cong by the Mac.
- Square and Statue: a 5.7 m-high, 8.5-ton granite seated statue of Nguyen Binh Khiem (pen in right hand, book in left, Confucian robe). Two reliefs (each >5 m high, >20 m long) narrate his life and local history. In front lies a 1,000 m² semicircular lake.
Objects
The temple preserves artifacts from the 17th–early 20th centuries: ritual boards, Eight Treasures set, dragon-throne, spirit tablets, couplets, great plaques, etc. Notable is the “Tu Vu Bi Ky” stele (Vinh Huu 2, 1736) mentioning reconstruction that year; a brown-yellow glazed ceramic incense burner (18th c.).
A rectangular green-stone block incised with “Truong Xuan Kieu” (Truong Xuan Bridge) is traditionally said to bear Nguyen Binh Khiem’s own calligraphy encouraging locals to build the bridge.
Life-size stone sculptures vividly depict everyday scenes of the sage’s return and his teaching.
Events and Festivals
The Trang Trinh Temple Festival (27–29 of the 11th lunar month) commemorates Nguyen Binh Khiem with rites (Ablution, Procession of Writings, Announcement to the Spirits) and folk programs (wrestling, xiangqi, four-beast dance, boat racing, earth-fire crackers, swing, dry- and water-puppetry). The festival promotes his legacy and the values of this Special National Relic.
Each new school year, Hai Phong also holds a ceremony here honoring outstanding students—nurturing respect for learning and the sage’s example.
Classification
For its outstanding value, the Nguyen Binh Khiem Temple (Vinh Bao District, Hai Phong City) was recognized as a Special National Relic by the Prime Minister’s Decision 2367/QD-TTg dated 23 December 2015.
2. Français
Nom et Localisation géographique
Depuis la ville de Vinh Bao (Hai Phong), on parcourt env. 10 km vers le sud par la RN 17B pour atteindre la commune de Ly Hoc, où se trouve le site classé spécial national associé à la vie et à l’œuvre du grand lettré Nguyen Binh Khiem.
Le Temple de Nguyen Binh Khiem (dit aussi Temple du Grand Chancelier / de Trang Trinh) remplit une mission historique : rendre hommage au savant et accueillir les pratiques culturelles et cultuelles de la communauté.
Histoire et Personnages
Nguyen Binh Khiem (1491–1585), originaire de Trung Am (auj. hameau de Trung Am, commune de Ly Hoc), est célèbre pour sa probité, sa poésie et ses prédictions historiques. Le temple fut bâti après son décès et achevé fin 1586.
Le 28 novembre 1585 (ère Doan Thai, an 1), le maître s’éteignit à 95 ans. Le roi Mac dépêcha le prince-régent Ung Vuong Mac Don Nhuong et la Cour aux funérailles ; il octroya 100 mau de terres et 3 000 ligatures de monnaie pour fonder le temple et apposa de sa main la planche-inscription : « Mac Trieu Trang nguyen Te Tuong Tu ». (1)
La stèle « Tu Vu Bi Ky » (Vinh Huu 2, 1736) atteste une restauration en 1735 par les villageois de Trung Am. Le sanctuaire perdura sous les Le postérieurs et les Nguyen.
En 1928, restauration en plan en « ding » (丁), de style Nguyen tardif.
En 1985, réaménagement des abords ; en 1991, pour les 500 ans de sa naissance : élargissement, statue, place et lac semi-circulaire.
Fin 2000, la ville approuva l’extension en « Complexe du Célèbre Nguyen Binh Khiem » à Trung Am.
Architecture et Paysage
Le temple fait face à l’est : lac à l’avant ; digue et Tuyet Giang au nord ; mer à l’est ; villages au sud ; rizières et tabac à l’ouest.
Surface protégée : 91 500,7 m² (Zone I : 3 137,5 m² ; Zone II : 88 327,2 m²), comprenant :
- Temple de Nguyen Binh Khiem : plan en « ding » (丁) : Avant-halle à 3 travées + 2 appentis et Sanctuaire arrière à 2 travées (pignons pleins).
- Temple des Parents : lancé en 2010, plan en « gong » (工) : Avant-halle, Vestibule, Sanctuaire arrière, Deux galeries latérales (Ta/Huu mac), Portes sud et nord.
- Ermitage Bach Van : résidence et école du maître après son retrait ; ruiné puis reconstruit en 2004 : plan en « yi » (一), 3 travées, 4 fermes, 24 piliers.
- Pavillon Trung Tan : élevé pour l’enseignement.
- Tour-stèle But Kinh Thien : 845,5 m² ; selon la tradition, ses disciples l’élevèrent il y a plus de 400 ans.
- Tombe de Nguyen Van Dinh : père du maître, titré Thai Bao Nghiem Quan Cong.
