Tên gọi và vị trí địa lý
Đình Đông Ngạc hay còn gọi là đình Làng Vẽ (Kẻ Vẽ), thuộc phường Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội. Nằm ở phía Bắc và cách trung tâm thành phố khoảng 15km, dọc theo đường đê Yên Phụ, theo đường sông Hồng, từ làng xuống đến trung tâm cũng rất thuận tiện.
Xưa kia, Đông Ngạc được hình thành từ tên Đống Ếch vào thời nhà Lê, sau dân số phát triển đổi thành xã Đông Ngạc – tên nôm là làng Vẽ. Vào đầu thời Nguyễn, làng Đông Ngạc thuộc tỉnh Minh Cảo, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Nằm bên bờ Sông Hồng, Đông Ngạc là một làng cổ giàu truyền thống, nổi tiếng không chỉ về sự trù phú, đông đúc mà còn là một trong những làng khoa bảng và có nghề buôn bán phát triển sầm uất trong vùng Thăng Long – Hà Nội.
Đình thờ ba vị thành hoàng: Thiên thần là thần Độc Cước Sơn tiêu đại thánh (đền thờ chính ở Nghệ An và Sầm Sơn, Thanh Hoá do tiến sĩ Phan Phu Tiên rước về làng để thờ). Nhân thần Lê Khôi là tướng và là cháu của Lê Thái Tổ được người làng là Đô Đốc đồng tri Đồng Xuyên hầu khi đem quân đi đánh Chiêm Thành qua cửa Rào (Nghệ An) rước về thờ và Thổ thần là Bảo vệ Chương Hoà. Địa thần là Bản thổ Thành hoàng.
Ngoài ra, đình còn phụ thờ ông nghè Phạm Quang Dung (còn gọi là Khách) đỗ tiến sĩ khoa Bính Tuất (1706) làm quan Công bộ Thượng thư đã có công xây dựng nên ngôi đình này năm Vĩnh Thịnh thứ 16 (1718). Và thờ Mạc Quận công, vị tướng từ thời Hùng Vương, bên nhà Tả Vu còn thờ ông Phạm Thọ Lý là người đã cung tiến mấy sào đất để làm ngôi đình lần đầu năm 1635.
Lịch sử và nhân vật
Dựa trên hai quả chuông của chùa Vẽ được đúc vào các năm Ất Mão (1315) và Nhâm Thân (1332), như Phạm Đình Hổ đã nhắc đến trong tác phẩm Vũ trung tuỳ bút, có thể khẳng định rằng vào nửa sau triều đại nhà Trần (đầu thế kỷ XIV), Đông Ngạc đã là một làng đông đúc và đã mang tên “Đông Ngạc phường”.
Theo truyền thuyết, ban đầu đình là một ngôi miếu cổ có từ thời Đường vào thế kỷ VII. Đến năm 1635, dân làng đã cải tạo và mở rộng miếu thành đình để thờ Thành Hoàng làng. Trải qua nhiều lần trùng tu và phục hồi trong lịch sử, hiện nay đình vẫn giữ nguyên được kiến trúc đặc trưng, với lần trùng tu gần đây nhất vào năm 2000.
Làng Vẽ từ lâu đã nổi danh là mảnh đất văn học, nơi sản sinh nhiều nhân tài, đặc biệt là những người đỗ đạt và làm quan. Với truyền thống khoa bảng lâu đời, dân làng tự hào về những thành tựu học hành của con cháu.
Câu ca dao “Đất kẻ giàn, quan kẻ vẽ” được lưu truyền trong dân gian như một lời nhắc nhở về sự đối lập giữa cuộc sống vất vả của dân làng và sự giàu có, quyền lực của các quan chức.
Kiến trúc cảnh quan
Đình Đông Ngạc là một công trình kiến trúc lớn, với nhiều hạng mục cổ kính, đã tồn tại suốt 500 năm qua. Được xây dựng trên một khu đất cao ráo, đắc địa ở phía bắc làng, gần sát đê sông Hồng, đình nằm trong một không gian rộng rãi, xung quanh là những cây xanh mát và ao hồ, tạo nên một môi trường thoáng đãng và yên bình.
Với lối kiến trúc độc đáo, đình được thiết kế theo hình tượng đầu rồng: cổng Tam Quan tượng trưng cho râu rồng, hai hồ sen tròn là đôi mắt, và phần sân trước Đại Đình chính là phần trán, Đại Đình chính là đầu rồng.
Hiện nay đình Đông Ngạc gồm những hạng mục chính sau: Cổng Tam Quan Ngoại, Cổng Tam Quan Nội, Đại Đình, Tả-Hữu Mạc.
Nhà Tam Quan Ngoại
Cổng đình có kiến trúc ba gian, nằm trên vị trí cao tại mặt đê sông Hồng. Cổng đình hoàn toàn làm bằng gỗ, với bốn hàng cột gỗ vững chãi, các cánh cửa bằng gỗ được bưng kín, trên ván bưng khắc hai chữ “Thiện” và “Ác” ở hai bên. Gian giữa là lối vào chính, có kích thước lớn nhất, trong khi hai cổng phụ hai bên nhỏ hơn. Mái cổng được lợp ngói mũi hài, mang đến vẻ đẹp cổ kính. Toàn bộ công trình được bao quanh bởi tường bao, tạo thành một khu vực khép kín, hài hòa và chắc chắn.
Qua cổng là một dãy bậc thang gồm 11 bậc, dẫn xuống sân đình, các bậc thang này được lát gạch Bát Tràng. Các hạng mục của đình được xây dựng ở vị trí thấp hơn so với Tam Quan Ngoại, tạo nên sự cân đối trong tổng thể kiến trúc.
Nhà Tam Quan Nội
Khu sân phía trước Tam Quan Nội được là một không gian xanh mát, với rất nhiều cây cối tươi tốt, đặc biệt nổi bật với hai hồ nước có đường kính lớn, nằm đối xứng nhau. Hai hồ nước này được xây dựng thành hình tròn, bên trong trồng sen nước, tạo nên một cảnh sắc thanh bình cho ngôi đình.
Bước qua hồ sen, ta sẽ đến Tam Quan Nội, một kiến trúc ba gian, trong đó gian giữa là phần khung cổng chính, chịu lực. Hai cổng phụ nhỏ được xây dựng ở hai bên cạnh gian giữa, có kích thước thấp và nhỏ, được xây bằng gạch. Mái cổng được lợp ngói mũi hài, cốn gỗ được chạm trổ hoa văn lá tỉ mỉ, tinh xảo. Tường bao quanh khu vực này nối liền với các nhà Tả Mạc và Hữu Mạc, tạo thành một tổng thể kiến trúc riêng biệt, với hình dáng nội chữ “Đinh” và ngoại chữ “Quốc”.
Đại đình
Qua Tam Quan Nội là một khoảng sân vườn được xây bờ bao xung quanh tạo thành hình vuông, bên trong khoảng sân được trồng cỏ xanh, đây là khoảng sân để vào các ngày lễ hội, kiệu được rước vào bãi cỏ này để tổ chức các nghi lễ trang trọng tại đình.
Đại đình có kết cấu gồm 7 gian, nằm đối xứng với Tam Quan Nội, với lối kiến trúc theo hình chữ “Nhị” (二) trong Hán tự, kiểu nhà này có hai nếp nhà song song liền nhau. Cửa ra vào làm hoàn toàn bằng gỗ và kiểu bức bàn, được tạo thành từ tám hàng cột vững chãi, kê trên các tảng đá xanh. Bên trong, khu Tiền Tế là nơi các gian thờ được phân chia bởi các cột cái lớn, các cửa võng của gian thờ được chạm trổ tinh xảo với những họa tiết rồng phượng, hoa lá. Ngoài ra còn được trang trí các bộ bát bửu, lọng vải, hoành phi, câu đối, sơn thếp vàng, tạo nên một không gian thờ cúng trang trọng và đầy trang nghiêm.
Hậu Cung là một gian nhà rộng, gồm ba gian chạy dọc về phía sau, chia thành hai phần: ngoài là Trung Cung và trong là Hậu Cung. Trung Cung được kết nối với Đại Đình thông qua hai dãy nhà cầu ở hai bên, gọi là hành lang. Gian Hậu Cung có một gian hai dĩ, là nơi đặt long ngai và bài vị Thành Hoàng làng, tạo nên không gian trang nghiêm, linh thiêng trong các nghi lễ thờ cúng.
Trần gian Hậu Cung được lát bằng các tấm gỗ dài, vì kèo của gian giữa được chạm trổ tinh xảo, bức cốn nách cũng được khắc họa hình rồng chầu, tỉ mỉ hơn là bốn đầu dư được trạm trổ những đầu rồng ngậm ngọc, biểu tượng của quyền uy và linh thiêng.
Mái đình lợp ngói mũi hài, hai đầu đốc mái gắn hai tượng nghê, khoảng gấp khúc bờ dải có gắn hình đầu nghê, bốn đầu đao cong vút gân hình đầu rồng, hướng về nóc mái.
Tả/ Hữu Mạc
Tả Mạc và Hữu Mạc là hai dãy nhà nằm đối diện, quay mặt vào nhau, đây là nơi thờ ông Phạm Thọ Lý là người đã cung tiến mấy sào đất để làm ngôi đình lần đầu năm 1635.
Cả hai toà đều được xây kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi hài, hai đầu đốc mái được trang trí gắn hình đuôi cá. Đầu đao uốn cong, cột gạch vuông vắn và kết cấu vì kèo kiểu thượng rường hạ kẻ, kẻ tạo nên sự cân đối, vững chắc.
Nhà Tả Mạc hiện nay được lưu giữ 6 tấm bia đá, trong đó gian giữa có một tấm bia lớn đặt trên lưng rùa, bia này được dựng vào năm Vĩnh Thịnh thứ 5 (1710), một dấu ấn lịch sử quan trọng ghi lại công lao của những người đóng góp xây dựng và bảo tồn ngôi đình.
Hiện vật
Trong đình hiện nay vẫn còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị lịch sử và nghệ thuật đặc sắc. Tại bái đường đặt hai đôi hạc: một đôi hạc đồng cao khoảng hai mét đi cùng bộ ngũ sự bằng đồng gồm đỉnh, nến, bình hương; bên ngoài là đôi hạc gỗ cao tới ba mét, mới được sơn thếp lại, trông vô cùng uy nghi, lộng lẫy. Nghệ thuật điêu khắc gỗ còn hiện diện ở ba bộ kiệu bát công, một bộ đòn rồng và một long đình, tất cả đều “sơn son thếp vàng” rực rỡ, thể hiện tay nghề chạm trổ tinh xảo của các nghệ nhân.
Trong số hiện vật còn có một bình gốm nền đỏ, trang trí tranh sơn thủy nhiều màu, được dùng để đựng nước sông Hồng rước về dâng lễ thánh. Ngoài ra, ở đại đình hiện treo 16 bức tranh cô đòi Lê, minh họa cho 16 chữ Hán liên hoàn: “bách, cốc, phong, đăng, vạn, niên, ký, phúc, chúc, thọ, thánh, hoàng, tư, dân, an, thái”, vừa mang ý nghĩa giáo dục vừa phản ánh tư tưởng văn hóa Nho học.
Dưới nền đình có tám bức tranh đặt trên giá treo, thể hiện các chủ đề: “ngư, tiều, canh, mục, sĩ, nông, công, cổ”. Dưới mỗi bức tranh đều có đề một bài thơ thất ngôn bát cú, góp phần tạo chiều sâu văn hóa cho không gian thờ tự.
Khu vực ngoài đại đình, tại nhà hữu vu bảy gian, hiện còn nhà bia và nhà đọc sách. Nhà bia lưu giữ bảy tấm bia đá, trong đó có bia cao tới 1,8m, rộng 1m, đặt trên lưng rùa uy nghi, phong cách tương tự bia ở Văn Miếu, Hà Nội. Tấm bia cổ nhất dựng năm Dương Hòa (1635) mang tiêu đề “Thủy tạo thần từ”, ghi chép việc lần đầu xây dựng ngôi đình thay thế ngôi đình nhỏ ở ngõ Vẽ, do Phạm Thọ Lý hiến đất. Đặc biệt, tấm bia lớn nhất có tiêu đề “Trùng tu thần từ” dựng năm Vĩnh Thịnh (1718), ghi công tiến sĩ Phạm Quang Dung trong việc tu sửa lớn ngôi đình.
Sự kiện và lễ hội
Hội đình làng Vẽ là một trong những sinh hoạt văn hóa đặc sắc của đất Thăng Long, được tổ chức long trọng và trang nghiêm, thu hút đông đảo dân làng và du khách thập phương. Theo lệ làng, ngày mồng 9 tháng Hai diễn ra phần duyệt đội ngũ, buổi tối tiến hành lễ “nhập tịch”. Sang ngày mồng 10 tháng Hai, lễ rước chính thức được tổ chức với bốn cỗ kiệu nối tiếp nhau, gồm rước nước, rước hương án và rước long đình. Chân kiệu có đến 120 thanh niên nam nữ, mặc áo rực rỡ sắc màu, di chuyển nhịp nhàng theo hiệu lệnh của trống, chiêng và tù và, tạo nên không khí vừa uy nghi vừa sôi động. Đồ tế lễ gồm thủ lợn, xôi gà, hoa quả bốn mùa, đặc biệt là tục dâng “những cây mía tím, lá xanh nguyên” – một nét riêng độc đáo.
Đám rước kéo dài khoảng 1 km, khởi hành từ đình, qua đê rẽ vào chùa Tư Khánh rồi quay về. Người dân các làng Chèm, Bạc, Gạ, Bỏi… cũng tụ hội về đứng dọc hai bên đê, khiến không khí lễ hội thêm phần náo nhiệt. Sau phần rước, hội làng còn tổ chức nhiều trò chơi dân gian như cò bỏi, chọi gà, bịt mắt bắt dê… Trong đó, đặc sắc nhất là trò “thả thơ” – một thú vui tao nhã của làng Vẽ văn hiến. Chủ trò nêu “một đề thơ, một câu thơ bất kỳ” (có thể từ Truyện Kiều, thơ Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Lý Bạch, Đỗ Phủ…), rồi các tao nhân mặc khách ngồi thành vòng tròn, bốc thăm đề thơ trên giấy hương, sau đó sáng tác, ngâm vịnh hoặc họa lại theo ý mình. Có thi nhân ngẫu hứng hát ca trù để ngợi ca non sông gấm vóc và chí khí cha ông. Nhiều khi, chính đề thơ được rút ra lại là bài hoành của hành tham tụng Bùi Huy Bích:
Đầu bến cửa Trào thu nước trong
Cội đa bóng rợp đón bay vòng
Ong già sừng kính nghìn năm miếu
Dòng đến thần minh một thửa hùng.
Dân ấp ca mừng khen chính tích
Quân thù sụp lạy khiến oai phong
Ao ước Bình Chương sông lại cùng.
Trong đó, “Bình Chương” chính là tên gọi của vị thành hoàng làng – Lê Khôi. Hội làng Vẽ vì thế không chỉ là dịp sinh hoạt tín ngưỡng, mà còn là một lễ hội giàu tính nhân văn và nghệ thuật, góp phần khẳng định truyền thống văn hiến lâu đời của Thăng Long.
Xếp hạng
Đình Đông Ngạc nằm trong số ít những ngôi đình cổ kính của Thủ đô Hà Nội hiện còn bảo lưu được khá nguyên vẹn bố cục, cảnh quan kiến trúc và các di vật quý giá.
Đình Đông Ngạc đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử văn hoá ngày 6 tháng 1 năm 1994.
Tài liệu tham khảo
- Nguyễn Duy Hinh, Nguyễn Vinh Phúc (2009), Các Thành Hoàng &Tín Ngưỡng Thăng Long-Hà Nội, Nxb Lao Động.
- Nguyễn Quang Ngọc (1993), Về một số làng buôn ở đồng bằng Bắc bộ thế KỶXVII – XIX, Hội sử học Việt Nam.
- Văn Quảng (2009), Văn hoá tâm linh Thăng Long Hà Nội, Nxb Lao Động.
- Đổ Thỉnh (2000), Đại chí vùng ven Thăng Long, Nxb Văn hoá Thông tin.