Tên gọi và vị trí địa lý
Đình Kiên Lao, còn gọi là Đình Xuân Quang, tọa lạc tại thôn Kiên Lao, xã Đại Đức, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Đình thờ hai vị Thần Hoàng làng Đào Công Chiêu và Đào Công Hiển, người đã có công lớn trong việc đánh giặc Tống vào thế kỷ X.
Huyện Kim Thành, theo tài liệu Đại Nam nhất thống chí, xưa kia thuộc đất Phi Gia, Trà Hương. Trong thời kỳ Minh thuộc, khu vực này thuộc huyện Cổ Phí, châu Đông Triều, phủ Tân An. Đến thời Lê Thánh Tông (1469), khu vực này được đổi tên thành huyện Kim và thuộc phủ Kinh Môn. Năm Minh Mệnh thứ 14 (1833), huyện Kim Thành chuyển về phủ Kiến Thuỵ, và hiện nay thuộc tỉnh Hải Dương.
Lịch sử và nhân vật
Huyện Kim Thành có hệ thống sông ngòi bao quanh giống như một bức thành vàng, phía Nam liền với huyện An Lão, phía Tây Bắc tiếp giáp sông của huyện Giáp Sơn rồi chảy qua sông Tam Kỳ thuộc xã Hoàng Lâu và tại đây chia dòng chảy qua huyện An Dương đi về phía Đông rồi cùng đồ ra cửa bể (một cửa gọi là Cửa Rào, một cửa gọi là Cửa Cẩm).
Cuốn Lịch sử tỉnh Hải Dương có nhắc: “Theo thần phả tại đình Kiên Lao, xã Đại Đức, huyện Kim Thành, có hai người: Đào Công Chiêu và Đào Công Hiển cùng nhau kết bạn. Nghe theo chiếu truyền tìm người tài giỏi cứu nước, cứu dân của vua Lê Đại Hành, hai ông chiêu nạp binh sĩ ở trang Cổ Pháp (huyện Phụ Phong, phủ Thái Bình, trấn Sơn Nam), rồi lên đường vào Hoa Lư yết kiến vua, được nhà vua phong làm Đại tướng quân. Vua Lê Đại Hành cử hai ông đem quân đi chặn các cửa biển phía đông nam. Hai ông đem quân thủy bộ rầm rầm tiến tới, đến địa phận trang Kiên Lao, quận Trà Hương thì trời xế chiều, hai ông cho quân lính hạ trại. Nhân dân Kiên Lao cũng xin góp sức lập phòng tuyến cùng binh sĩ. Sau, hai ông tham gia cùng đại quân do vua Lê Đại Hành thân chinh đánh giặc Tống và hy sinh. Vua phong cho Đào Công Chiêu là Hộ quốc cư sĩ linh ứng Đại vương, lại tặng phong Hộ quốc cư sĩ quý ban thông minh anh nghị cương đạo hùng tài vĩ lược Đại vương”.
Theo truyền thuyết, “Thần thành hoàng: Hiệu là “Trung – Hoa – Tể – Đại – Tướng – Quân” tên húy Đức thánh đệ nhất là Chiêu (昭) đức đệ nhị là Hiển (顯). Vị đệ nhất là Nhân thần; vị đệ nhị là thiên thần. Hai vị đi chu du gặp nhau, kết giao huynh đệ.
Khi nước ta bị giặc Chiêm Tống tấn công, nhà vua phát chiếu chiêu mộ nhân tài, Hai ngài nghe chiếu chỉ mới yết bảng chiêu binh ngay ở bản trang (tức Cổ Pháp trang) mộ được cả hào – kiệt – sĩ – tốt hơn vài nghìn người, rồi vào bệ kiến ứng tuyển, ứng đối lưu loát. Vua phong ngay cho chức Trung Hoa Tể Đại Tướng quân, rồi lĩnh chỉ đi tuần thú các cửa bể về phía đông nam, đem quân thủy bộ đến Hải Dương trấn, Trà Hương quận Kiên Lao trang địa đầu đóng quân lại đặt đồn chống giữ giặc. Dân trang Kiên Lao lấy làm kinh sợ, mới sửa lễ ra xin làm thần tử, vì thế bấy giờ ngài mới cho làm dinh đồn để sau làm sở phụng sự (tức là ngôi đình thờ bây giờ) rồi cho dân hai nén vàng và tờ phó chúc tên húy là Chiêu Hiển.
Sau khi giặc Tống bị đánh bại, phải tẩu hồi Bắc quốc, hai ngài đuổi theo giặc đến đồn Nghĩa Trang, giời tối mù mịt mây ám hai ngài theo giòng nước thác xuống bể mất cả. Vậy là hai vị cùng hóa ngày mười một tháng Chạp.
Sau đó, vua ra lệnh phong tặng hai ngài làm Phúc Thần và ban sắc phong: “Chiêu công hộ quốc cư sĩ linh ứng Đại Vương” và “Hiển công cổ tự hiển ứng Đại Vương”. Các triều đại sau tiếp tục sắc phong cho hai ngài vì những linh ứng của họ.
Mặc dù thông tin chi tiết về cuộc đời và công trạng của Đào Công Chiêu và Đào Công Hiển không được ghi chép rõ ràng trong các sử sách, nhưng trong truyền thống dân gian và tín ngưỡng thờ cúng của người dân địa phương, họ được tôn thờ như những vị Thành Hoàng có công bảo vệ làng xã, mang lại bình yên cho dân cư.
Đình Kiên Lao hiện chưa rõ chính xác được thời gian xây dựng, dựa vào dòng chữ được khắc tại cửa phụ của Hậu Cung: “Đồng Khánh nguyên niên tuế thứ Bính Tuất thập nhất nguyệt sơ lục nhật lương thời bản xã trùng tu“, tức đình Kiên Lao được trùng tu vào ngày 6 tháng 11 năm Bính Tuất (1886), triều đại Đồng Khánh.
Từ đó tới nay, đình Kiên Lao cũng nhiều lần tu sửa những hạng mục công trình để hoàn thiện như bây giờ.
Kiến trúc cảnh quan
Đình Kiên Lao với diện tích 0,15 ha, tọa lạc trên một khu đất thoáng mát có hình dáng như rồng chầu hổ phục, xung quanh là khu dân cư sinh sống, phía trước mặt là một hồ bán nguyệt. Bên trong sân đình được trồng nhiều cây cổ thụ lâu năm, trải qua nhiều lần trùng tu, hiện nay đình đã trở nên khang trang hơn với một số hạng mục công trình được xây mới.
Cổng đình được thiết kế theo kiểu cổng Tam Quan, gồm ba cửa ra vào. Cửa chính giữa là cửa lớn nhất, có kết cấu từ hai cột trụ biểu, không có cửa và mái che. Hai trụ biểu có hình dáng lồng đèn, được trang trí vân mây, ở thân cột được khắc câu đối bằng chữ Hán, phía trên đỉnh cột là hai con nghê chầu quay mặt vào nhau.
Cổng chính nối liền với hai cổng phụ ở hai bên bằng một bức tường lửng, trang trí hồi văn và tứ quý (Tùng, cúc, trúc, mai). Hai cổng phụ có diện tích nhỏ hơn, thấp hơn và được xây dựng với hai tầng tám mái, cửa uốn vòm cung, lợp ngói mũi hài, các góc đầu đao được thiết kế hình rồng uốn cong, trên đỉnh mái là hình tượng lưỡng long chầu nguyệt. Từ cổng phụ là dãy tường bao chạy bao quanh đình, tạo không gian riêng biệt cho ngôi đình. Cổng đình Kiên Lao là công trình mới được xây dựng lại vào năm 2020, góp phần làm tăng thêm vẻ đẹp và sự hoành tráng của đình Kiên Lao.
Qua cổng đình là bức bình phong dạng cuốn cư, trang trí hoa sen, rồng, vân mây, đế bình phong là hình hổ phù. Phía trên cuốn thư có ghi chữ Quốc ngữ “Đình Kiên Lao, Di tích lịch sử văn hoá Quốc gia”.
