Đình Đại Lan (Thanh Trì, Hà Nội)

Đình Đại Lan (Thanh Trì, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đình Đại Lan tọa lạc tại thôn Đại Lan, xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Cùng với chùa và nghè, đình là một bộ phận cấu thành nên cụm di tích Đại Lan, được xây dựng trên khu đất cao tại xóm Nghè, phía đầu làng. Trước kia, cụm di tích nằm sát bờ sông Hồng nhưng do sự xói lở và thay đổi dòng chảy của con sông, vào năm 1959, dân làng đã di dời các công trình vào vị trí hiện nay.

Lịch sử và nhân vật

Từ những năm xa xưa, nhân dân làng Đại Lan – trước thuộc tổng Vạn Phúc, nay là xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội – đã hình thành một truyền thống gìn giữ các giá trị văn hóa mà tổ tiên gây dựng qua nhiều thế kỷ bám đất, dựng làng. Làng tọa lạc ven sông Hồng – một dòng sông lớn và không ổn định, nên đã nhiều lần phải đối mặt với hiện tượng sạt lở đất, khiến đất làng bị trôi xuống sông. Trước biến động đó là những năm tháng mòn mỏi chờ đợi, cho đến khi bãi sa bồi hình thành ở phía bờ đối diện, dân làng lại di chuyển sang vùng đất mới để gieo trồng ngô, khoai, rau, đậu.

Vào giữa thế kỷ XX, một vị túc nho đã xúc động trước cảnh sinh kế giữa thiên nhiên bồi đắp mà cảm thán bằng những vần thơ:

Hóa công sao lạ lùng,
Chung đúc sao khéo vậy.
Cùng ruột dải núi sông,
Bắc Nam thành đôi ngả.
Năm qua xuân sông Bắc,
Năm này đẹp bờ Nam.
Nam sông bờ cõi cũ,
Bắc sông lũy mới xây…

Dù ở bờ Nam (thuộc huyện Thanh Đàm) hay bờ Bắc (thuộc huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc), nơi nào có làng là nơi đó có đình. Trong những thời kỳ khó khăn, đình chỉ được dựng bằng vật liệu đơn sơ như tranh, tre. Vào các năm 1873–1874, kẻ cướp đã lập mưu đốt đình nhằm tạo hỗn loạn để cướp phá trong làng. Trước tình thế đó, các bậc cao niên đã mưu trí chia đôi lực lượng: một nửa giữ làng, một nửa giữ đình – thể hiện tinh thần đoàn kết, bảo vệ cả không gian sống lẫn thiết chế tín ngưỡng.

Sự thay đổi về đất đai lớn nhất diễn ra vào thời vua Lê Hiển Tông (1740–1786). Theo bản đồ năm 1868, làng Đại Lan khi ấy vẫn thuộc phủ Thuận An.

Đầu thế kỷ XX, làng lại một lần nữa di chuyển sang bờ Nam và dựng nhà tạm trên đất làng Vạn Phúc trong suốt 18 năm. Hai làng từ đó thiết lập mối quan hệ gắn bó, tổ chức lễ kết nghĩa anh em. Hằng năm, mỗi dịp Tết đến, người làng Đại Lan lại sắm sửa lễ vật đến dinh Vạn Phúc để tạ ơn vị Thành hoàng sở tại. Khi người Đại Lan canh tác tại bãi Hà Tắc (bãi bồi nổi giữa sông), họ còn kết nghĩa thêm với làng Khuyến Lương. Khi chuyển đến vùng đất mới, mỗi người dân làng Khuyến Lương đều góp cho người Đại Lan một cây tre, một tấm tranh để dựng nhà – nghĩa cử thể hiện sự tương thân tương ái. Nhờ những tình cảm tốt đẹp ấy, ba làng Đại Lan, Vạn Phúc và Khuyến Lương cho đến ngày nay vẫn duy trì mối quan hệ gắn bó và tương kính. Trong văn tế tại đình Đại Lan còn ghi tên ông Lê Sạn, người làng Vạn Phúc, đỗ Bảng nhãn và làm quan đến chức Thượng thư bộ Hộ năm 1517 – như một biểu tượng lịch sử cho tình làng nghĩa xóm giữa hai địa phương.

Năm 1918, khi đời sống ở bờ Nam đã ổn định, làng Đại Lan xây dựng đình, chùa và văn chỉ, là nơi thờ phụng 18 vị khoa bảng của làng. Tuy nhiên, các công trình tôn giáo, tín ngưỡng này chỉ tồn tại được khoảng 40 năm. Đến năm 1958, đất làng tiếp tục bị sạt lở, đình chùa lại một lần nữa phải chuyển dời sâu vào khu vực xóm Nghè.

