Đền Xưa (Cẩm Giàng, Hải Dương)

Đền Xưa (Cẩm Giàng, Hải Dương)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đền Xưa thuộc thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

Lịch sử và nhân vật

Đền Xưa, được xây dựng vào khoảng thế kỷ XVII, là một di tích văn hóa có giá trị lịch sử sâu sắc. Đến thời kỳ Nguyễn, di tích này đã được trùng tu hai lần vào các năm Thành Thái nhị niên (1890) và Bảo Đại thứ 3 (1929), nhằm bảo tồn và tôn vinh giá trị của đền thờ. Đền thờ Đại danh y Tuệ Tĩnh, một trong những người có đóng góp to lớn cho nền y học dân tộc Việt Nam.

Tuệ Tĩnh, tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh, sinh năm 1330 tại làng Nghĩa Phú, tổng Văn Thai, phủ Thượng Hồng (nay thuộc thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương). Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, ông được sư trụ trì chùa Nghiêm Quang (hay còn gọi là Chùa Giám) đón về nuôi dưỡng. Tuổi thơ của ông gắn liền với chốn thiền môn, nơi ông học tập và trưởng thành.

Khi 22 tuổi, Tuệ Tĩnh đỗ Tiến sĩ, nhưng ông đã từ chối các chức vụ quan trọng để quay về chùa, dành hết tâm sức nghiên cứu y học và dược liệu. Ông theo đuổi phương châm: “Nam dược trị Nam nhân” (thuốc Nam chữa bệnh cho người Nam), nhấn mạnh việc sử dụng các cây thuốc quý trong tự nhiên của đất nước để chữa bệnh. Tuệ Tĩnh đã nghiên cứu và kết hợp những tinh hoa từ triết lý y học Trung Hoa với các cây thuốc dân tộc, tạo ra tác phẩm nổi tiếng Nam dược thần hiệu – Hồng nghĩa giác y thư, trong đó ghi lại 580 vị thuốc Nam và 3.873 phương thuốc chữa trị 184 loại bệnh cho người Việt.

Năm 55 tuổi, Tuệ Tĩnh được cử đi sứ sang Trung Quốc, ông chữa khỏi bệnh cho Tống Vương Phi của vua Minh. Chính nhờ tài năng y học vượt trội, ông được vua Minh phong làm Thái y, đồng thời giữ lại làm việc tại Viện Thái y. Cuối đời, Tuệ Tĩnh qua đời tại Giang Nam, Trung Quốc.

Cuộc đời và sự nghiệp của Tuệ Tĩnh không chỉ để lại những di sản quý báu trong lĩnh vực y học và dược học, mà còn thể hiện tinh thần tự tôn dân tộc và lòng yêu quê hương đất nước. Những đóng góp của ông trong việc phát triển y học dân tộc và y đức đã trở thành nguồn cảm hứng và là bài học quý giá cho các thế hệ mai sau.

Kiến trúc và cảnh quan

Di tích Đền Xưa hiện nay có mặt tiền quay về hướng Bắc, mang đậm giá trị văn hóa và kiến trúc truyền thống. Khi đến thăm di tích, du khách sẽ bắt đầu hành trình từ Nghi môn tứ trụ, được làm bằng đá xanh, với các họa tiết trang trí hình phượng, lân và chữ “thọ” cách điệu ở trên và xung quanh. Đây là điểm khởi đầu ấn tượng, mở ra không gian của sự trang nghiêm và linh thiêng.

Qua Nghi môn, du khách bước vào một khoảng sân rộng lát gạch vuông đỏ, với hai giếng tròn đăng đối, đường kính khoảng 25m, nằm hai bên. Tương truyền, giếng ban đầu được làm bằng đất, sau này được kè lại bằng gạch nghiêng, và đến năm 2006, giếng được trùng tu bằng đá. Xung quanh giếng là tường bao bảo vệ, được trang trí hoa lá cách điệu, tạo điểm nhấn thẩm mỹ cho khuôn viên di tích. Bên phải sân là cây đa cổ thụ xanh tốt, tỏa bóng mát quanh năm, tạo ra một không gian tĩnh lặng và mát mẻ.

Qua khoảng sân và bậc Tam cấp bằng đá xanh, du khách sẽ đến tòa Tiền tế, một công trình gồm 5 gian 2 dĩ theo kiểu 2 tầng tám mái. Các mái đao cong vút, uyển chuyển, được trang trí tinh xảo với hình tượng Rồng chầu Phượng mớm và lá lật cách điệu. Bờ nóc của tòa Tiền tế được trang trí hình Lưỡng long chầu nhật, thể hiện sự tài hoa và khéo léo của các nghệ nhân. Tại gian trung tâm của tòa Tiền tế, có Nhang án, Ngai và Tượng thờ Đại danh y Tuệ Tĩnh. Phía trên là bức Hoành phi lớn mang dòng chữ “Tế thế trạch dân” (cứu đời giúp dân) và đôi câu đối ca ngợi công lao của Tuệ Tĩnh: “Danh khôi nhị giáp tiêu Trần giám / Sứ mệnh thập toàn tỉnh Bắc y”, ghi nhận tài năng và sự nghiệp y đức của ông.

Sau tòa Tiền tế, du khách sẽ đến một khoảng sân nhỏ lộ thiên với hòn non bộ kiểu tam sơn, tiếp đó là tòa Hậu cung. Tòa Hậu cung có 3 gian, kích thước 9,7m x 7,5m, xây theo kiểu 2 tầng tám mái nhưng bít đốc bổ trụ. Trên bờ nóc cũng được đắp hình Lưỡng long chầu nhật, với các nét đắp mềm mại và tinh xảo. Mái lợp ngói mũi truyền thống, kết cấu vì chính theo kiểu Con chồng giá chiêng. Hệ thống cột, cửa, và các chi tiết gỗ đều được chạm khắc hình Rồng, Phượng, vân mây, hoa lá cách điệu, được sơn son thếp vàng, tạo nên không gian uy nghiêm và linh thiêng.

