Đình Linh Tây (Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh)

Đình Linh Tây (Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh)

Di tích Thành phố

Đình Linh Tây tọa lạc ở khu phố 2, phường Linh Tây, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, được Chủ tịch ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ký Quyết định số 328/2003/QĐ-UB ngày 31/12/2003 xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố.

Sự hình thành

Đình Linh Tây (Sắc phong thần viết là Linh Chiểu Tây) là ngôi đình làng của người Việt, nơi bảo lưu giá trị kiến trúc nghệ thuật về xây dựng đình làng truyền thống Nam Bộ, các cổ vật, hiện vật thờ cúng gắn với ngôi đình được chạm khắc tinh xảo rất mỹ thuật. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức có ghi, năm 1818 thôn Linh Chiểu Tây thuộc tổng An Thủy, huyện Bình An, trấn Biên Hòa, thành Gia Định. Tại đình hiện còn tờ sắc vua Tự Đức ban cho thần Thành hoàng bản cảnh thôn Linh Chiểu Tây ngày 29 tháng 11 năm Tự Đức thứ 5 là “Thần Bảo An Chính Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng“. Từ những căn cứ này có thể xác định đình Linh Tây được xây dựng trong khoảng thời gian từ 1818 đến 1852.

Vị trí

Đình Linh Tây được xây dựng trên gò cao có nhiều cây dầu lâu năm, với kiến trúc tổng thể gồm các tòa nhà chính điện, hậu điện, nhà bếp nằm trên một trục dọc, mái của các tòa nhà lợp ngói âm dương, gờ nóc mái ngang phẳng trang trí tượng gốm men cặp rồng tranh châu, gờ mái xuôi thẳng bẻ hai góc trên. Ở vị trí giữa sân trước là bình phong tiền cao lớn, mặt trước gắn phù điêu gốm men hình tượng rồng mây, hổ, bát tiên, chim hoa, cá, tôm, cua rất rnỹ thuật, ở mặt sau bình phong là phù điêu gốm men long hổ hội, chỉ nơi đất thiêng rồng hổ tụ về. Phía trước bình phong là tượng Bạch mã cao lớn. Hai bên sân đình là các miếu nhỏ thờ Ngũ hành, thần Nông, Thổ địa, Sơn quân, Chiến sĩ trận vong.

Chính điện là toà nhà được xây dựng kiểu tứ trụ giống như tòa nhà chính điện của chùa Hội Sơn ở quận 9 với tường gạch, cột, kèo mái, xà, đòn tay, rui mè gỗ tạo cho tòa nhà dáng cao rộng uy nghi, mái lợp ngói âm dương. Các án thờ ở chính điện được bố trí như sau: Tại cửa giữa là án thờ gỗ được chạm nổi tinh tế hình tượng rồng mây, trên án thờ có bức phù điêu tứ linh bằng gốm cổ rất mỹ thuật được làm năm Đinh hợi – 1887. Phía sau là chiếc long đình được tạo hình bát giác, hai tầng cao lớn làm năm 1922 dùng để rước Sắc thần, với cây cột chạm nổi hình rồng mây và chữ Hán. Chiếc lư đồng cao lớn làm năm Đinh hợi – 1887 với kỹ thuật chạm và gò nổi tinh xảo hình tượng chim công, chim phượng, hai dàn lỗ bộ và cặp hạc gỗ cao lớn đứng trên lưng rùa, chiếc mõ gỗ to lớn làm năm Kỷ sửu -1889. Phía vách tường bên trái có án thờ Hữu ban được chạm nổi hình tượng cặp rồng tranh châu làm năm Nhâm Dần – 1902. Sát vách tường bên phải là án thờ Tả ban làm năm 1887 cũng được chạm khắc tinh xảo đề tài cặp rồng tranh châu. Phía trước án thờ thần Thành hoàng bản cảnh là án thờ bằng gỗ, trên án thờ có bài vị gỗ chạm nổi hai chữ sắc tứ (ban Sắc), chạm hình bát quái, chạm hình rồng mây, cột rồng, cặp chim phượng và hình lân rất mỹ thuật. Ở vị trí trang trọng cùa chính điện lá án thờ Thánh hoàng bản cảnh thôn Linh Chiểu Tây bằng gỗ được chạm nổi, chạm lọng tinh xảo các đề tài cặp rồng chầu mặt trời, cột chạm rồng mây, chim hoa, ở trong án thờ có chữ Thần thếp vàng lớn và hộp gỗ đựng tờ sắc phong cho thần Thành hoàng bản cảnh thôn Linh Chiểu Tây ngày 29 tháng 11 năm Tự Đức thứ 5 (1/1853), tờ sắc được cuốn lại để vào ống gỗ rất cẩn thận. Ở án thờ còn có bài vị gỗ chạm lọng rồng mây, chạm nổi hồi văn bán công và chữ Hán “Bản cảnh thành hoàng đại vương Sắc tứ gia tặng Bảo An Chính Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng chi thần. Linh Chiểu Tây thôn tín cung” (Đại vương Thành hoàng bản cảnh được ban Sắc tặng là “Thần Bảo An Chính Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng”, thôn Linh Chiểu Tây cúng bài vị).

