Tên gọi và vị trí địa lý
Làng Tả Thanh Oai cách trung tâm Hà Nội khoảng 13 cây số về phía tây nam, tên nôm là Kẻ Tó, có một thời gọi là ấp Hoa Xá. Đình Hoa Xá ở giữa làng bên phải đường bờ tả dòng sông Nhuệ. “Minh Ngự lâu” nghĩa là “lầu Ngự Sáng”, nơi ở cũ của bà Đô Hồ, cách đình Hoa Xá chừng 500m.
Lịch sử và nhân vật
Dòng sông Nhuệ quanh năm đỏ đậm phù sa, là nơi từng ghi dấu chiến thuyền của vua Lê Đại Hành trong trận đánh giặc Tống, hay vua Lê Lợi trong những cuộc kháng chiến chống quân Minh. Không rõ từ bao đời, nơi đây đã lưu truyền câu ca:
Nhuệ Giang nước chảy quanh co
Nào ai xuôi ngược có đò em đưa…
Dòng sông, bến nước, con đò ấy cũng là nơi bắt nguồn câu chuyện tình thấm đượm trữ tình của vị vua nhà Tiền Lê với cô gái làng Tó. Thường mỗi lần vua ngự giá đến ven sông Nhuệ, cô gái lại giúp gạo, giúp lương thực, được vua phong làm phu nhân, từ đó dân gian tôn kính gọi là Đô Hồ phu nhân.
Câu chuyện kể rằng, trong một lần vua hành quân, tạm dừng ở ấp Hoa Xá để lấy binh lương, lương thực, vua bắt gặp một cô gái gánh gạo trong đám dân binh. Cô gái mặc áo vải thô, mặt sáng, miệng cười tươi, dáng vẻ thanh thoát, dung nhan khác thường. Khi vua nghỉ chân bên sông, thấy nàng vốc nước rửa tay, mây ngũ sắc chợt hiện phía trên đầu. Vua cảm nhận đây không phải người tầm thường và âm thầm ghi nhớ.
Sau khi chiến thắng giặc Tống, vua trở về Hoa Lư, mở tiệc mừng công, cho mời dân làng Hoa Xá ngự yến. Vua cho vời cô gái năm xưa, phong làm quý phi, đưa về kinh thành và sắc lập điện riêng mang tên “Đô Hồ phi cung” tại khu vườn cũ.
‘’Hoa Xá Lê đê phi miếu phả lục” (tức phả lục miếu thờ vua nhà Lê ở Hoa Xá) do Hàn lâm đông các đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (1572) và được quan giám bách thần Nguyễn Hiền sao chép vào năm Vĩnh Hựu (1740) ghi rõ:“Tháng Ba năm Ất Tỵ, niên hiệu Thiên Phúc, vua Lê băng hà tại điện Trường Xuân, táng tại Trường Yên. Tại ấp Hoa Xá, dân lập đền thờ, suy tôn ngài là thánh vua đệ nhất thần hoàng.”
Đô Hồ phu nhân cũng được dân làng lập miếu, hàng năm cúng giỗ. Dân làng Hoa Xá tôn kính gọi nơi ấy là lầu Minh Ngự, tức “lầu Ngự sáng”. Tục truyền rằng, phu nhân từng hiển linh giúp nhà Trần đánh giặc Nguyên, phù trợ vua Lê Lợi phá quân Minh ở Đông Đô, Ninh Kiều, Chúc Động…
Về Lê Đại Hành hoàng đế, sử sách đã ghi chép rõ: ông tên húy là Lê Hoàn, người Ái Châu, sinh ngày 15/7/941 (Tân Sửu), mồ côi từ nhỏ, được quan họ Lê nuôi dưỡng. Khi trưởng thành theo phò Đinh Tiên Hoàng, lập nhiều chiến công, được phong thập đạo tướng quân. Năm 981, sau khi vua Đinh mất, Lê Hoàn lên ngôi, lấy niên hiệu Thiên Phúc, lập các hoàng hậu: Đại Thắng Minh hoàng hậu, Phụng Càn hoàng hậu, Thuận Thánh minh đạo hoàng hậu, Trịnh Quốc hoàng hậu, Phạm hoàng hậu, được truyền tụng là “ngũ hậu”. Dân gian vẫn tự hỏi: liệu Đô Hồ phu nhân có phải là một trong năm vị hoàng hậu ấy?
Dưới thời vua Lê, bà Đô Hồ được cho là một trong những người phụ nữ tài sắc, vừa lo quân lương, vừa tham mưu trận mạc, dân ấp Tó kính thờ bà như một liệt nữ phụ quốc, tên được khắc vào bia, sắc phong tôn vinh công đức.
Trong thần tích và văn bia cổ, có đoạn ghi:
Đế, hậu đồng tôn tiên Lý hậu Đinh lưu thành tích
Miếu, đình vọng tại khảm Tó đối Nhuệ thành thần cư
Dịch nghĩa:
Vua, hậu chung thời trước Lý, sau Đinh lưu thánh tích.
Miếu, đình còn vọng vạt Tó, giải Nhuệ đẹp nhà thiêng.
Không chỉ riêng đình Hoa Xá, tại đình Tó Thị đầu làng cũng có sắc thờ một vị tướng từng xông pha trận mạc cùng vua Lê là Trần Phổ Huế và phu nhân họ Ngô. Thần phả cho biết:
“…Đế quân, đế phi ngày càng yêu mến nhau, như đàn sắt đàn cầm, như chim loan chim phượng. Sinh hạ được một Lê công chúa, yểu điệu đoan trang, đến năm 12 tuổi bị ốm chết. Lúc công chúa mới sinh, đế phi giao cho phu nhân của Trần Phổ Huế nuôi dạy, có nhiều công lao nên được vua Lê ban: Ngô Thượng Ban nhũ mẫu…”
Những dòng thần tích ấy là minh chứng sâu sắc về mối tình giữa vua và dân, giữa một bậc minh quân với cô gái bình dị nơi vùng Nhuệ Giang. Đồng thời, đây cũng là biểu hiện sinh động cho văn hóa thờ Thành hoàng, thờ liệt nữ anh hùng trong tâm thức người Việt.
Kiến trúc cảnh quan
Đình Hoa Xá tọa lạc ở vị trí đẹp, quay mặt về hướng nam, nằm trên khu đất rộng thoáng với địa thế được đánh giá là thuận lợi về phong thủy. Toàn bộ các công trình kiến trúc được sắp xếp theo chiều sâu, từ ngoài vào trong, trong một khuôn viên khang trang và bề thế. Các hạng mục chính gồm: giếng đình, cổng ngọ môn, sân ngoài, tam quan, sân trong, hai dãy tả – hữu mạc, đại đình (thiên hương), hậu cung và khu vườn phía sau. Một bên đình giáp đường làng, bên kia cận mép sông, được bao bọc bởi hệ thống tường gạch tạo nên thế biệt lập, rợp bóng hàng cây muỗm cổ thụ, góp phần tôn thêm vẻ cổ kính, trang nghiêm cho di tích.
Giếng đình là yếu tố quan trọng theo quan niệm tụ thủy của người xưa. Qua ba bậc tam cấp là đến cổng ngọ môn, nơi có bốn trụ gạch cao lớn, trong đó hai trụ chính cao khoảng 5m, trên đỉnh đắp nổi đôi nghê quay đầu vào nhau. Tiếp theo là sân ngoài, với hành lang và khu tập canh, dẫn đến tam quan. Tam quan được xây dựng bề thế, hai trụ chính vuông vức, đỉnh trụ đắp đôi nghê, phía dưới trang trí tứ linh.
Từ tam quan vào sân trong có đặt đôi ngựa đá, đủ yên cương, quả nhạc, dáng đứng oai vệ. Theo truyền ngôn và văn bản hiện lưu, đôi ngựa này do danh sĩ Ngô Thì Nhậm cung tiến vào năm 1798 kèm theo bài minh có tên là “Cung tiến thạch mã văn”.
Sân trong lát gạch Bát Tràng, rộng rãi, hai bên là hai dãy tả – hữu mạc. Đại đình được xây trên nền cao hơn mặt sân khoảng một mét, có hiên xây bằng đá học làm vía, phía trước đặt đôi rồng đá chầu. Kiến trúc đại đình theo kiểu chữ công, ba gian, bốn chái, mái lợp ngói mũi hài, các đầu đao cong vút. Trên đỉnh mái chính giữa có đắp nổi hình ảnh “lưỡng long chầu nhật”.
Phía sau đại đình là nhà thiên hương nối tiếp với hậu cung. Tòa hậu cung gồm ba gian, có hai khám thờ, đặt ở vị trí cao nhất. Bài vị trong khám ghi rõ:
- “Đại Hành hoàng đế thánh vị”
- “Đô Hồ phu nhân thần vị”
Gần đình còn có Minh Ngự lâu, nằm khuất phía trái đường làng, giữa vùng dân cư đông đúc. Tương truyền nơi đây xưa kia là miếu thờ bà chúa Tó, con gái một vị quan, từng sống cùng cha mẹ tại đây. Theo ghi chép trong ngọc phả cổ lục, có đoạn viết: “… Nơi ở cũ dựng lầu Minh Ngự, nhà cung phi sửa thành miếu điện…” Minh Ngự lâu gồm hai nếp nhà ba gian, đến nay ngôi nhà phía sau đã hư hỏng. Tuy vậy, người dân vẫn giữ gìn phần còn lại như một biểu tượng ký ức và thờ tự.
Tiếc rằng, ngay tại quê hương của bà, tư liệu về thân thế và hành trạng của bà gần như không được lưu giữ. Để tưởng nhớ, người dân làng đã chọn ngày 15 tháng Giêng hằng năm làm ngày hội làng. Lễ hội mang ý nghĩa tưởng niệm, tri ân và cũng là dịp cầu phúc đầu năm, đúng với câu tục ngữ dân gian: “Tết quanh năm không bằng rằm tháng Giêng.”
Hiện vật
Trong đình còn giữ được nhiều di vật quý gồm: thần phả, 16 đạo sắc phong, nhang án, khám thờ, 2 cỗ hiệu, 8 đôi câu đối, cuốn thư, hoành phi… Những tư liệu thành văn về ngày tháng khởi dựng ngôi đình đã bị thất lạc. Nhưng dựa vào truyền thuyết, những chứng tích lịch sử cho ta biết những di tích ở đây đã có hàng nghìn năm. Còn hiện tại cụm di tích có phong cách kiến trúc thời Hậu Lê. Qua nhiều đợt trùng tu, sửa chữa nên đan xen một đôi nét kiến trúc thời đầu nhà Nguyễn.
Sự kiện và lễ hội
Hội làng Tả Thanh Oai (nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội) được tổ chức thường niên từ ngày 14 đến 16 tháng Giêng âm lịch. Ngay sau kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán, từ mồng 4 Tết, các vị chức sắc và cao niên trong làng đã họp bàn tổ chức hội. Công tác phân công được tiến hành khẩn trương: quân kiệu, chấp kích các giáp được giao chọn lựa những trai tài gái giỏi tham gia.
Từ mồng 10 đến 12 tháng Giêng, dân làng ra quân tổng vệ sinh: rẫy cỏ, sửa sang đường làng ngõ xóm, tết cổng chào, dựng cờ chuối, phát quang cây cối. Trong hai ngày 12, 13 – chọn ngày tốt để làm lễ nhập tịch, mở cửa đình, lau dọn đồ thờ, chuẩn bị tán, kiệu, đồng thời tập luyện đội hình rước – từ trong đình đến ngọ môn.
