Đình Hưng Lộc (Nghĩa Hưng, Nam Định)

Đình Hưng Lộc (Nghĩa Hưng, Nam Định)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đình Hưng Lộc tọa lạc ở phía tây nam thôn Hưng Lộc, thuộc xã Nghĩa Thịnh, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định (cũ). Đình nằm trong quần thể di tích đình – chùa Phúc Lộc và Tháp Đại Bi, với tổng diện tích hơn 1.000 m², trải dài ven sông Đào. Phía trước đình là nhà văn hóa thôn Hưng Lộc, tạo nên một không gian sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng gắn bó chặt chẽ với đời sống cộng đồng dân cư địa phương.

Đình Hưng Lộc là nơi thờ Thái úy Đại tướng Phạm Cự Lượng,  một danh tướng kiệt xuất, có nhiều công lao to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước dưới hai vương triều Đinh và Tiền Lê. Theo ghi chép trong Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam, ông còn được biết đến với tên gọi Phạm Cự Lạng.

Lịch sử và nhân vật

Đình Hưng Lộc hiện chưa xác định được chính xác niên đại xây dựng, các nguồn tư liệu còn tồn tại đưa ra những thông tin khác nhau, chưa có sự thống nhất. 

Theo nội dung ghi chép trong cuốn thần tích “Hưng Lộc hương thần từ sự tích” (Sự tích đền thờ thôn Hưng Lộc) do Thượng thư bộ Hộ Nguyễn Huy Oánh biên soạn vào năm Cảnh Hưng thứ 12 (1751), hiện còn được lưu giữ tại đình Hưng Lộc, thân thế và sự nghiệp của danh tướng Phạm Cự Lượng được thuật lại như sau:

Phạm Cự Lượng sinh ngày 20 tháng 11 năm Giáp Thìn (944), thân phụ là Phạm Mạn, thân mẫu là Trần Thị Hồng, quê tại Khúc Giang, Nam Sách (thuộc tỉnh Hải Dương). Mẹ là Trần Thị Hồng sinh được 8 người con 5 trai, 3 gái đều hiển đạt. Ông nội là Phạm Chiêm, giữ chức Đồng Giáp tướng quân đời Ngô vương Quyền. Ông lớn lên trong một gia đình có truyền thống văn võ, sớm bộc lộ tư chất thông minh, lại cần cù học hỏi, tinh thông cả võ nghệ lẫn văn chương, Ông thường cùng anh cả là Phạm Hạp đem tiền của chiêu dụ mọi người, mua ngựa luyện quân.

Trong bối cảnh xã hội nhiều biến động, Phạm Cự Lượng cùng người anh là Phạm Hạp đứng ra chiêu mộ hiền tài, tôn Đinh Bộ Lĩnh làm minh chủ. Nhờ tài năng và đức độ, ông được Đinh Bộ Lĩnh tin tưởng và trọng dụng, phong giữ chức Phòng ngự sứ Tiên phong tướng quân, giao nhiệm vụ trấn giữ vùng cửa biển Đại Ác. Khu vực này nằm ven biển, gần cửa sông Đáy, là điểm hợp ngã ba sông, tương ứng với địa bàn phía nam huyện Ý Yên và phía bắc huyện Nghĩa Hưng, bao gồm các thôn Hưng Lộc, Hải Lạng, Hưng Nghĩa, Thượng Kỳ, Hạ Kỳ…, nay thuộc xã Nghĩa Thịnh.

Năm 968, sau khi dẹp yên loạn mười hai sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, chọn Hoa Lư làm kinh đô, đồng thời thiết lập triều nghi và xây dựng nhà nước phong kiến tập quyền. Với công lao cùng đức độ nổi bật, Phạm Cự Lượng được phong giữ chức Tâm phúc tướng quân, đảm nhiệm việc thị vệ, bảo vệ hoàng thành.

Đến năm 980, nội bộ triều đình rơi vào biến động khi Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn lần lượt bị sát hại. Giữa các đại thần nảy sinh mâu thuẫn sâu sắc về quan điểm trung quân, dẫn đến tình trạng rối ren, gây nội chiến. Lợi dụng thời cơ ấy, nhà Tống đem quân sang xâm lược nước ta. Trước tình thế cấp bách, Thái hậu quyết định nhường ngôi cho Lê Hoàn, đồng thời cử Phạm Cự Lượng giữ chức Đại tướng quân, lo việc chuẩn bị lực lượng kháng chiến. Khi Lê Hoàn lên ngôi, Phạm Cự Lượng tiếp tục được phong làm Thái úy, tham tán nhung vụ, giữ vai trò quan trọng trong triều chính và quân sự.

