Đình Linh Đàm (Hoàng Mai, Hà Nội)

Đình Linh Đàm (Hoàng Mai, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đình Linh Đàm tọa lạc tại khu đô thị Linh Đàm, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.  Xưa kia thuộc xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì, nay do việc mở rộng địa giới nội thành, đình đã thuộc địa phận quận Hoàng Mai, nằm cách trung tâm thành phố 8km. 

Đình thờ thủy thần là học trò của nhà nho Chu Văn An, tên chữ Bảo Ninh, thần có công làm mưa chống hạn giúp 7 làng trong vùng:  làng Bằng Liệt, Tứ Kỳ, Tựu Liệt, Đại Từ, Linh Đàm, Hữu Thanh Oai và Lê Xá, sau khi thần mất, dân làng các xã đều lập thờ thần và phong là Thủy thần Bảo Ninh Vương.

Lịch sử

Theo văn bia “Phụng sự hậu thần bi ký”: trước đây ở Linh Đàm có ngôi đền thờ tên Hiển Khánh. Năm Chính Hoà thứ 9 thời Lê (1688), có bà Vương phủ thị nội cung tần Trần Thị Ngọc Tể công đức 4 mẫu ruộng, 600 quan tiền cổ để làng sửa ngôi đền thành ngôi đình. Như vậy tiền thân của đình Linh Đàm là được bắt nguồn từ ngôi đền, sau đó mới mở mang rộng thành đình, trở thành trung tâm tín ngưỡng cho nhân dân cả vùng. 

Vào các năm 1698, 1781, 1926 ngôi đình đã được tu bổ lại, gần nhất là tháng 10 năm 2001 năm Tân Tỵ, ngôi đình đã xuống cấp trầm trọng, dân làng đã đóng góp tiền để sửa chữa, tu bổ, đến tháng 11 năm 2002 năm Nhâm Ngọ thì hoàn thành. 

Thuỷ thần Bảo Ninh 

Xưa kia làng Văn, thôn Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay thuộc xóm Văn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội có nhà nho Chu Văn An, là người chính trực, đã từng đỗ Thái Học Sinh nhưng không ra làm quan mà mở trường dạy học ở Cung Hoàng, bên kia sông Tô Lịch, học trò theo học rất đông. 

Một trong số các học trò theo học, có một thư sinh rất chăm chỉ nhưng không ai biết tung tích của người học trò đó, sau khi theo dõi, nhận thấy thư sinh đó đều biến mất sau đầm Lân Đàm mỗi khi tan học, Ông biết đó là thuỷ thần. 

Năm đó nhân dân gặp đại hạn, ruộng đồng khô nứt nẻ, mùa màng thất bát, dân làng đói khổ, Chu Văn An đã gọi chàng thư sinh đó đến để nhờ giúp dân làng. Để đáp lại công dưỡng dạy của thầy, chàng thư sinh đã dùng nghiên bút đổ nước vào mài mực, vung bút nước vẩy khắp bốn phía, mực son vung đến đâu, chỗ đó xuất hiện sấm chớp,  mực đen vung lên trời thi xuất hiện mây đen, mưa lớn, nhờ đó dân làng thoát khỏi đại hạn. 

Sau khi giúp dân làng, chàng thư sinh từ trường học trở về đầm Linh Đàm thì có tiếng nổ rất lớn, thầy trò Chu Văn An ra xem thì thấy xác của một con thuồng luồng trôi dạt về cửa sông Tô Lịch, là thuộc địa phận xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì. Sau đó Chu Văn An cùng dân làng mai táng xác thuồng luồng và được làm đền thờ ở xã Lân Đàm, huyện Thanh Đàm (ngày nay thuộc Linh Đàm, Hoàng Mai). 

Nhân dân các vùng lân cận lập đền thờ để tưởng nhớ công đức của thần. Về sau các triều sắc phong cho thần là “Thượng đẳng thần” và cho phép 7 làng quanh vùng lập miếu thờ. Mộ của thần Bảo Ninh hiện vẫn còn bên cầu Bươu (xã Thanh Liệt, Thanh Trì).

Kiến trúc 

Đình Linh Đàm có kiến trúc hình chữ Công trên khu đất cao, trước mặt đình trông ra hồ Linh Đàm, trong khuôn viên đình được trồng rất nhiều cây cổ thụ tạo bóng mát và thêm linh thiêng cho ngôi đình. 

