Đình Canh Hoạch (Đình Vác – Thanh Oai, Hà Nội)

Đình Canh Hoạch (Đình Vác – Thanh Oai, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đình Canh Hoạch, còn gọi là đình Vác, tọa lạc tại xã Dân Hòa, huyện Thanh Oai, Hà Nội. Đây là một ngôi đình cổ được xây dựng trên khu đất cao ráo, rộng rãi ở trung tâm làng, quay mặt về hướng Tây nhìn ra quốc lộ 21B. Tên gọi “Canh Hoạch” là tên chữ, còn “Vác” là tên nôm quen thuộc của địa phương trong dân gian. Ngôi đình là trung tâm tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa cộng đồng của làng, gắn bó chặt chẽ với lịch sử và truyền thống lâu đời của cư dân địa phương.

Lịch sử và nhân vật

Xưa kia, làng Canh Hoạch có ba ngôi đình là đình Cả, đình Diệc và đình Trung, mỗi ngôi thờ một vị Thành hoàng riêng biệt. Do thời gian và biến cố lịch sử, đình Cả và đình Diệc bị phá hủy, nhân dân đã đưa toàn bộ đồ thờ tự, sắc phong và thần phả về đình Trung để phối thờ, từ đó chỉ còn đình Trung, tức đình Canh Hoạch ngày nay. Đình Canh Hoạch, còn gọi là đình Vác, là nơi thờ phụng ba vị Thành hoàng có công lao to lớn trong lịch sử dân tộc. Theo thần phả và truyền tích dân gian, ba vị Thành hoàng được phối thờ tại đình đều là những nhân vật lịch sử gắn liền với các thời kỳ dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Vị Thành hoàng thứ nhất là Hùng Lý Đại vương, con trai của bà cung phi thứ sáu của Hùng Đoan Vương, một vị vua thuộc thời đại Hùng Vương dựng nước. Từ nhỏ, Hùng Lý đã thể hiện tư chất thông minh, can trường. Khi trưởng thành, ông được vua cha phong làm quan trấn thủ vùng Tam Giang – một vị trí chiến lược quan trọng. Trong bối cảnh đất nước Văn Lang bị giặc xâm lấn, ông đã xin xuất chinh, thể hiện tinh thần yêu nước và lòng trung thành với triều đình. Sau khi mất vào ngày 12 tháng Giêng năm Kỷ Dậu, ông được nhân dân tôn thờ làm Thành hoàng.

Vị Thành hoàng thứ hai là Cao Hàn Đại vương, chiến hữu thân cận của Hùng Lý. Khi Văn Lang gặp nguy biến, ông đã cùng Hùng Lý lãnh đạo nghĩa quân dẹp giặc, giữ yên bờ cõi. Trong hành trình hành quân, hai ông đã dừng chân ở vùng Cổ Hoạch (nay là làng Canh Hoạch), được dân làng mến phục. Sau chiến thắng, họ trở lại thăm làng, rồi lần lượt qua đời (Cao Hàn mất ngày 20 tháng 7 năm Mậu Ngọ). Nhân dân tỏ lòng kính mến, xin sắc phong và rước về thờ phụng tại đình.

Vị Thành hoàng thứ ba là Trần Quốc Uy, con trai của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, một trong những danh tướng kiệt xuất trong lịch sử chống ngoại xâm thời Trần. Trần Quốc Uy nổi tiếng là người thông minh, học rộng, đỗ đại khoa, được giao giữ trọng trách quân sự. Khi giặc Nguyên – Mông xâm lược Đại Việt, ông đã chỉ huy một cánh quân lớn đánh giặc ở biên ải. Nhiều chiến thắng vang dội tại Vân Trà, Sơn Nam, Na Sầm, Trà Hưng, An Sinh, Vạn Kiếp đều có sự góp công của ông. Sau chiến thắng, ông đã về Canh Hoạch – nơi từng dừng chân – để ban phát của cải cho dân làng, giúp xây đình, đào giếng, và nhận nơi đây làm đất thang mộc (đất tổ nghề). Ông mất vào ngày 8 tháng 10 âm lịch tại Vạn Kiếp. Nhân dân làng Canh Hoạch tôn vinh công đức và lập miếu thờ.

Ngoài ba vị Thành hoàng nói trên, đình Canh Hoạch còn thờ một cụ tổ họ Nguyễn, người được dân làng suy tôn là phúc thần vì đã có nhiều công lao với quê hương. Những nhân vật được thờ tại đình không chỉ tiêu biểu cho tinh thần chống giặc ngoại xâm mà còn thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, tôn kính tiền nhân của cư dân vùng Canh Hoạch.

Kiến trúc cảnh quan

Đình làng Canh Hoạch được khởi dựng vào năm 1812, có mặt bằng tổng thể gồm nhiều hạng mục kiến trúc truyền thống có giá trị lịch sử và nghệ thuật, được bố trí hài hòa theo trục dọc, thể hiện rõ quy mô và cấu trúc một ngôi đình tiêu biểu vùng đồng bằng Bắc Bộ. Thành phần cấu trúc gồm cổng đình, sân đình, hai ngôi nhà tả mạc – hữu mạc, nhà đại bái, trung cung và hậu cung.