Năm Nhâm Ngọ (982), Phạm Cự Lượng cùng Hoàng đế Lê Hoàn thân chinh đánh dẹp quân Chiêm Thành, giành được những thắng lợi to lớn. Sang năm 983, ông tuân theo chiếu chỉ của triều đình, trực tiếp chỉ huy việc khai mở một tuyến sông mới nối từ Đồng Cổ đến Bà Hòa, thuộc địa phận tỉnh Thanh Hóa ngày nay. Bên cạnh việc khai sông, Phạm Cự Lượng còn cho đắp đất hai bên bờ, hình thành con đường lớn, góp phần mở rộng và hoàn thiện mạng lưới giao thông cả đường thủy lẫn đường bộ.

Đến ngày 19 tháng 9 năm Giáp Thân (984), Phạm Cự Lượng qua đời tại quân doanh ở Đồng Cổ, hưởng thọ 41 tuổi. Hay tin, vua Lê Hoàn vô cùng thương tiếc, truyền lệnh đưa linh cữu ông về kinh thành, an táng tại núi Bổ, phía sau kinh đô Hoa Lư, nay thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

Tưởng nhớ công lao to lớn của vị danh tướng, nhân dân vùng Đồng Cổ đã lập đền thờ Phạm Cự Lượng, tôn ông với thần hiệu: “Lê triều Tiên phong Đại tướng quân, Thái úy Đồng Cổ Sơn Thần”.

Ngọc phả đến Hưng Lộc có ghi sự việc năm Đại Bảo (1440-1442), tại vùng núi Đồng Cổ có mưa lớn, nước lên to, cây cối bị đổ, gãy trôi theo dòng nước. Khi ấy có một cây gỗ trôi về bến Bạch Vân, thôn Hưng Lộc, huyện Đại An, trấn Sơn Nam là nơi xưa kia đại tướng quân Phạm Cự Lượng đã từng đóng quân. Cây gỗ đỏ trôi dạt vào bến, bị ông già kéo vó nhiều lần đẩy ra, nhưng lại trôi vào chỗ cũ. Việc lạ này cùng với thần núi Đồng Cổ Phạm Cự Lượng báo mộng cho dân làng nên nhân dân địa phương đã lập đền thờ.

Ngoài thờ  tướng công Phạm Cự Lượng, đình còn thờ bốn vị thuỷ tổ có công khai hoang lập ấp thuộc họ Bùi, Lường, Hoàng, Phạm vào thế kỷ XIII. Công sức của bốn vị tổ đã lập nên cả một vùng đất rộng lớn, gồm nhiều thôn của xã Nghĩa Thịnh ngày nay. Để ghi nhận công lao đó, không riêng gì Hưng Lộc mà các thôn Hải Lạng, Hưng Nghĩa, Nhân Hậu, Bình A đều lập đền thờ. Bức đại tư ở tiền đường đình Hưng Lộc còn ghi: “Công tại vạn thế” nghĩa là công lao tồn tại mãi mãi.

Trải qua chiều dài lịch sử hình thành và tồn tại, đình Hưng Lộc đã nhiều lần được tu bổ, tôn tạo. Các đợt trùng tu diễn ra vào cuối thế kỷ XIX, nửa đầu thế kỷ XX, cụ thể vào các năm 1897, 1939, và gần đây nhất là vào đầu thế kỷ XXI, năm 2002. Cho đến ngày nay đình có quy mô rộng lớn, khang trang hơn. 

Kiến trúc cảnh quan

Đình tọa lạc cạnh khu dân cư sinh sống, phía bên phải đình là cánh đồng rộng lớn của nhân dân địa phương. Đình Hưng Lộc được xây dựng với kiến trúc Tiền Nhất (一) – Hậu Đinh (丁) phía sau gồm Tiền Đường, Trung Đường, Hậu Cung. 

Tam Quan

Tam Quan của đền gồm ba lối cửa, cửa chính được xây dựng hai tầng, có kích thước rộng và cao hơn hai cửa phụ, tầng dưới mái vòm cung, tầng trên là gác chuông, hai bên là hai cửa phụ 1 tầng thấp. Hai bên cửa phụ, có cầu thang dẫn lên gác chuông. Trên phần tường gác chuông đề ba chữ Hán “Văn tướng lệnh”, các cột trụ đều được chạm khắc câu đối chữ Hán trang nghiêm.

Ở mặt trong Tam Quan, phía trong sân đặt hai tượng voi chầu bằng đá, có kích thước lớn, nhìn hướng vào đình. Tượng voi trong tư thế hai chân duỗi về phía trước, thân hình mập mạp, vững chãi. 

Tiền Đường

Qua Tam Quan là một khoảng sân gạch rộng, nơi diễn ra các hoạt động nghi lễ của đình. Công trình gồm năm gian, với hệ thống cửa gỗ kiểu thượng song hạ bản đặc trưng. Ở hai bên đầu hồi hiên đặt hai trụ biểu có hình dáng lồng đèn, chân thắt cổ bồng, phía trước cạnh bậc tam cấp là một lư hương lớn, tạo không gian trang nghiêm cho việc tế lễ.