- Place et statue : statue assise en granit (5,7 m, 8,5 t), stylet en main ; deux bas-reliefs (>5 m × >20 m) ; lac en demi-lune de 1 000 m².
Objets
Conservés : planches rituelles, « huit trésors », trône, tablettes, couplets, grands cartouches (XVIIe–début XXe s.). Remarquable : stèle « Tu Vu Bi Ky » (1736) mentionnant la réédification ; brûle-parfum céramique brun-jaune (XVIIIe s.).
Pierre verte rectangulaire gravée « Truong Xuan Kieu » (Pont Truong Xuan), attribuée à la main du maître.
Des sculptures grandeur nature illustrent scènes de vie : retour au village, cours donnés aux disciples.
Événements et Festivals
La Fête du Temple de Trang Trinh (du 27 au 29 du 11ᵉ mois lunaire) comprend : ablutions rituelles, procession des écrits, annonce aux esprits, et jeux/arts populaires (lutte, xiangqi, danse des quatre bêtes, courses de bateaux, pétards de terre, balançoires, marionnettes). La ville organise aussi chaque rentrée une cérémonie d’hommage aux meilleurs élèves sur le site.
Classement
Classé Site national spécial par la Décision 2367/QD-TTg du 23 décembre 2015.
3. 中文(繁體)
名稱與地理位置
自海防市永保鎮沿17B 國道南行約 10 公里至黎學社,即阮秉謙(號「狀程」)之全國特別級古蹟所在地。
阮秉謙祠(亦稱狀元祠/狀程祠)肩負雙重使命:既崇祀偉大先賢,亦為地方民眾之文化與信仰活動中心。
歷史與人物
阮秉謙(1491–1585),海陽省中菴人(今海防市永保縣黎學社中菴村),以德行、詩文與洞鑒時勢著稱。據載祠於其卒後興建,於 1586 年歲末落成。
1585 年 11 月 28 日(端泰元年乙酉),公以 95 歲高齡卒於鄉里。莫朝遣輔政大臣應王莫敦讓率百官赴弔,並撥給百畝私田與三千貫創祠;國王親題匾額「莫朝狀元宰相祠」。(1)
祠中現存**「祠宇碑記」(永祐二年 1736)稱:公沒後立祠,1735 年由中菴社眾修葺。祠延續於後黎與阮朝**。
1928 年再修,採**「丁」字形平面,具阮末藝風。
1985 年整修園區;1991 年逢誕辰 500 週年大規模修復、擴建廣場與半月湖**。
2000 年末,值公逝 415 週年,海防市核定中菴**「阮秉謙文化名人古蹟群」**整體升級。
建築與景觀
祠坐東向,前臨湖;北為堤與雪江;東望滄海;南接村落;西為稻田與菸田。
保護總面積 91,500.7 平方公尺(I 區 3,137.5;II 區 88,327.2),其要項如下:
- 阮秉謙祠本殿:「丁」字形,三間前殿(外加二披)與二間後殿(封火山牆)。
- 雙親祠:2010 年興工,「工」字形,含前殿、聯廊、後殿、左右廊廡(左/右幕)與南北門。
- 白雲菴:公致仕後之居與講學處。歷劫圮毀,2004 年復建,「一」字形三間,四架梁、二十四柱。
- 中津館:公歸隱後所建之講學亭。
- 筆擎天塔:845.5 平方公尺,傳為門人四百餘年前所立,以喻師德「擎天」。
- 阮文定墓:公之父,號鳩川先生,蒙莫朝封太保嚴郡公。
- 廣場與像:花崗岩坐像高 5.7 公尺、重 8.5 噸,右手執筆左手持書。側立二幅浮雕(高逾 5 公尺、長逾 20 公尺),分述公生平與地方史;像前為 1,000 平方公尺之半月湖。
文物
祠藏十七至二十世紀初之文物:祝板、八寶、龍座、神位、楹聯、匾額等。重點為永祐二年(1736)「祠宇碑記」,載同年重修事;十八世紀褐黃釉香爐等。
另存長方形青石一塊,陰刻三字**「長春橋」,相傳為公親筆,勸民建橋。
園中並陳列等身石雕**,再現公歸里受迎與授徒講學之日常景致。
節慶與活動
狀程祠廟會每年農曆十一月二十七日至二十九日舉行:有沐浴神像、迎文、告祭等禮儀,並設摔角、象棋、四靈舞、賽舟、土炮、盪鞦韆、傀儡(旱/水)等民俗節目。
每逢新學年,海防市並於此舉辦優秀學子表彰禮,弘揚尊師重道與公之典範。
等級與保護
本祠以卓越價值,經首相2367/QD-TTg(2015-12-23)決定,列入全國特別級古蹟。