Các kiến trúc hiện nay gồm: Tam quan, Đại đình, hai nhà Giải Vũ, kiến trúc hiện nay là phong cách của đợt trùng tu năm 2001, các cột gỗ mục được thay bằng gỗ tốt, các bức trang trí gỗ được giữ nguyên chỉ chỉnh sửa lại 1 số nét bị mục. 

Cổng Tam quan 

Ở phía trước cổng Tam quan, nằm bên tay trái là góc đặt tấm bia đá “phụng sự hậu thân bị ký”, có dáng trụ đứng, 4 mặt, phần đế được làm 3 cấp giật thu nhỏ dần, thân bia được trang trí hoa dây, rồng khắp các diềm. 

Qua tấm bia đá là cổng  xây kiểu tam quan, cổng ra vào ở giữa có kích thước rộng, lớn nhất, cửa gỗ, lợp mái ngói mũi hài, trên nóc mái chính giữa có gắn hình mặt nguyệt. 

Ở hai bên là hai cửa phụ, có kích thước nhỏ hơn, chiều cao thấp hơn so với cổng giữa. Hai bên cột được khắc chữ Hán chạy dọc thân cột. 

Đại đình

Phía trước toà Đại đình là bức bình phong đắp dạng cuốn thư cao hơn 2m, đỉnh trụ bức bình phong đắp hình 2 con rồng chầu mặt nguyệt, đặt trước tấm bình phong là hai cột trụ biểu 3m, trên đỉnh có gắn 4 hình chim phượng kết thành trái giành,  tiếp đến là một khoảng sân rộng lát gạch Bát Tràng, đây là khoảng sân chính của đình. 

Trước thềm nhà Đại đình có đặt lư hương lớn và hai cây đèn hai bên, đầu đốc bậc thềm xây hai cột trụ biểu ở hai bên, đỉnh trụ có gắn bốn hình chim phượng, gian giữa thềm bậc lên xuống có gắn hai con rồng đá. 

Nhà Đại đình gồm 5 gian hai chái, bộ vì đều có kết cấu theo kiểu “thượng giá chiêng, hạ kẻ”. Giá chiêng được tạo thành bởi hai cột trốn đặt trên câu đầu to, dày. Đầu kẻ án sâu vào chân mộng, cột quân và cột hiên. 

Các hàng cột đặt trên các chân tảng bằng đá, các gian đều được làm cửa võng, hoành phi, câu đối đều sơn son thếp vàng. Bộ khung đại đình được trang trí tỉ mỉ, tạo cho các bộ vì trang trí hoa lá, vân mây, bằng kỹ thuật chạm nổi, đường nét to mập. Đầu kẻ chạm sâu các hình rồng mây, mái lợp ngói ta, trên nóc mái có gắn hình rồng chầu mặt trời. 

Trong số các bức câu đối có trong Đại đình, có một câu đối được vua Khải Định tặng, mang nội dung ca ngợi công đức của người học trò nghĩa khí:

Phiên âm:

Mặc vũ đại thiên công vạn cổ ân ba hà hải nhuận;

Thanh Đàm chung địa tú thiên thu để trụ ngật phong cao.

Dịch nghĩa:

(Mưa mực thay trời, muôn thuở công ơn ngang biển cả;

Thanh Đàm hun đúc, ngàn nám miếu mạo ngất trời cao)

Hậu cung gồm ba gian, xây kiểu tường hồi bít đốc, bộ vì đỡ mái làm kiểu “ván mê đắp hình hổ phù”. Trên cửa ra vào hậu cung có gắn bức hoành phi dạng cuốn thư khắc chữ Hán, trang trí rồng chầu nguyệt. 

Bên trong có xây bệ cao là nơi đặt khám thờ được sơn son thếp vàng, nghệ thuật khắc chạm mang phong cách thời Lê, trong khám có long ngai có đặt bài vị, hia, áo, mũ của thần. 

Tả mạc/Hữu mạc 

Hai bên Đại đình là hai dãy Tả/Hữu mạc, nền nhà cao hơn nền sân 3 bậc thềm lên xuống, gồm 3 gian, hiên rộng 1m, chống đỡ bởi 4 cột đá. Các gian cửa ra vào làm cửa bức bàn, mái lợp ngói mũi hài, hai bên nóc mái được gắn hình con kìm quay mặt vào nhau. 

Lễ hội 

Vào ngày mùng 10 tháng 2 hàng năm, đình Linh Đàm tổ chức lễ hội truyền thống. 