Về tín ngưỡng, làng Đại Lan thờ ba vị thần là Linh Hồ, Minh Chiêu và Chà Mục, đều là các danh tướng thời Hùng Vương. Theo thần tích, thân phụ của ba vị là Trương húy Long, quê tại hương Lưu Xá, huyện Thượng Hiền, phủ Nghĩa Hưng. Vợ chồng ông làm nghề chài lưới, vì muộn con nên từng đi cầu tự tại chùa Sài Sơn. Sau khi về, bà mang thai và sinh ra con trai trưởng là Linh Hồ, còn hai người em là Minh Chiêu và Chà Mục là con bà thứ. Cả ba lớn lên đều thông minh, khỏe mạnh vượt trội.

Bấy giờ, giặc Tây Thục xâm lược Phong Châu, vua Hùng ban chiếu tìm người tài ra đánh giặc. Cả ba vị xin ứng tuyển. Vua phong Linh Hồ làm Tiền bộ trưởng tá quan, Minh Chiêu làm Tá bộ trưởng tá quan, và Chà Mục làm Hữu bộ trưởng tá quan. Trong trận chiến tại sông Lô, khi quân bị bao vây và lâm vào tình trạng suy kiệt, Linh Hồ ngửa mặt than rằng: “Nếu như nước Nam còn thì trời đất thần linh nước Nam hãy giúp cho quân thắng trận; nếu như nước Nam phải nhập với Bắc quốc thì quyết sống mái một trận.” Lập tức, mẹ con một con bò thần từ trên núi lao xuống. Quân sĩ lấy sữa bò uống, nhờ đó phục hồi tinh thần, khí lực hùng dũng. Ngay sau đó, bò thần biến mất, quân tiếp viện kéo đến. Quân ta phản công, đánh tan quân Thục, giành chiến thắng vang dội.

Sau chiến thắng, vua Hùng ban thưởng khắp nơi. Ghi nhớ sự hỗ trợ của Thần Bò, từ đó dân làng không ăn thịt bò để tưởng niệm. Ba vị tướng sau khi qua đời được vua Hùng sắc phong thần, ghi công vào tự điền, và giao cho dân các trang ấp thờ phụng lâu dài.

Đình Đại Lan, khởi dựng vào khoảng thế kỷ XVII, là nơi thờ Tứ vị Thành hoàng: ba vị tướng thời Hùng Vương vừa nêu – Linh Hồ, Minh Chiêu và Chà Mục – được triều đình sắc phong là “Thượng đẳng phúc thần”, cùng với Bảng nhãn Nguyễn Như Đổ, người con ưu tú của làng, đỗ cao thứ hai trong khoa thi năm 1442 dưới thời Lê Sơ, làm quan đến chức Thượng thư, được phong tước “Thiếu bảo Lan quận công”, thọ 102 tuổi. Ông nổi tiếng không chỉ về tài năng, đức độ mà còn vì tấm lòng son sắt với quê hương Đại Lan.

Kiến trúc cảnh quan

Đình nằm ở sát bên trái toà tam bảo của ngôi chùa làng. Cả hai cùng nhìn về phía Tây-Nam và được xây cùng lúc với mặt bằng gần như giống hệt nhau. Du khách leo 7 bậc lên tới hiên đình gồm 6 cột tròn nhỏ nhưng cân đối. Tiền tế rộng 3 gian 2 trái, kết nối thành hình chuôi vồ với hậu cung rộng 3 gian sâu 2 gian. Mái đơn giản, trên bờ nóc có đắp hình lưỡng long triều nguyệt.

Đình Đại Lan gồm các đơn nguyên kiến trúc Đại bái và Hậu cung kết cấu theo kiểu chữ Đinh. Từ mặt sân bước lên năm bậc thềm là tới tòa Đại bái.

Tòa Đại bái đình Đại Lan được chia làm ba gian hai dĩ với bốn mái đao cong, bờ nóc đắp lưỡng long chầu hổ phù đội mặt trời cách điệu, hai đầu bờ nóc là hai con rồng (Makara) ngậm bờ nóc, các mái đao được đắp đầu rồng cong hướng vào đình.