Đây là khu vực thờ những người có công trong việc xây dựng và phát triển dân làng. Mái đình lợp ngói truyền thống, trên đỉnh mái là hình tượng lưỡng long chầu nguyệt, với đôi rồng có kích thước lớn, uốn lượn và kéo dài suốt phần nóc, thể hiện vẻ đẹp uy nghi và linh thiêng của kiến trúc đình làng Việt.

Trung Đường

Nằm phía sau Tiền Đường là tòa Trung Đường, gồm ba gian, được xây dựng theo kết cấu thượng mê cốn, hạ bẩy kẻ. Công trình được trang trí bằng nhiều mảng chạm khắc tinh xảo với các đề tài quen thuộc trong nghệ thuật truyền thống như rồng chầu, phượng hàm thư, tạo nên vẻ sinh động và trang nghiêm. Tòa Trung Đường được trùng tu vào năm Thành Thái thứ 9 (1897), vì vậy các hoa văn, họa tiết nơi đây mang đậm phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.

Tại đây còn treo các bức đại tự và đôi câu đối nói về công lao của thành hoàng Phạm Cự Lượng, trong đó có câu: 

 Khuông Lê vĩ tích tồn sơn hải/ Bình Tống anh thanh quán cổ kim

dịch nghĩa 

“Công lớn phò giúp nhà Tiền Lê, còn tồn tại với nước non, Tiếng vang oai hùng đánh giặc Tống, còn vọng mãi từ xưa đến nay”

Nằm sâu bên trong là gian Hậu Cung (Chính Tẩm), nơi thờ tướng quân Phạm Cự Lượng, tòa gồm bốn gian nằm dọc nối liền với Trung Đừng tạo thành hình chữ Đinh (丁). Phần lối đi ngăn giữa Hậu Cung và Trung Đường được lắp hệ thống cửa bức bàn để ngăn gian trong cùng của Hậu cung thành một khu riêng

Với kết cấu thượng chồng rường, hạ bẩy kẻ. Dù đã được trùng tu vào năm 1901, nhưng hệ thống cấu kiện gỗ của tòa Chính Tẩm vẫn gần như giữ nguyên phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê (thế kỷ XVII – XVIII). Từ cột lim, con rường, xà ngang đến cánh cửa, tất cả đều được chạm khắc công phu với kỹ thuật chạm kênh bong, nổi khối, tinh tế. 

Tính từ ngoài vào trong Hậu cung có năm bộ vì, bộ vì thứ nhất dựng trên hai cột quân sau gian giữa Trung Đường, có kết cấu theo kiểu ván mê, là một ván gỗ dày hình tam giác cân, được đặt trên cật quá giang, làm nhiệm vụ đỡ xác hoành mái Hậu cung. Bộ vì thứ ba được làm kiểu vì kèo quá giang – trụ báng. Các bộ còn lại đều làm theo kiểu chồng rường. Mỗi bộ vì gồm hai con rường chồng khít lên nhau, ngắn dần về phía trên theo chiều dốc của mái.

Đề tài trang trí tại đây hết sức phong phú, bao gồm các hình tượng long sào, mẫu long giáo tử, trúc hóa long, tiên nữ cưỡi rồng… Bên cạnh vẻ uy nghi của rồng và sự mềm mại của tiên, các nghệ nhân còn khéo léo đưa vào những hình ảnh dân gian gần gũi như trai gái trêu đùa nhau trong mảng chạm “bốn nụ cười”, hay hình tượng các loài vật quen thuộc như rắn, khỉ, sóc. Tất cả hòa quyện tạo nên một không gian nghệ thuật đa dạng, sinh động và giàu sức gợi, vừa trang nghiêm vừa mang hơi thở đời sống, thể hiện ước vọng về cuộc sống bình đẳng, no ấm và thịnh vượng.

Khu Hậu Cung là nơi tập trung nhiều tác phẩm điêu khắc đặc sắc. Trên bộ vì và các mảng ván mê phía trước, ngay trước tượng Thái úy Phạm Cự Lượng, là hình ảnh hàng chục con rồng được chạm khắc tinh vi theo phong cách nghệ thuật thời Nguyễn và thời Hậu Lê. Rồng với cái đầu khá lớn, nổi bật, trán dô, mắt lồi, mặt giữ tợn, bờm, tóc, đao mắt mềm mại bay ngược về sau, thân uốn khúc, xung quanh là mây ám, rùa phượng, hoa sen… mang đặc trưng phong cách nghệ thuật cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Một trong những mảng chạm tiêu biểu nhất là tác phẩm “Bốn nụ cười dân gian”, khắc họa hình ảnh khóm trúc, mây trời, tiên nữ cưỡi rồng, cùng cảnh một người đàn ông cởi trần, đóng khố đang khoác vai một thiếu nữ, trai gái đùa vui, trêu ghẹo, đang gãi má, lấy ráy tai, miệng cười tủm tỉm, áo quần giản dị, đeo hoa tai, mặc yếm, mình trần, vận quần thắt hầu bao ngang lưng, hình ảnh tiên nữ ngồi trên đầu rồng hóa trúc càng làm tăng thêm vẻ huyền ảo cho không gian thờ tự.

Trong hậu cung, hiện đặt tượng Thành hoàng Phạm Cự Lượng đúc bằng đồng, nặng khoảng 800 kg, được đặt trang trọng trên bệ đá cổ chạm khắc tinh xảo, thể hiện lòng tôn kính của nhân dân đối với vị danh tướng có nhiều công lao với đất nước.

Sự kiện và lễ hội

Bên cạnh những giá trị tiêu biểu về lịch sử và kiến trúc – nghệ thuật, đình Hưng Lộc còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng quan trọng của nhân dân địa phương. Hằng năm, tại đình diễn ra các lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc. Tiêu biểu là lễ hội mùa xuân vào ngày mồng 6 tháng Giêng Âm lịch và lễ hội kỷ niệm ngày sinh của tướng quân Phạm Cự Lượng, được tổ chức từ ngày 18 đến ngày 21 tháng 11 Âm lịch.

Các lễ hội này bao gồm nhiều nghi lễ trang trọng cùng những trò chơi dân gian đặc sắc, phản ánh đời sống tinh thần phong phú và thuần phong mỹ tục được gìn giữ qua nhiều thế hệ của người dân thôn Hưng Lộc, xã Nghĩa Thịnh. Trong đó có các hoạt động tiêu biểu như rước kiệu, thi ông Ỷ, trò “vừa chạy vừa xỏ kim”, tạo nên không khí vui tươi, đoàn kết và đậm đà bản sắc văn hóa truyền thống.

Di vật

Ngoài những kiến trúc mảng chạm khắc nổi bật, đình hiện nay còn lưu giữ 7 câu đối và 3 bức hoành phi, đôi tượng phỗng, lư hương gốm màu da lươn, tượng thờ. 

Xếp hạng

Với những giá trị nổi bật về kiến trúc và nghệ thuật, đình Hưng Lộc đã được Bộ Văn hóa xếp hạng và công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa kiến trúc nghệ thuật vào ngày 21 tháng 6 năm 1993. 

Tài liệu tham khảo

  1. “Bộ vì kèo gỗ trong kiến trúc cổ truyền Việt”, Tạp chí Di sản Văn hóa, số 2 (11), năm 2005.
  2. “Di tích Lịch sử Văn hóa Quốc gia: Đình Hưng Lộc, xã Nghĩa Thịnh, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định”, Kênh YouTube Hào khí Đông A, ngày 4 tháng 3 năm 2022.
  3. Di tích lịch sử văn hóa tỉnh Nam Định, Nxb Văn hóa tỉnh Nam Định (2008). 
  4. “Đình Hưng Lộc xã Nghĩa Thịnh, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định”, Kênh YouTube Nam Định đất và người, ngày 16 tháng 8 năm 2023.
  5. Hội Sử học Hà Nội (2005), Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn, Nxb Hà Nội.
  6. Đinh Xuân Lâm – Trương Hữu Quỳnh (chủ biên) (2005), Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục.
  7. Nguyễn Xuân Năm (2007), Nam Định đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, Sở Văn hóa Thông tin Nam Định.
  8. “Nét đẹp dân gian: Báu vật dân gian dưới mái đình Hưng Lộc”, Kênh VTV, ngày 25 tháng 7 năm 2024.
  9. “Nét văn hóa tâm linh độc đáo vùng Hưng Lộc”, Báo An ninh Thủ đô (điện tử), ngày 20 tháng 02 năm 2012.
  10. “Nghệ thuật kiến trúc đặc sắc của quần thể di tích đình Hưng Lộc và chùa Phúc Lộc”, Báo Nam Định (điện tử), ngày 16 tháng 3 năm 2012.
  11. Văn Quảng ( 2009), Văn hóa tâm linh Thăng Long – Hà Nội, Nxb Lao động.
  12.  Hồ Đức Thọ (2003), Lễ hội cổ truyền ở Nam Định, Nxb Khoa học xã hội.

     

  13.  Trần Hậu Yên Thế, Trần Trung Hiếu, Lê Thị Liễu, Trần May (2022), Tinh hoa mỹ thuật Việt – hình tượng tiên nữ, Nxb Giáo dục Việt Nam.
Chấm điểm

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin
Đinh Hung Loc Nam Đinh (nguon gg) (2)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)