Tên gọi và vị trí địa lý
Đình Bá Dương tọa lạc tại làng Bá Dương, xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng, Hà Nội (nay là xã Liên Minh, Thành phố Hà Nội)). Xa xưa, đình còn được gọi là đình Bá Giang, miếu Bá Giang hay miếu thờ Tướng quân Nguyễn Cả.
Xã Hồng Hà nằm ở phía bắc huyện Đan Phượng, nằm bên tả ngạn sông Hồng, phía đông bắc giáp huyện Mê Linh, phía đông giáp xã Liên Hồng, phía Tây giáp xã Trung Châu, phía nam giáp xã Hạ Mỗ. Vào đầu thế kỷ XIX, xã Hồng Hà thuộc tổng Thượng Trì, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Dưới thời Nguyễn, Hồng Hà thuộc tổng Thượng Trì, tỉnh Hà Đông. Trong thời kỳ kháng chiến thực dân Pháp, mang tên xã Hồng Thái, huyện Liên Bắc, tỉnh Hà Đông. Sau hoà bình lập lại (từ năm 1954 đến năm 1975), xã Hồng Hà thuộc huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông. Từ năm 1975 đến 1979 thuộc tỉnh Hà Sơn Bình, từ 1979 đến 1991 thuộc Thành phố Hà Nội, từ 1991 đến tháng 7/2008 thuộc tỉnh Hà Tây, sau lại sáp nhập về Thành phố Hà Nội.
Bá Dương – Kẻ Bá là vùng đất cổ ven sông Nhị, vùng đất còn in đậm nét về truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của ông cha ta qua hàng ngàn năm lịch sử.
Lịch sử và nhân vật
Căn cứ vào những tư liệu ghi chép hiện còn trong di tích thì đình Bá Dương thờ Tướng quân Nguyễn Cả – người đã có công giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước, duy trì nền tự chủ ở thế kỷ X. Hồng Hà chính là quê hương của ông.
Nguyễn Cả sinh ngày 16 tháng 2 năm Bính Thân trong một gia đình nghèo khổ. Lúc nhỏ ở với mẹ, vì nhà nghèo nên ông phải làm đủ mọi việc để kiếm sống. Năm ông 12 tuổi, ông được mẹ cho đi học, vốn bản tính thông minh, ham học hỏi nên ông nổi danh là người có tài quảng đại văn chương, võ nghệ tinh thông. Năm 20 tuổi, gặp lúc trộm cướp quấy nhiễu, Nguyễn Cả đã tập hợp trai tráng trong làng cùng nhau canh phòng, bảo vệ làng xóm.
Năm 965, sau khi Ngô Xương Văn chết, đất nước rơi vào tình trạng hỗn chiến, các thế lực phong kiến nổi lên phân tán cát cứ. Trước tình hình đó, Tháng 11 năm Nhâm Dần, Đinh Bộ Lĩnh đứng lên khởi binh. Ông sai Đinh Điền đến mời Nguyễn Cả tham gia khởi nghĩa. Nguyễn Cả được Đinh Bộ Lĩnh phong làm tướng quân, đem quân đi đánh dẹp các sứ quân. Sau gần 3 năm, khi đã dẹp loạn các sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi phong thưởng cho các công thần, Nguyễn Cả được phong làm Tổng suý Thượng tế đại tướng quân cùng ban thưởng vàng bạc, của cải và cho hưởng thực ấp tại Bá Dương.
Nguyễn Cả là vị quan chính trực, ngay thẳng. Ông làm quan chẳng được bao lâu, gặp cảnh triều đình suy thoái, gian thần nhũng loạn, gây nhiều cảnh oán thán trong dân. Ông đã nhiều lần can ngăn vua Đinh nhưng không được. Vì vậy, ông xin từ quan về quê. Sau khi ông mất, vua Đinh đã sai sứ đem sắc chỉ về Bá Dương làm lễ mai táng và cho lập đền thờ ông làm Thành hoàng làng.