Vào bên trong các bộ vì đỡ mái được làm theo kiểu thượng giá chiêng rường nách, hạ cốn, bẩy hiên, bẩy hậu trên mặt bằng bốn hàng chân cột. Trang trí trên kiến trúc tại đình Đại Lan chủ yếu tập trung vào các đầu dư, cốn chạm rồng, tứ linh, tứ quý là các đề tài quen thuộc trong kiến trúc tín ngưỡng dân gian truyền thống.

Nền các gian bên nhà Đại bái được tôn cao 20 cm để làm chỗ ngồi mỗi khi có việc làng, gian giữa được xây cao khoảng một ô chiếu để dùng vào việc hành lễ. Tuy kiến trúc muộn, song sự sắp đặt các di vật trong đình vẫn theo những quy tắc truyền thống, đem lại vẻ cổ kính và trang nghiêm cho ngôi đình.

Tại nhà Đại bái là đại tự, câu đối sơn son thếp vàng như: uy chấn hà phương (Uy chấn phương xa), Bảo quốc an dân (Bảo vệ đất nước, giữ yên cho dân)…và nhiều hương án được chạm khắc tinh xảo, lộng lẫy với đề tài tứ linh, tứ quý…

Đáng chú ý là hoành phi lớn dạng cuốn thư, bên dưới là cửa võng chạy suốt gian nhà, đây là hai di vật được trang trí bằng kỹ thuật chạm thủng, sơn son thếp vàng. Rồng chầu mặt trời, rồng cuốn thủy, long mã tranh châu…..được trang trí ở diềm bức hoành phi.

Phần trên cửa võng là đôi rồng lớn chầu mặt hổ phù, hai bên trang trí các hình rồng phun nước, phượng, long mã…Bên dưới hai hiện vật này là một phương án gỗ được trang trí tỉ mỉ bằng kỹ thuật chạm nổi các hình rồng lá cách điệu chầu hổ phù, chính giữa là rồng, phượng, hướng về hình mặt trời ở giữa…

Chính điện có bức hoành phi làm theo dạng cuốn thư treo trên một cửa võng được đục chạm tinh xảo. Các mảng trang trí ở đó đều thể hiện những đề tài chạm khắc truyền thống: lưỡng long triều nhật, rồng cuốn thủy, long mã tranh châu, phượng múa…

Phía dưới là một hương án với những mảng điêu khắc kín xung quanh diềm. Hai gian bên có treo hoành phi trên lối vào cung cấm. Trong hậu cung có một khám lớn, nơi đặt long ngai và bài vị của 4 thành hoàng.

Hậu cung là một nếp nhà dọc ba gian mái lợp ngói mũi, phía trước có hệ thống cửa ngăn cách với Đại bái, chính giữa được xây bệ thờ trên đặt một khám lớn đặt long ngai, bài vị của các vị thành hoàng làng cùng các đồ thờ tự khác.

Mặt trước của khám được trang trí đậm đặc các đề tài truyền thống như hổ phù, rồng, hoa cúc, tứ linh, tứ quý, hoa dây…đây là một trong những di vật có giá trị nhất trong đình.

Hiện vật

Di tích hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như 11 đạo sắc phong từ thời Lê đến thời Nguyễn, các hoành phi, câu đối, long ngai, bài vị, bốn bộ kiệu thế kỷ XVII–XVIII, cùng đồ gốm sứ như bát hương thời Lê–Mạc, chóe sứ thế kỷ XVIII, lọ sứ thời Thanh. Đặc biệt, hoành phi cuốn thư và cửa võng tại gian Đại bái được chạm thủng, sơn son thếp vàng, trang trí rồng chầu, rồng cuốn thủy, long mã tranh châu – là những di vật tiêu biểu về kỹ thuật thủ công và mỹ thuật cổ truyền.

Sự kiện và lễ hội

Với mục đích tưởng nhớ các anh hùng có công với đất nước, hằng năm, hội làng Đại Lan được tổ chức vào các ngày mồng 6, mồng 7 và mồng 8 tháng Giêng âm lịch.

Ngày mồng 6 là ngày khai hạ, đánh dấu thời điểm mở đầu một năm mới với các hoạt động lễ nghi long trọng.

Ngày mồng 7 là ngày lạy thần, diễn ra các nghi lễ cúng tế trang nghiêm để tri ân công đức các vị Thành hoàng làng.

Ngày mồng 8 thường là cao điểm của lễ hội, với nhiều hoạt động văn hóa dân gian, thể hiện tinh thần võ dũng và truyền thống đoàn kết cộng đồng.