Ngày mùng 9 dân làng cùng nhau dọn dẹp đường làng, ngõ xóm, lau rửa các đồ sính lễ, kiệu, … 

Sang ngày mùng 10 là lễ hội chính, các cụ già trong làng dậy từ rất sớm để làm  lễ tế thần, sau đó bắt đầu lễ rước kiệu, hai kiệu bát cống sơn son thếp vàng được mang ra đặt trước đình, các cụ chức sắc mang long ngai bài vị đức thánh Bảo Ninh và một chóe nước lớn ra đặt vào kiệu thứ nhất, bài vị bà chúa Trần Thị Ngọc Tể (thờ hậu) ra đặt vào kiệu thứ hai. 

Sau khi chuẩn bị xong, đám rước được tiến hành theo trật tự: đi đầu là đội cờ, tiếp đến đội nhạc trống, đàn bát âm, một cụ già đánh vào một chiếc cồng lớn tạo ra hiệu lệnh dẫn độ kiệu thánh.

Kiệu rước đức thánh Bảo Ninh do 18 thanh niên chưa có gia đình đổi vai nghênh nước tục gọi là kiệu Thánh ông, còn kiệu bà chúa Trần Thị Ngọc Tể do 18 cô gái làng chưa chồng đổi vai rước, tục gọi kiệu bà chúa. Ngoài ra còn những người đi phù giá kiệu là người cầm lọng, cầm tàn, dân làng đi theo sau.

Hội rước khởi hành vào lúc 7 giờ sáng từ đình làng đi quanh làng Linh Đàm, qua làng Đại Từ xuống tới vực Tựu- Tựu Liệt- Tam Hiệp- Thanh Trì. 

Đặc biệt nhất với tục lệ cỗ cá bỏ đầu, làm cơm cúng Thuỷ Thần, tục lệ này gắn liền với sự tích Thuỷ Thần làm trái mệnh trời, làm mưa cứu dân làng nên bị Ngọc Hoàng trị tội, phạt đánh mất đầu, chỉ còn lại thân nổi lên đầm. 

Trong ngày hội, đình Linh Đàm còn tổ chức các trò diễn dân gian như đánh cờ người, bắt vịt, bơi thuyền trên đầm,… 

Ngoài ngày lễ hội làng hàng năm,  vào ngày 16 tháng 8 âm lịch nhân dân thôn Linh Đàm tổ chức làm lễ tại đình, đây là ngày hóa của Thành hoàng làng.

Di vật

Hiện đình Linh Đàm đã lưu giữ và bảo tồn được nhiều hiện vật giá trị: 

  • 15 đạo sắc phong, trong đó đạo sắc có niên đại sớm nhất là niên hiệu Cảnh Hưng 44 (1783); Đạo sắc phong có niện đại muộn nhất là niên hiệu Khải Định 9 (1924).
  • Một cuốn Thần Tích do đông các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn vào năm Hồng phúc (1572).
  • Một tấm bia đá  “phụng sự hậu thân bị ký” niên đại Chính Hòa 10 (1689), bia hình trụ, có 4 mặt.
  • Kiệu Thờ, hệ thống hoành phi câu đối có phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX
  • Đôi rồng đá thời Lê Trung Hưng, nửa cuối thế kỷ XVIII

Đây là những nguồn sử liệu góp phần phản ánh niên đại tôn tại của Ngôi Đình, có giá trị lịch sử văn hoá cao. 

Xếp hạng

Với nhiều giá trị lịch sử văn hóa, đình Linh Đàm đã được Bộ văn hóa – thông tin xếp hạng là di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật tại quyết định số 1460/VH ngày 28 tháng 6 năm 1996. 

Hiện tại di tích đình Linh Đàm là một điểm đến tham quan, điểm du lịch sinh thái, du lịch nghiên cứu của quận Hoàng Mai, Thủ đô Hà Nội. 

Tài liệu tham khảo 

  1. Văn Quảng, Đình, đền, miếu phủ Hà Nội và nghi lễ thờ cúng, Nxb Lao động (2010).
  2. Ts. Nguyễn Doãn Tuân, Di tích lịch sử văn hóa quận Hoàng Mai, Nxb Văn hoá – thông tin (2010). 
  3. Văn Quảng, Văn hoá tâm linh Thăng Long Hà Nội, Nxb Lao động (2009). 
  4. Lễ Hội Thăng Long, Nxb Hà Nội (2001). 
Chấm điểm
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)