Bên trái án thờ thần là án thờ thần Ngũ cốc làm vào năm 1887 với kỹ thuật chạm lọng, chạm nổi tinh xảo đề tài cặp rồng tranh châu, cột rồng mây, hoa lá. Bên phải là án thờ thần Ngũ thổ có niên đại và kỹ thuật chạm khắc giống án thờ Ngũ cốc. Ở chính điện còn có các hoành phi, liễn đối, bao lam gỗ được chạm lọng, chạm nổi, chạm chìm mỹ thuật về chữ Hán, rồng mây, chim hoa “Bảo an cảnh nội” (Bảo an thôn xóm) làm năm 1887, “Sử dân phú thọ” (Dạy cho dân làm giàu sống thọ) làm năm 1896, “Nghiễm nhiên như tại” (Hiển hiện như tại) làm năm 1853, “Đăng công vĩ tích” (Công cao nghiệp cả) làm năm 1887. Đặc biệt là bức hoành phi “Thích lý thần từ” (Đình thần họ ngoại) làm năm 1887 để tỏ lòng tưởng nhớ Thánh tổ Tá thiên Nhân hoàng hậu Hồ Thị Hoa sinh ra tại thôn Linh Chiểu Tây, là vợ vua Minh Mạng, là mẹ vua Thiệu Trị, là bà nội vua Tự Đức.

Tại phía sau vách tường ngăn chia tòa nhà chính điện, có án thờ Long điện, án thờ Tiền đại hương chức (Hương chức đời trước), án thờ Tiền đại viên quan (Viên quan đời trước), các án thờ này bằng gỗ được chạm khắc hình tượng rồng mây rất mỹ thuật.

Khoảng giữa tòa nhà chính điện và tòa nhà hậu điện là thiên tỉnh tạo sự thông thoáng và điều hòa ánh sáng trời cho ngôi đình.

Hậu điện là tòa nhà năm gian được xây dựng bằng tường gạch, cột, kèo mái, xà, đòn tay, rui mè gỗ tạo thành tòa nhà rộng rãi, mái lợp ngói âm dương. Hậu điện là nơi đãi khách trong dịp lễ Kỳ yên hàng năm. Hiện tại đình còn lưu giữ 42 cổ vật gắn với di tích gồm sắc phong thần, liễn đối, hoành phi, bài vị, án thờ, lư hương, long đình… bằng chất liệu giấy bản, gỗ, gốm, đồng.

Lễ hội

Đình Linh Tây tổ chức lễ Kỳ yên hàng năm vào ngày 16 tháng 10 âm lịch với nghi thức lễ truyền thống.

Tham khảo

  • Trích “Di tích lịch sử văn hoá ở Thành phố Hồ Chí Minh”, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Chấm điểm
Chia sẻ
Dinh-Linh-Tay-Thu-Duc-TP-HCM (1)

Bài viết

Bài viết đang được cập nhật

Nội dung chính

Thờ tự
Nội dung đang được cập nhật.
Nhân vật
Nội dung đang được cập nhật.
Lễ hội
Nội dung đang được cập nhật.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *