Tên gọi và vị trí địa lý
Đình Kiền Bái là di tích kiến trúc nghệ thuật nằm ở xóm Đông, xã Kiền Bái, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Xưa kia, đình Kiền Bái thuộc trang Hổ Bái, huyện Thuỷ Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương, đến thời Khải Định làng được đổi thành Thuỷ Nguyên và giữ cho đến hiện nay. Đây là công trình kiến trúc điêu khắc tiêu biểu của nghệ thuật kiến trúc thời Lê hiện còn lại ở Hải Phòng.
Đình Kiền Bái thờ hai vị thành hoàng Tòng Tiền và Lôi Công, là hai anh em sinh đôi. Tòng Tiền là vị thần bảo vệ, luôn giúp đỡ con người vượt qua khó khăn trong cuộc sống, thường được thờ tại các đình, miếu để cầu mong bình an và may mắn. Lôi Công, thần cai quản sấm sét và điều khiển thiên nhiên, bảo vệ dân làng khỏi thiên tai và bệnh tật. Cả hai vị thần này đều âm phù giúp vua Trần trong công cuộc đánh giặc, bảo vệ đất nước.
Lịch sử và nhân vật
Theo tương truyền, từ thuở xa xưa, có một người Hoa kiều tên Bảo sang làm ăn buôn bán ở bến sông và chợ Kiến. Ông là người hiền lành, chăm chỉ và được lòng dân quanh vùng nhờ vào sự tín nhiệm trong việc buôn bán. Tại trang Hồ Bái, bà Hoàng Thị Thanh, một cô gái xinh đẹp, đã đem lòng yêu mến ông. Họ kết duyên vợ chồng, và chẳng bao lâu sau, bà Thanh mang thai sinh đôi hai con trai khôi ngô tuấn tú, được đặt tên là Tòng Tiền và Lôi Công.
Không lâu sau khi sinh, bà Thanh qua đời vì bệnh tật, sau khi lo tang lễ xong, ông đưa hai con trở về quê. Khi Tòng Tiền và Lôi Công khôn lớn, họ quyết định trở lại làng Kiển (trang Hồ Bái) – nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Một hôm, khi hai anh em đi viếng mộ mẹ về, trên đường ven sông Kiền, trong lúc đùa giỡn, Lôi Công bị ngã xuống nước và gãy tay. Tòng Tiền lao xuống cứu, nhưng không may cả hai đều chết đuối. Dân làng vớt xác lên, nhưng chưa kịp chôn cất thì mối đất đã đùn lên phủ kín thành nấm mộ.
Cả hai anh em đã hiển linh, phù hộ cho dân làng qua cơn hoạn nạn. Tỏ lòng biết ơn, nhân dân lập đền miếu thờ phụng Tòng Tiền và Lôi Công, cầu mong sự bảo vệ và bình an.
Năm 1288, trước trận đại phá quân Nguyên Mông trên sông Bạch Đằng, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn trên đường hành quân, đã cho quân sĩ nghỉ qua đêm tại trang Hổ Bái. Đêm ấy, hai vị thần Tòng Tiền và Lôi Công đã báo mộng cho Hưng Đạo Đại Vương biết sẽ nổi “âm phong” từ hướng Đông Nam để tạt bè lửa vào thuyền địch. Sau chiến thắng lịch sử trên sông Bạch Đằng, Quốc Công thấy giấc mơ linh nghiệm, bèn cấp 300 quan tiền để dân làng tu tạo đình Kiền Bái, đồng thời tấu với vua ban sắc, cho phép dân làng được thờ cúng.
Hiện nay, dấu tích kiến trúc của ngôi đền thời Trần không còn, nhưng trên thân cột cái của đình Kiền Bái có khắc dòng chữ “Chính Hoà lục niên” tức năm 1685. Đây là một trong không nhiều ngôi đình có niên đại sớm nhất ở vùng biển Hải Phòng.
Sau thắng lợi trên sông Bạch Đằng vào ngày mồng 9 tháng 4 năm 1288, Tiết chế Quốc Công Hưng Đạo Đại Vương thấy giấc mơ lĩnh nghiệm, bèn cấp cho dân làng 300 quan tiền để tu bổ đình Kiền Bái to đẹp hơn, đồng thời xin vua ban cấp sắc, cho phép dân làng phụng thờ 2 vị thần có hiếu với mẹ, có nghĩa với dân lại có công “âm phù” phá giặc.
Đình Kiền Bái được xây dựng vào năm 1685, ở thế kỷ XVII, dưới triều đại vua Lê Hy Tông. Trên thân các cột đình ghi dòng chữ “Chính Hoà lục niên, thập nhị nguyệt, sơ cốc nhật Kinh Môn phủ, Thủy Đường huyện, Kiền Bái xã, thủ khoán kiêm trùng phường Phạm Văn Vinh… công đức…”.
Đến nay, sau hơn 300 năm tồn tại, ngôi đình đã trải qua nhiều lần trùng tu, do đó cũng có sự thay đổi về mặt kiến trúc. Được biết, ở cột đình hiện còn ghi lại thông tin về lần tu sửa lớn vào ngày 06 tháng 09 năm Tự Đức 12 (năm Kỷ Mùi – 1859) và vào mùa hạ năm Bảo Đại 12 (1937).
Năm 1993 Đình được tu sửa vào ngày 01 tháng 04 năm 2004 Đình Kiền Bái được nhà nước cấp kinh phí trùng tu đến ngày 10 tháng 11 năm 2006 khánh thành.
Năm 2002, nhân dân địa phương cũng đã cho xây cổng, tường bao ngăn cách khuôn viên của Đình với bên ngoài.
Kiến trúc cảnh quan
Đình Kiền Bái tọa lạc trên một khu đất cao ráo, bao quanh là khu dân cư đông đúc. Đây là một trong hai ngôi đình tại Hải Phòng còn lưu giữ nguyên vẹn hệ thống ván sàn từ thời kỳ xây dựng. Hiện nay, đình gồm những hạng mục chính như Cổng, Đình Chính và Nhà Ngang.
Cổng
Cổng đình Kiển được thiết kế theo kiến trúc Nghi môn tứ trụ, với hai hàng cột trụ kiểu lồng đèn tạo thành lối ra vào chính. Hai cột trụ này cao hơn 4 mét, trên đỉnh cột là bốn con chim phượng vểnh đuôi lên theo kiểu trái giành, đầu quay nhìn về bốn phía.
Hai cột trụ biểu ở hai bên có chiều cao thấp hơn, lối cổng này được xây bịt kín bằng bức tường lửng, chỉ có duy nhất một lối đi ở cửa chính. Trên đỉnh cột trụ là hai con lân chầu, quay đầu vào nhau. Cách cổng chính khoảng 3 mét là một cổng phụ, được thiết kế đơn giản với hai cột trụ chịu lực cho cánh cổng. Đây là lối ra vào thường xuyên của người dân trong làng, liền với cổng là dãy tường bao quanh, tạo thành khuôn viên riêng biệt cho không gian đình.
Qua cổng ở vị trí sân có đặt lư hương lớn, tiếp đó là hai tượng ngựa bằng đá đứng ở hai bên, đầu ngựa hướng vào trong đình.
Đình Chính
Đình Kiền Bái là một công trình kiến trúc độc đáo, có kết cấu một tầng tám mái, hoàn toàn làm bằng gỗ lim. Công trình bao gồm 5 gian và 2 chái, có mặt bằng hình chữ Đinh (丁), quay hướng Nam. Đình được chia thành hai phần chính: Tiền Đường và Hậu Cung. Tiền Đường có nền sát mặt đất, còn các gian còn lại được đặt bưng gỗ, lát ván sàn và cách mặt đất khoảng 80cm. Gian giữa dùng để tổ chức các nghi lễ tế tự, còn các gian hai bên dành cho các hoạt động hội họp, sinh hoạt làng xã.
Kết cấu vì nóc của đình Kiền Bái được thiết kế theo kiểu giá chiêng chồng rường con nhị, mỗi gian trong đình đều được trang trí cầu kỳ với cửa võng được sơn thếp vàng. Các cột đình và khu vực trên khám thờ được treo những câu đối và hoành phi. Các bệ thờ bằng gỗ được chạm khắc lộng, bên trên bày trí các đồ thờ cúng.