Đình Kiên Lao quay về hướng Nam, được xây dựng theo hình chữ Đinh (丁), gồm 5 gian Tiền Tế và 3 gian Hậu Cung. Hệ thống cửa đình làm bằng gỗ, được thiết kế kiểu bức bàn, thượng song hạ bản. Bên trong đình, không gian thờ tự được trang trí với các án thờ gỗ, đồ thờ cúng, hình tượng chim hạc. Mỗi gian thờ đều được làm cửa võng chạm kênh bong, chạm lộng sơn thếp vàng, kết hợp với các lọng vải, y môn, bộ bát bửu, ở các cột đều được treo câu đối và phía trên cửa võng treo hoành phi. Trong cung, có hai cỗ ngai bài vị và hai cỗ bành kiệu tươi màu sơn đỏ thếp vàng, thờ cúng hai vị Thành Hoàng làng.
Mái đình được lợp ngói mũi hài, trên nóc có đắp hai con kìm, ở giữa là hình tượng lưỡng long chầu nguyệt.
Sự kiện và lễ hội
Lễ hội làng Kiên Lao, diễn ra vào ngày 15 tháng 11 Âm lịch hàng năm, nhân dân trong vùng chuẩn bị đồ tế lễ như: Vàng, ngựa, mũ áo (đồ mã); trầu rượu. Lễ mặn có xôi, thịt lợn. Lễ chay có Oản chè, các thứ hoa quả, bánh vuông, bánh tròn tráng. bánh dày, bánh trưng, bánh đường, trà phẩm,…
Sáng ngày 15, các tráng đinh 4 giáp rước lễ vật ra đình, buổi chiều rước kiệu thần, và tối ngày 15 tổ chức tế yên vị. Tối ngày 17, làng làm lễ tế rã đám. Lễ hội Kiên Lao nổi bật với tục rước kiệu đặc sắc, đậm đà bản sắc văn hóa truyền thống, thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia. Trong đoàn rước, đi đầu là cờ thần và cờ ngũ sắc rực rỡ, tiếp theo là đoàn nghi trượng với bát biểu và các đồ tế khí trang trọng. Sau đó là tiếng trống chiêng rộn ràng, cùng với bát âm khởi nhạc, hai kiệu thần vị của hai vị thần hoàng được khiêng song hành, kèm theo tế quan và quan viên chức trong làng, tất cả dân làng thành kính theo sau. Đoàn rước khởi hành từ đình, đi qua các con phố về miếu thờ các thần hoàng để rước mũ thánh về đình. Ba ngày sau, nghi thức lại diễn ra với việc rước trả mũ từ đình về miếu.
Một điểm đặc biệt của lễ hội chính là các thanh niên trai tráng cùng khiêng Kiệu chạy, kiệu bay, trở thành một tục lệ mang đậm nét riêng biệt không thể thiếu của dân làng Kiên Lao.
Phần hội của lễ hội Kiên Lao được diễn ra với các trò chơi dân gian như cầu thùm, bắt vịt, tam cúc, tổ tôm điếm, cây đu, vật, cờ người, kéo co, chọi gà, và các gánh hát tuồng, chèo.
Hiện vật
Hiện nay đình Kiên Lao còn lưu giữ được 2 cuốn thần phả và 12 đạo sắc phong thời Lê và thời Nguyễn phong cho hai vị Thần hoàng làng và nhiều cổ vật và đồ thờ có giá trị như: Khám thờ thời Nguyễn, bức đại tự, câu đối, ương án thời Nguyễn.
Xếp hạng
Đình Kiên Lao được xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia theo quyết định số 2233 – VH/QĐ ngày 26 tháng 6 năm 1995.
Tham khảo
- Dương Thị The – Phạm Thị Thoa (1981), Tên Làng Xã Việt Nam Đầu Thế Kỷ XIX, Nxb Khoa Học Xã Hội.
- Đinh Khắc Thuần (2009) , Địa Phương Chí Tỉnh Hải Dương Qua Tư Liệu Hán Nôm, Nxb Khoa Học Xã Hội
- Lịch sử tỉnh Hải Dương, tập II, (Từ năm 905 đến năm 1883), Nxb Chính trị Quốc gia sự thât (2021).
- Cẩm nang Du lịch Hải Dương, Nxb Thế Giới (2018)