Tòa Hậu cung còn có 3 ban thờ, với tượng thờ Đại danh y Tuệ Tĩnh bằng đồng đen, ngai và bài vị thờ Tiến sĩ Nguyễn Danh Nho và Thổ công. Bên cạnh tòa Tiền tế và Hậu cung là hai nhà Chè, mỗi bên gồm hai gian nhỏ, diện tích 3x4m, được làm bằng gỗ lim chắc chắn, phục vụ cho việc tiếp khách và ghi nhận công đức. Các công trình này nối liền với tòa Tiền tế và Hậu cung, tạo thành một không gian hoàn chỉnh, đăng đối và đồng bộ. Có 3 bức Hoành phi và 3 đôi câu đối ca ngợi công lao của Đại danh y Tuệ Tĩnh. Đặc biệt, bức Hoành phi lớn “Xuân đài thọ vực” (Tòa nhà Xuân, cõi thọ) và các bức Hoành phi “Nam dược trị nam nhân” (Dùng thuốc Nam trị bệnh cho người Nam) và “Nam dược Thánh từ” (Đền thờ Đức thuốc Nam) đều tôn vinh sự nghiệp y đức và những đóng góp vĩ đại của ông.

Ngoài những công trình chính, trong khuôn viên di tích còn có hai nhà giải vũ nằm ở phía Tây Nam, được làm bằng gỗ lim, gồm 5 gian. Tất cả các công trình này đều được xây dựng khéo léo và tinh xảo, mang đậm giá trị văn hóa và kiến trúc dân gian, tạo nên một không gian thờ tự linh thiêng, trang trọng.

Hiện vật

Hiện tại di tích còn lưu giữ khoảng 50 cổ vật có giá trị, trong đó có một số cổ vật đáng chú ý như: 

  • 02 sập đá có niên đại thời Hậu Lê, chân tảng đá thời Hậu Lê.
  • 01 Chuông đồng đúc năm Tự Đức thứ 8 (1855).
  • 05 Sắc phong cho Tuệ Tĩnh vào các thời Thiệu Trị thứ 6 (1846) và Tự Đức thứ 3 (1850), Duy Tân năm thứ 3 (1909). Khải Định năm thứ 9 (1924) và Bảo Đại năm thứ 15 (1940).
  • 01 tượng đồng Đại danh y Tuệ Tĩnh đức năm 2005.
  • 01 bức hoành phi có niên hiệu Tự Đức (1849).
  • Đôi câu đối có niên đại Mậu Ngọ 1918.
  • Cùng hệ thống Hoành phi, Câu đối, Ngai, Bài vị, Tượng, Nghê đá có niên đại thời Hậu Lê, Nguyễn có giá trị cũng đang được lưu giữ cẩn trọng tại di tích.

Sự kiện và lễ hội

Hội đền Xưa được tổ chức vào ngày 15 tháng 2 Âm lịch hàng năm với mong muốn bảo tồn, phát huy, làm giàu thêm những giá trị di sản văn hóa của đền Xưa trao truyền qua nhiều thế hệ. Đây là dịp để nhân dân và du khách bày tỏ lòng kính trọng, tôn vinh y đức của Đại danh y – Thiền sư Tuệ Tĩnh, và thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn.

Trong lễ hội, nhiều trò chơi truyền thống được tổ chức ngay tại sân đền, thu hút đông đảo người tham gia, đặc biệt là thanh niên và trung niên. Những trò chơi như tổ tôm, tam cúc, cờ người, đập niêu, bịt mắt bắt dê, cầu kiều… đều là những hoạt động vui tươi, mang đậm bản sắc văn hóa dân gian, giúp gắn kết cộng đồng và tạo không khí sôi động, vui vẻ.

Ngoài các trò chơi dân gian, lễ hội còn diễn ra các hoạt động diễn xướng dân gian và giao lưu văn nghệ, thu hút sự tham gia của nhiều đoàn nghệ thuật từ khắp nơi. Đây là cơ hội để mọi người giao lưu, trao đổi văn hóa và thưởng thức những tiết mục đặc sắc, góp phần làm phong phú thêm không gian văn hóa của lễ hội.

Với sự tham gia chủ yếu của thanh niên và trung niên, Hội đền Xưa không chỉ là dịp để mọi người vui chơi, mà còn là cơ hội để các thế hệ trẻ tiếp nối và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống, qua đó tạo nên một không gian gắn kết giữa quá khứ và hiện tại.

Xếp hạng

Di tích Đền Xưa được Nhà nước xếp hạng di tích quốc gia năm 1990 và di tích quốc gia đặc biệt năm 2007.

Tài liệu tham khảo

  1. Di tích Quốc gia đặc biệt: Cụm Di tích Đền Xưa – Chùa Giám – Đền Bia, Cổng thông tin điện tử huyện Cẩm Giàng.
  2. “Đền Xưa”, Viện Nghiên cứu Truyền thống và Phát triển.
  3. Hoàng Huy, “Hải Dương: Long trọng tổ chức Lễ hội truyền thống đền Xưa”, báo Tuổi trẻ thủ đô, ngày 14/03/2025.
  4. “Lễ hội truyền thống đền Xưa – Tưởng nhớ Đại danh y Thiền sư Tuệ Tĩnh”, Đài phát thanh truyền hình Hải Dương, ngày 06/03/2023.
5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)