Đình Kiền Bái nổi bật với những tác phẩm chạm khắc gỗ tinh xảo, khắc họa các họa tiết phong phú như rồng mây, chim muông, hoa lá cách điệu, tia lửa,.. và các con vật quen thuộc như lợn, voi, dê, ngựa, cá, trong đó, hình ảnh rồng chiếm vai trò chủ đạo. Bên cạnh đó, các cảnh sinh hoạt dân gian cũng được khắc họa sinh động, như hình ảnh rồng nối đuôi nhau, các con thú bốn chân leo trèo và ăn lá, hay cảnh em bé chăn trâu ngồi trên lưng trâu. Những tác phẩm này tạo nên một không gian trang trí vừa sống động vừa gần gũi, phản ánh đời sống và văn hóa dân gian. Các đầu bẩy chạm hoa lá, lưỡi lửa, ở bức chồng rường ở đầu hồi, có chạm hình tượng người cưỡi phượng bay, nghệ thuật chạm khắc ở đình Kiền Bái tập chung ở lá gió, xà ngưỡng, vì cốn, đầu dư, cánh gà.
Hậu Cung của đình là nơi thờ các vị thành hoàng làng. Trong đó, khám thờ đặt tượng của hai vị thành hoàng, một vị có mặt đỏ và một vị có mặt trắng, với bức đại tự “Thượng Đẳng tú linh”. Gian Hậu Cung chỉ mở cửa vào dịp lễ hội của làng, là nơi linh thiêng và trang trọng. Mái đình lợp ngói mũi hài, với các góc đầu đao uốn cong hình rồng. Bờ chảy mềm mại, góc mái đặt con xô, kìm, và giữa nóc mái là hình tượng lưỡng long chầu nguyệt, Thân rồng vồng lên, vây lưng lớn, dáng vẻ gầy guộc.
Nằm ở sân bên tay trái đình có một Nhà Bia, gồm 3 gian, hai bên đầu hồi xây tường kín, hai mặt còn lại để thoáng không có tường bao. Bên trong có đặt một tấm bia đá có kích thước lớn, hai mặt chữ được khắc chữ Hán, hai bên là hai bia đá ghi lại tên những người đã công đức xây dựng đình. Nhà Bia không chỉ có giá trị về mặt kiến trúc mà còn là nơi lưu giữ những dấu ấn lịch sử và văn hóa của cộng đồng.
Đình Kiền Bái được xem là ngôi đình kế thừa tinh hoa kiến trúc việt thông qua bố cục, trang trí, nghệ thuật chạm khắc, thể hiện nghệ thuật kiến trúc ở thế kỷ XVII đạt đỉnh cao.
Sự kiện và lễ hội
Lễ hội đình Kiền Bái diễn ra trong 3 ngày mùng 10, 11, 12 tháng 11 Âm lịch hàng năm. Lễ hội thu hút đông đảo du khách và các nhà nghiên cứu cùng toàn thể nhân dân, du khách thập phương tới tham gia, là dịp để người dân bày tỏ lòng thành kính đối với vị thành hoàng làng và tưởng nhớ công lao của các anh hùng đã có công khai hoang, lập ấp, bảo vệ đất nước, xây dựng cộng đồng.
Bên cạnh lễ hội lớn vào tháng 11, hàng tháng vào ngày rằm và mùng 1, các hội đồng niên tổ chức lễ dâng tuần tế. Vào ngày 5 tháng 5 là lễ tế cơm mới, và ngày 10 tháng 10 là lễ tế trục thập.
Hiện vật
Hiện nay, Đình Kiền Bái còn giữ được hai sập thờ đá, đặt ở trước sân, đối xứng qua gian giữa tiền tế. Sập thờ đá được làm vào Quý Tỵ (năm 1893). Cửa võng giữa hai hàng cột cái sau gian giữa tiền tế hiện còn một bức cửa võng bằng gỗ được chạm trổ nhiều họa tiết rất sinh động, mang phong cách nghệ thuật cuối thế kỷ XVII và cũng thực sự là những di vật có giá trị tại di tích.
Hiện ở Đình còn khá nhiều hoành phi, câu đối ca ngợi vẻ đẹp quê hương cũng như công lao của các vị Thành Hoàng. Những câu đối này cũng có những giá trị văn hóa nhất định và thể hiện tấm lòng của người dân địa phương với một số di sản văn hóa quý báu của cha ông ta đã gây dựng và để lại.
Xếp hạng
Đình Kiền Bái là di tích lịch sử văn hoá có giá trị nghệ thuật cao, được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia năm 1986.
Tham khảo
- Đỗ Xuân Trung, đình Kiền Bái đôi điều nhận thức, Di sản văn hoá vật thể, số 4(29)-2009.
- Trần Phương, Đình Kiền Bái một di tích nghệ thuật sáng giá trên đất Hải Phòng, Di sản văn hoá, số 1(22)-2008.