Trải qua các triều đại, Nguyễn Cả đều được gia phong mỹ tự. Hiện trong đình còn nhiều đôi câu đối ca ngợi công lao, sự nghiệp của ông:
Nguyên văn chữ Hán
興 運 祭 扶 玎 一 統 山 河 自 此
戰 功 還 解 夾 千 年 廟 宇 至 今
Phiên âm
Hưng vận tế phù Đinh nhất thống sơn hà tự thử
Chiến công hoàn giải giáp thiên niên miếu vũ chí kim.
Dịch nghĩa
Giúp nhà Đinh giấy vận nước, từ đây non sông thống nhất
Sau chiến thắng giải giáp, nghìn năm đền miếu vẫn còn đây.
Hay:
Nguyên văn chữ Hán
生 前 昔 著 玎 朝 帥
化 後 靈 昭 柏 邑 神
Phiên âm
Sinh tiền tích trứ Đinh triều suý,
Hoá hậu linh chiêu Bá ấp thần.
Dịch nghĩa
Khi sống triều Đinh lừng tướng giỏi,
Hoá rồi ấp Bá rạng thần thiêng.
Theo các cụ cao niên trong làng thì đình Bá Dương khởi nguồn từ một ngôi miếu, là miếu được xây dựng trên một bãi đất bồi ngoài đê sông Hồng. Năm 1952, bãi sông bị lở nhân dân địa phương đã chuyển ngôi miếu vào vị trí hiện nay, từ đó di tích mang chức năng của ngôi đình làng.
Kiến trúc cảnh quan
Tổng thể kiến trúc đình gồm các hạng mục: Nghi Môn, Tả – Hữu Mạc, Tiền Tế, Đại Đình, Ống Muống và Hậu Cung.
Nghi Môn đình được xây theo dạng tứ trụ, hai trụ chính cao khoảng 7m, đỉnh trụ đắp hình chái giành cách điệu, thân trụ tạo gờ nổi, bổ khung ghi câu đối bằng chữ Hán.
Bước qua Nghi Môn là một khoảng sân rộng, hai bên là Tả – Hữu Mạc, mỗi bên 3 gian xây đơn giản. Tiếp đến là Tiền Tế gồm 5 gian kiểu đầu hồi bít đốc, mái ngói ta, các bộ vì được làm dạng chồng rường cột trốn đặt trên các thanh quá giang vượt, gối đầu vào cột đá.
Đại Đình là một toà nhà 5 gian xây kiểu đầu hồi bít đốc, mái ngói mũi hài, bên trong các bộ vì được làm dạng chồng rường giá chiêng, mặt bằng gồm 3 hàng chân. Đáng lưu tâm là nghệ thuật trang trí được tập trung chủ yếu trên hai bộ vì gian giữa như đầu dư, cốn nách với các đề tài “tứ linh”, “tứ quý”, vân mây, sóng nước, sư tử hí cầu, rồng lá, lão mai hoá rồng… với những đường nét tinh tế và khéo léo mang đậm phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.
Ống Muống là tòa nhà 2 gian nối với 3 gian Hậu Cung. Phía trên các gian đều treo hoành phi, câu đối, cửa võng tự tạo sự trang nghiêm và linh thiêng cho di tích.
Hiện vật
Hiện nay, đình vẫn lưu giữ được hệ thống di vật đa dạng và phong phú về thể loại cũng như chất liệu từ gỗ, đồng, đá,… Đặc biệt, hiện đình còn lưu giữ 9 đạo sắc phong cho tướng quân Nguyễn Cả, trong đó có 3 đạo sắc thời Lê, 1 sắc thời Tây Sơn và 5 sắc thời Nguyễn; bộ kiệu giá ngự được tạo tác theo phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII cùng nhiều bia đá, hoành phi, câu đối, cửa võng, khám thờ,… được chạm khắc khéo léo, tinh tế. Ngoài những giá trị về mặt văn hoá, nghệ thuật, thẩm mỹ, điêu khắc chúng còn là nguồn sử liệu minh chứng cho quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của di tích qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau.