Vào buổi chiều ngày mồng 6, làng tổ chức lễ rước cá lăng – một loài cá đặc trưng chỉ xuất hiện ở những vùng sông rộng, sóng to như sông Hồng đoạn chảy qua Đại Lan. Theo truyền thuyết dân gian, khi thân mẫu của các vị thần làng mang thai, bà thường thích ăn cá lăng và gỏi cá lăng. Vì vậy, trong bài văn tế ngày kỵ thần có ghi:

“Khai thánh chi tư, đàn tư chi kính, dụng thân nghi khốn chi thành”,
có nghĩa: “Nhớ đức thánh mẹ mang, kính dâng lễ cá để tỏ lòng thành.”

Tùy từng năm, cá lăng được chọn có trọng lượng từ 7 đến 25 kg, được đặt trước từ các vạn chài chuyên đánh bắt cá sông, đảm bảo cá còn tươi sống cho đến lúc tế lễ. Vào chiều mồng 6, cùng với đoàn rước từ bến sông, các giáp trong làng đều sắm lễ cá lăng để trình đình. Cá được đặt trên án thư, buộc bằng vải đỏ, trình lễ xong, cứ ba giáp lại chia nhau một con cá để về làm cỗ. Trong mâm cỗ, gỏi cá lăng là món không thể thiếu. Cá được làm sạch, lọc kỹ, thái lát đều, ướp với nghệ rồi đun chín, sau đó bày lên đĩa, rắc thêm giềng giã nhỏ. Vây, xương và đầu cá được băm nhỏ, vê thành từng viên tròn đều nhau, còn lòng cá nấu với rau cần, mỗi bát gồm sáu viên cá, lót rau cần dưới đáy. Tất cả các công đoạn chế biến đều được tiến hành cẩn thận, chu đáo, thể hiện sự trang trọng với thần linh và lòng hiếu lễ của dân làng.

Sáng sớm hôm sau, lễ cá được đặt trên mâm thờ sơn son thếp vàng, có chân cao. Ban khánh tiết của làng cử phường bát âm đến gia đình đăng cai làm cỗ, rước lễ cá ra đình. Mâm lễ được hai trai đinh khiêng, những người này mặc áo the, khăn xếp, thắt lưng đỏ, có lọng che hai đầu, tạo nên không khí trang nghiêm và cổ kính.

Sau nghi thức tế lễ, làng thường tổ chức các hoạt động vui hội như vật, đánh gậy, múa roi, gợi nhớ thời kỳ trai tráng làng Đại Lan khi còn thuộc tổng Đại Quan, châu huyện Văn Giang đã xuôi theo sông Hồng cùng ông Tán Thuật tham gia kháng chiến chống Pháp. Trong những ngày hội, các đội vật võ từ các làng như Trung Quan, Chử Xá, Yên Mỹ, Vạn Phúc thường được mời về giao lưu thi đấu. Đội võ gậy của Đại Lan có thời điểm lên đến 50 người, nổi tiếng trong vùng nhờ cách bố trượng và xuyên tâm độc đáo.

Hội làng Đại Lan mang trong mình sức sống bền bỉ, thể hiện truyền thống văn hóa dân gian gắn với cuộc sống ven sông, kết hợp giữa canh tác nông nghiệp và đánh bắt thủy sản. Ngay cả vào đầu những năm 1960, làng vẫn duy trì tổ chức lễ hội đầy đủ các nghi lễ và đặc sắc riêng – phản ánh rõ nét phong tục tập quán đặc trưng của cư dân vùng hạ lưu sông Hồng. Hiện nay, làng vẫn còn lưu danh những người tài võ nghệ nổi tiếng một thời như ông Ba Cố, ông Xiềm, ông Nghi, ông Ve, từng được dân làng ngưỡng mộ và ghi nhớ như biểu tượng của tinh thần thượng võ Đại Lan.

Xếp hạng

Hiện tại, chưa có thông tin chính thức về việc xếp hạng cấp quốc gia hay cấp thành phố đối với Đình Đại Lan. Tuy nhiên, với những giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc và hiện vật còn bảo lưu, di tích này xứng đáng được bảo vệ, nghiên cứu và tôn vinh như một phần di sản văn hóa tiêu biểu của vùng đất ven sông Hồng.

Tham khảo

  1. Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001
  2. Lưu Minh Trị, (2010), Hà Nội – Danh thắng và di tích (Tập 1), Nxb Hà Nội.
Chấm điểm
Chia sẻ
Checkin
1. Đình Đại Lan (Nguồn didulich.net)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)