Cổng đình là điểm mở đầu của tổng thể kiến trúc, được xây dựng theo kiểu “bốn trụ biểu hoa dành”, đóng vai trò là lối vào chính để dân làng tiến hành nghi lễ thờ cúng Thành hoàng. Cấu trúc cổng gồm bốn trụ biểu xây gạch thành khối vuông vức, cao lớn, chia làm ba phần: đế, thân và đỉnh. Phần đế có dạng khum, tạo nền vững chắc cho thân và đỉnh trụ. Thân trụ được xây theo dạng khối hộp hình chữ nhật, trang trí gờ chỉ bên ngoài, bên trong khắc câu đối ca ngợi truyền thống quê hương và công đức các vị Thành hoàng. Trên đỉnh trụ đắp hộp đèn lồng và hoa văn cách điệu theo bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, thể hiện ước vọng “mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt”.

Tiếp theo là sân đình được lát gạch đỏ, cân xứng, rộng rãi, nối tiếp hai bên là hai dãy nhà tả mạc và hữu mạc, mỗi nhà gồm ba gian, xây gạch bao quanh, mái ngói mũi, tường hồi bít đốc. Kết cấu vì kèo theo kiểu cầu quá giang, sử dụng kỹ thuật bào tròn, đóng bén đặc trưng.

Các công trình kiến trúc chính được bố trí theo hình chữ Công, gồm nhà đại bái ở phía trước, trung cung ở giữa và hậu cung ở phía sau. Nhà đại bái có mặt bằng hình chữ Nhất với năm gian, tường hồi xây bít đốc, mái lợp ngói mũi, khung gỗ ba hàng chân cột tròn, bộ vì làm theo kiểu “chồng rường giá chiêng” và “bẩy hiên”, mang phong cách kiến trúc truyền thống tinh xảo. Trung cung là nhà cầu nối nhà đại bái với hậu cung, có ba gian hẹp. Hậu cung cũng gồm ba gian, nằm song song với nhà đại bái, xây gạch, mái ngói mũi, tường hồi bít đốc kìm đấu vuông khóa bờ nóc. Cả ba ngôi nhà đều sử dụng khung gỗ, bốn hàng cột tròn, kết cấu vì kèo kiểu “thượng chồng rường, hạ bẩy”. Nghệ thuật điêu khắc trang trí trên các cấu kiện gỗ thể hiện hoa lá cách điệu, lá hóa rồng – đặc trưng của phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.

Hiện vật

Hiện nay, trong đình còn lưu giữ nhiều hiện vật quý hiếm như: một cuốn thần phả ghi sự tích ba vị Thành hoàng; chín đạo sắc phong phong tặng các vị thần; hai hương án thời Nguyễn chạm trổ rồng, phượng, hoa lá tinh xảo; một cuốn thư chạm bong kênh họa tiết tứ quý, bên trong là bài thơ ngũ ngôn bát cú ca ngợi công đức các vị Thành hoàng. Đây là những di vật có giá trị lịch sử, nghệ thuật và văn hóa cao, góp phần làm phong phú thêm kho tàng di sản dân gian truyền thống của vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Sự kiện và lễ hội

Lễ hội truyền thống đình làng Canh Hoạch, trước đây được tổ chức định kỳ vào các ngày 11 đến 13 tháng Ba âm lịch, mang đậm dấu ấn tín ngưỡng dân gian kết hợp với nghi lễ thờ Thành hoàng và tôn vinh danh nhân khoa bảng của dòng họ địa phương. Trước kia, vào ngày 11/3 âm lịch, cộng đồng làng tổ chức lễ rước ba cỗ kiệu thờ Thành hoàng làng. Trình tự rước kiệu được tiến hành nghiêm ngặt: kiệu Đức Thánh Cả Trình Lý đi đầu, tiếp đến là kiệu Đức Thánh Hai Cao Hàn, và sau cùng là kiệu Đức Thánh Ba Trần Uất. Đoàn rước di chuyển từ đình ra cổng dinh rồi quay lại đình Sắc để làm lễ rước sắc phong các vị Thành hoàng về đình chính. Sau đó, dân làng tiến hành lễ rước bát nhang Trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng từ nhà thờ Trạng nguyên họ Nguyễn, cùng với việc rước bát nhang Thường quốc công từ đình Sắc về đình Đụn để phối hưởng trong lễ tế cộng đồng. Đến ngày 13/3, các nghi lễ hoàn cung được tổ chức, bao gồm việc rước sắc phong, rước bát nhang Trạng nguyên và Thường quốc công về vị trí yên vị ban đầu.