Lễ hội
Khi từ quan về quê, tướng quân Nguyễn Cả dạy dân làng làm ăn, lúc rảnh rỗi lại bày trò vui chơi thả diều. Bởi vậy, sau cứ đến ngày 15 tháng 3 Âm lịch, dân làng Bá Dương đều tổ chức hội thi thả diều nhằm tưởng nhớ công lao của Thành hoàng làng với quê hương, đất nước. Đây là một lễ hội đặc sắc và độc đáo nhất trong vùng.
Công tác làm diều chuẩn bị cho lễ hội thường được tiến hành từ tháng 8 năm trước. Diều làng Bá Giang là diều cánh chanh hình trăng khuyết, có gắn thêm sáo bằng gỗ hoặc bằng trúc, tiếng trong vi vút. Để làm ra những con diều đẹp, người ta chọn tre, mua giấy, khoét sáo, chuốt dây… rất tỉ mỉ, công phu. Xưa kia, dây diều làm bằng tre bánh tẻ vót chuốt đều, nối dài, rồi cuộn lại, ngâm vào nước quả cây chuối hột và muối, ninh sôi trong nồi ba mươi mốt ngày trời, thành dây vừa dai vừa mềm. Làm sáo diều bằng cách dùng nan tre đan thành ống, sau đó dùng sơn ta đun mà gắn với miệng sáo khoét bằng gỗ vàng tâm. Chiếc sáo vừa nhẹ, lại có tiếng vừa thanh vừa ấm. Giấy dán diều xưa kia bồi bằng giấy bản. Ngày nay, dây diều là dây ni lông, diều càng nhẹ càng dễ bay cao.
Rằm tháng 3 Âm lịch, hội thi diều bắt đầu. Trước tiên, tổ chức tế lễ, rước bánh dầy tưởng nhớ thần linh. Sau đó là cuộc thi diều. Một người khéo tay nhất làng được cử làm một chiếc diều tượng trưng to nhất, dài 5m, rộng 1,5m dán giấy hồng điều, trên cánh diều có đề bài thơ:
Gió hát trăng thanh hồn non nước
Sải cánh diều bay nhạc sáo ngân
Khí thiêng tướng Cả lưu truyền thống
Anh hùng rạng rỡ sáng lòng dân.
Mở đầu cuộc thi là lễ trình diều. Mọi người dự thi đều mang diều đến trình trước cửa đình. Mỗi năm có khoảng năm, sáu chục người dự thi, đa số là người Bá Giang, ngoài ra còn có thêm người ở các vùng lân cận như Hạ Mỗ, Tân Hội, Liên Trung tham gia… Diều dự thi thường dài từ 1 đến 3 mét. Hội diều diễn ra chừng hai giờ đồng hồ thì một số diều bị đứt dây, tự loại khỏi cuộc thi. Ban tổ chức Hội thi tập trung ở đền Châu Trần (cạnh đình Bá Dương). Đến lúc chuẩn bị kết thúc cuộc thi, những người ứng thí lùa dây diều vào buộc ở hàng cột trước cửa đền Châu Trần, sao cho con diều trên cao ứng với đình thờ ông Nguyễn Cả. Căn cứ vào mức độ bay cao của diều, diều bay ổn định không chao đảo và tiếng sáo hay, vang xa mà Ban Tổ chức chấm điểm, trao giải Nhất, Nhì, Ba… Sau khi hội thi kết thúc, những con diều vẫn tiếp tục được bay đến tận đêm khuya hoặc sáng hôm sau.
Xếp hạng
Đình Bá Dương được Bộ Văn hoá xếp hạng theo Quyết định số 993VH/QĐ ngày 28/9/1990.
Tài liệu tham khảo
- Minh Nhương, “Tướng quân Nguyễn Cả”, Tạp chí Người Hà Nội online, ngày 14/10/2018.
- Lưu Minh Trị (Chủ biên), 2011, Hà Nội Danh thắng và di tích, tập 1, Nxb Hà Nội.