Theo lệ xưa, làng dành riêng hai mẫu ruộng tốt giữa đồng để trồng lúa nếp dùng làm lễ vật tế Thánh. Lúa thu hoạch được chế biến thành bốn mâm cỗ, mỗi mâm gồm 24 bánh chưng, 24 bánh dày và chè kho. Đặc biệt, mâm cỗ ngọc dâng thánh nhất thiết phải có chè kho, cá muối, canh đậu xanh thể hiện công đức những người lo lương thảo cho binh sĩ thời vua Lê chinh phạt giặc Tống, bình định Chiêm Thành. Đây còn là một nghi thức tín ngưỡng nông nghiệp, cầu mùa – tạ ơn – báo đáp thiên nhiên và tổ tiên.
Tối 14 tháng Giêng, dân làng cùng du khách thập phương tề tựu trước sân đình. Nửa đêm, lễ rước thánh từ Minh Ngự lâu chính thức bắt đầu. Dẫn đầu đoàn rước là năm lá cờ ngũ hành, kế đến là chiêng trống có lọng che, thùy kiệu vua, các nghi trượng uy nghi đi trong tiếng nhạc lễ rộn ràng.
Chiêng, trống, gươm vàng, bát bửu, dùi đồng, tay ván, tay vồ, bày thành hai hàng. Sau đó là cờ ghi tên hiệu đức ông, lọng che, tán tán nối tiếp. Phường đồng văn vừa đi vừa múa sênh tiền, trống cơm rộn rã; phường bắt ấm tấu nhạc bằng sáo, nhị, đàn… Kiệu long đình bày hương hoa do bốn người khiêng; kiệu giá cỗ ngọc, kiệu hương án, bài vị, sắc phong cũng có người khiêng riêng. Kiệu ông do tám người khiêng với hai tán quạt lớn; kiệu bà đi sau có nữ quan khiêng, quạt và lọng rợp. Tiếp theo là đoàn cụ “bát”, cụ “thất”, dân làng và du khách nối dài bất tận.
Đoàn rước tiến qua đường làng, bên là nhà cửa san sát, bên kia là dòng Nhuệ Giang uốn lượn. Ánh đuốc bập bùng, tiếng chiêng trống rền vang, người dân hai bên đường đốt đuốc, bày hương án vái lạy khi kiệu thánh đi qua, tạo nên một khung cảnh linh thiêng và huyền ảo.
Sáng sớm ngày 15 tháng Giêng, đoàn thị giả lên chùa rước nước ngũ sắc về bao sái, mộc dục, thay xiêm áo, đội mũ, mặc áo hoàng bào cho thánh ông – thánh bà. Các giáp làng lần lượt mang cỗ lễ về đình. Dưới sân đình diễn ra nhiều trò chơi truyền thống: đánh cờ người, đập niêu, hát đối trống quân nam nữ…
Tối 15, lễ rước thánh từ Minh Ngự lâu trở lại đình được tổ chức với nghi thức trang nghiêm. Nửa đêm, làng làm lễ “giải ngự bào”. Sáng ngày 16 là lễ tạ, chính thức kết thúc hội.
Xếp hạng
Đình Hoa Xá đã được công nhận là di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật quốc gia từ năm 1993.
Tham khảo
- Hoa Xá Lê đê phi miếu phả lục《華舍黎陛妃廟譜錄》, do Hàn lâm Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính (阮昞) phụng soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (洪福元年, 1572), được Nguyễn Hiền (阮賢), Giám bách thần, sao lại vào năm Vĩnh Hựu (永佑, 1740).
- Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001
- Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội. (1993). Hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa đình Hoa Xá, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Hà Nội: Sở Văn hóa Thông tin.
- Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I. (Sắc phong thời Lê và Nguyễn, lưu tại đình Hoa Xá). Tư liệu Hán Nôm – Thư mục di sản Hán Nôm Việt Nam. Hà Nội: Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước.
- Viện Hán Nôm. (biên dịch & chú giải). Thần phả đình Hoa Xá (bản chép tay, Hán – Nôm). Lưu giữ tại đình Hoa Xá, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội.
- Phan Huy Lê (chủ biên). (2011). Lịch sử Việt Nam – Tập 1: Thời đại Hùng Vương đến thời Lê sơ. Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.