Hiện nay, tuy quy mô lễ hội có sự điều chỉnh theo điều kiện thời đại, nhưng các yếu tố nghi lễ truyền thống vẫn được gìn giữ khá đầy đủ. Vào ngày 11 tháng 3 âm lịch, dân làng tập trung tại đình để tu sửa đồ lễ, dựng cổng chào, treo cờ hội và dựng các cây nêu. Thân cây nêu được cắm bông tre đã nhuộm màu tạo nên không gian rực rỡ, trang trọng. Buổi sáng, nghi lễ tế nghênh được cử hành để thỉnh mời các vị thần linh. Đến khoảng 3 giờ chiều cùng ngày, đoàn rước kiệu bắt đầu xuất phát. Đám rước lớn bao gồm các thành phần: đội cờ, đội trống, đội bát âm, đội bát bửu, gươm hầu, và đội múa xênh tiền gồm từ 12 đến 16 em gái. Bốn xóm trong làng lần lượt rước bốn cỗ kiệu chính theo trình tự: đi đầu là kiệu đốn (còn gọi là kiệu cỗ) rước quan Trạng, tiếp theo là kiệu bát cống rước bài vị Đức Thánh Cả (choàng áo đỏ), kế đến là kiệu rước bài vị Đức Thánh Hai và Đức Thánh Ba (đều choàng áo vàng).

Ngoài các kiệu chính, các xóm lẻ và xóm chợ trong khu phố Vác còn rước thêm các cỗ nhỏ và lẵng hoa phụ trợ, làm phong phú thêm cho đoàn rước. Một điểm đặc sắc là đội hình rước quạt – sản phẩm tiêu biểu của nghề làm quạt truyền thống làng Vác – cũng tham gia vào lễ hội. Đáng chú ý, trong hậu cung của đình làng hiện còn lưu giữ một chiếc quạt thờ cổ được làm từ đầu thế kỷ XX, dài 83cm, khi xòe tạo thành nửa vòng tròn đường kính 158cm. Hai nan cái làm bằng sừng trâu bóng đen, hình mái chèo, rộng 7,3cm, đầu nan lớn bằng quả trứng ngỗng. Mặt nan được chạm khắc hình hổ phù và rồng cuốn thủy, phần mặt quạt phủ lụa, mang giá trị nghệ thuật và tín ngưỡng cao.

Trong đoàn rước, mỗi cỗ kiệu đều có hai người mang quạt tre làm phù giá. Hai đội múa rồng thực hiện nhiệm vụ dẹp đường, biểu diễn từ đầu tới cuối đám rước, tạo nên cảnh tượng sinh động. Đoàn rước khởi hành từ đình, đi theo đường 22, qua ngã tư Vác đến ngõ vào nhà thờ Trạng nguyên họ Nguyễn. Tại đây, kiệu đốn tách khỏi đoàn để rước cỗ vào nhà thờ, nơi thờ ba đời khoa bảng của dòng họ Nguyễn gồm: tiến sĩ Nguyễn Bá Ký, Trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng và tiến sĩ Nguyễn Khuông Lễ. Các bô lão trong làng mang lễ vật tiến vào tế lễ tại nhà thờ. Sau khi kết thúc tuần tế, ông trưởng họ cùng các bô lão đưa bát nhang quan Trạng ra đặt lên kiệu đốn để cùng đoàn rước nhập lại trên đường chính. Kiệu đốn tiếp tục đi đầu đoàn rước, qua cửa đình rồi xuống cổng dinh cuối làng, nơi một kiệu rẽ vào rước bát nhang ông Thường quốc công từ nhà Sắc.

Ngày 12/3 âm lịch là ngày chính hội. Tại đình, các bô lão tiến hành nghi lễ tế truyền thống. Dân làng dâng lễ mặn gồm mặt lợn và ván xôi đầy để tỏ lòng thành kính với các bậc tiền nhân. Đến ngày 13/3, toàn thể các xóm trong làng tập trung về đình để làm lễ tạ. Lễ tạ sử dụng mâm đồ chay (gồm hương, hoa, oản, quả…). Cùng ngày, các trò chơi dân gian như đấu cờ, đánh gậy, hát chèo sân đình được tổ chức, góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của cộng đồng. Sau tuần tế tiễn chiều cùng ngày, lễ rước hoàn cung được tổ chức: dân làng long trọng đưa kiệu đốn mang bát nhang quan Trạng cùng bát nhang Thường quốc công về nơi thờ cũ. Câu ca truyền miệng “Mười một rước ra, mười ba rước về” chính là sự kết đọng dân gian của toàn bộ chu trình nghi lễ lễ hội này.

Xếp hạng

Với giá trị to lớn về lịch sử, văn hóa và kiến trúc, đình Canh Hoạch đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia vào năm 1991. Đây là sự ghi nhận xứng đáng đối với một di tích có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh và văn hóa của nhân dân địa phương, đồng thời khẳng định vị thế của đình Canh Hoạch trong hệ thống di sản văn hóa dân tộc.

Tham khảo

  1. Lưu Minh Trị, (2010), Hà Nội – Danh thắng và di tích (Tập 1), Nxb Hà Nội.
  2. Ban Quản lý Di tích Danh thắng Hà Nội. (14/10/2020). Đình Canh Hoạch – Thanh Oai. Cổng thông tin điện tử Di tích Lịch sử – Văn hóa Hà Nội. https://ditichlichsu-vanhoahanoi.com/2020/10/14/dinh-canh-hoach-thanh-oai/
Chấm điểm

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin
1

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)