Tên gọi và vị trí địa lý
Đình Nha là một di tích nằm bên sườn đê sông Hồng, cách trung tâm Hà Nội khoảng 10km, thuộc tổ 18, phường Long Biên, quận Long Biên. Trải qua các thời kỳ lịch sử, địa giới hành chính của khu vực thay đổi nhiều lần: thời Lê, đình thuộc thôn Nha, xã Cổ Linh, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc; đến thời Nguyễn thuộc tỉnh Bắc Ninh; từ năm 1961 đến 2003 thuộc xã Long Biên, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội, từ năm 2003 đến 2025 thuộc phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội, nay là phường Long Biên.
Lịch sử và nhân vật
Theo thần phả do Hàn lâm viện học sĩ Nguyễn Bính biên soạn năm 1572, đình Nha là nơi thờ Thượng đẳng phúc thần Linh Lang Đại vương, Đô Thống Anh Linh và Xuyên Hoa công chúa.
Lịch sử thờ tự ở đình Nha mang đậm dấu ấn tín ngưỡng dân gian Thăng Long – Hà Nội, gắn bó với nhân vật linh thiêng Linh Lang Đại vương cùng Đô Thống Đại vương và Xuyên Hoa công chúa. Trong số ba vị, Linh Lang Đại vương giữ vai trò trung tâm, được phong là thượng đẳng phúc thần từ thời Lý và trở thành biểu tượng gắn liền với sự nghiệp bảo vệ đất nước.
Theo thần phả soạn năm 1572 bởi Hàn lâm viện học sĩ Nguyễn Bính, Linh Lang vốn là con của Long Vương, thác sinh làm hoàng tử triều Lý. Mẹ của ngài, bà Hạo Nương, khi tắm giặt ở Hồ Tây đã bị giao long quấn, sau đó mang thai mười bốn tháng rồi sinh ra thánh với những dấu hiệu phi phàm: hình dung khôi vĩ, mắt phượng, cổ rồng, lưng có 28 tinh tú như vảy kỳ lân, bụng mang sao Bắc Đẩu. Khi đất nước bị giặc phương Bắc xâm lấn, vua Lý Thánh Tông lập đàn cầu khấn thì Linh Lang hiển mộng xin vua ban cho voi và cờ lệnh để dẹp giặc. Trước mặt quần thần, ngài hóa thân cao lớn, cưỡi voi ra trận, tự xưng là “thiên tướng”. Trong chiến trận, chỉ một lần vung cờ, khí thế sấm sét đã khiến tướng giặc kinh hãi, quân thù đại bại, hơn ba nghìn quân bị tiêu diệt, tàn quân bị bắt sống.
Sau thắng trận, vua muốn nhường ngôi nhưng Linh Lang từ chối, bởi ngài biết mình chỉ là con của Long Vương giáng sinh để giúp dân cứu nước. Ít lâu sau, mắc bệnh đậu mùa, Linh Lang hóa vào ngày mồng 10 tháng Hai âm lịch. Trước khi rời trần thế, ngài xin được trở về thủy phủ. Hôm ấy, trời đất mờ mịt, Linh Lang hóa thân thành bạch xà trăm trượng lặn xuống Hồ Tây, để lại điềm linh ứng hiển hách. Từ đó, ngài nhiều lần âm phù cho các triều đại sau như Trần Thái Tông đánh quân Nguyên – Mông, hay Nguyễn Thái úy nhà Lê dẹp loạn nhà Mạc. Với công lao to lớn, ngài được phong thượng đẳng thần, trở thành một trong “Tứ trấn Thăng Long” – thần bảo hộ phía Tây kinh thành tại đền Voi Phục.
Riêng ở đình Nha, nhân dân lập thờ Linh Lang Đại vương cùng Đô Thống Đại vương và Xuyên Hoa công chúa, khẳng định mối liên hệ giữa di tích này với hệ thống tín ngưỡng thờ Linh Lang trên đất Thăng Long – Hà Nội. Hàng năm, các ngày lễ chính như ngày sinh (13 tháng Chạp) và ngày hóa (mồng 10 tháng Hai) đều được tổ chức trọng thể, trong đó phần lễ và phần hội hòa quyện, thể hiện truyền thống tri ân công đức thần linh. Sự hiện diện của tín ngưỡng thờ Linh Lang tại đình Nha không chỉ phản ánh ý thức cộng đồng về một vị thần bảo hộ làng xã mà còn khẳng định sự gắn bó giữa di tích với lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Kiến trúc cảnh quan
Kiến trúc cảnh quan của đình Nha phản ánh sự hòa quyện giữa không gian làng cổ ven sông Hồng và nghệ thuật kiến trúc truyền thống Việt Nam. Ban đầu, đình được xây dựng với khuôn viên rộng rãi, cây xanh bao bọc, song theo thời gian và do yêu cầu bảo tồn các công trình thủy lợi, khuôn viên này không còn giữ được nguyên vẹn. Hiện chưa có tư liệu xác định niên đại khởi dựng, nhưng các câu đầu vẫn lưu dấu những lần trùng tu vào đầu thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX dưới triều Nguyễn. Từ mặt đê sông Hồng nhìn xuống, đình Nha hiện diện trong một khuôn viên gọn gàng, với bố cục chữ tam gồm ba tòa Đại đình, Trung đình và Hậu cung, đều quay hướng Nam.
Đại đình gồm năm gian, xây theo kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói ta, bộ khung gỗ vững chãi. Sáu bộ vì chính đặt trên hệ thống xà đai, trong đó hai bộ vì gian giữa theo kiểu “chồng rường giá chiêng, bẩy hiên”, còn bốn bộ vì gian bên làm thống nhất theo dạng “thượng chồng rường giá chiêng, hạ kẻ”. Trung đình ba gian, tám mái, đầu đao cong vút, trang trí rồng và nghê; mặt trước và sau đều để trống, nối liền Đại đình với Hậu cung. Hậu cung ba gian đơn giản hơn, gian giữa xây bệ gạch cao làm nơi đặt khám thờ Thành hoàng.
Giá trị nghệ thuật nổi bật của đình Nha tập trung ở Đại đình. Các mảng chạm khắc phong phú, từ tứ linh, tứ quý, đến văn mây, hoa lá, được thể hiện bằng kỹ thuật chạm nổi, chạm bong kênh, chạm lộng tinh xảo. Đặc biệt, bốn bức cốn gian giữa chạm khắc cả hai mặt với đề tài rồng mây cuốn thủy, mai, trúc… thể hiện công phu và sống động, biến những cấu kiện gỗ thành tác phẩm nghệ thuật, phản ánh trình độ điêu khắc bậc cao của nghệ nhân Việt Nam thế kỷ XIX.
Hiện vật
Hiện vật còn lại tại đình Nha mang giá trị lịch sử và nghệ thuật tiêu biểu cho văn hóa truyền thống Việt Nam. Đáng chú ý nhất là bức hoành phi khắc bốn chữ Hán lớn “Thượng đẳng tối linh”, được chế tác tại Huế vào thế kỷ XIX và do một vị đại thần triều Nguyễn, vốn là giai tế của làng, cung tiến. Đây là hiện vật có ý nghĩa đặc biệt, vừa thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa đình với triều đình phong kiến, vừa khẳng định vị thế tôn nghiêm của thần được thờ.
Ngoài bức hoành phi, đình còn lưu giữ nhiều hiện vật quý khác như long ngai, bài vị, bộ kiệu, long đình – tất cả đều mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX. Các hiện vật này không chỉ có giá trị thờ tự, mà còn phản ánh sự tinh tế trong kỹ thuật chế tác gỗ, sơn son thếp vàng và nghệ thuật tạo hình truyền thống. Việc bảo tồn, gìn giữ những hiện vật này có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu lịch sử, mỹ thuật và trong việc duy trì không gian tín ngưỡng đặc trưng của làng Nha.
Lễ Hội
Hằng năm, kể từ ngày thần hóa, làng Nha tổ chức lễ hội long trọng tại đình. Nghi thức quan trọng mở đầu là rước nước từ sông Hồng về làm lễ mộc dục cho thần, cùng với lễ rước mã từ đình làng đến thôn Tư Đình, nơi chuyên làm hàng mã như áo mão, đai, hia để dâng tiến. Trong suốt thời gian hành lễ, “mỗi ngày một lần tế trang nghiêm, khói hương nghi ngút”, long đình và kiệu đặt ở sân đình với lọng tàn vàng che phủ, tạo nên không khí linh thiêng.
Sau phần lễ là phần hội, kéo dài nhiều ngày, với nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa đặc sắc. Nổi bật là các loại hình sân khấu dân gian như hát tuồng, hát chèo, hát trống quân với những tích truyện quen thuộc: Chiêu Quản cống Hồ, Phạm Lãi – Tây Thi, Bao Công xử án, Lục Vân Tiên, Trương Viên, Lưu Bình – Dương Lễ…. Cả làng quây quần nghe hát, mười hai cửa họ thay nhau tổ chức, các làng bạn cũng đến góp vui, đặc biệt là trai gái dùng lời ca để trao gửi tâm tình. Những câu hát đối đáp như:
Lạ lùng anh mới tới đây
Lạ thung lạ thố, anh nay lạ nhà
Ba cô anh lạ cả ba
Bốn cô lạ bốn, biết là quen ai…
hay:
Quê anh ở gần hay xa
Mà toan kết ngãi hồng hoa má đào…
là minh chứng sống động cho không gian văn hóa dân gian phong phú, nơi con người bày tỏ tình cảm và gắn kết cộng đồng.
Hội đình Nha còn nổi bật với hai trò chơi dân gian: đánh cờ người và đấu vật. Trò cờ người diễn ra trên bãi cỏ rộng bên đình, kẻ vôi thành bàn cờ, mỗi quân là một người trong trang phục truyền thống, hai tướng mặc áo thụng đỏ hoặc xanh, ngồi dưới lọng xanh và điều khiển ván cờ. Mỗi ván có thể kéo dài nhiều ngày, thu hút đông đảo dân làng theo dõi, giải thưởng tuy giản dị, chỉ là “gói chè tàu, nón chóp dứa, mâm thau, chậu đồng” nhưng mang giá trị tinh thần sâu sắc.
Bên cạnh đó, vật truyền thống là môn thi đấu được duy trì qua nhiều thế hệ. Sới vật cũng ở bãi cỏ bên đình, trai tráng trong làng và các vùng lân cận đều có thể tham gia. Người thắng được thưởng “một cái oản nếp to và ba quả chuối”, còn kẻ thua ra về vui vẻ, hòa đồng cùng dân làng. Nhiều câu chuyện dân gian về hội vật còn lưu truyền, như tích một đô vật nhỏ bé, nhanh nhẹn của làng Nha đã dùng mưu thắng được đối thủ to khỏe nặng đến 70kg, khiến khán giả reo hò và nhớ mãi.
Lễ hội đình Nha, với sự kết hợp hài hòa giữa nghi lễ tín ngưỡng và trò chơi dân gian, không chỉ nhằm tôn vinh thần thành hoàng, mà còn là dịp để nhân dân gửi gắm niềm tin cầu phúc, cầu mùa, đồng thời củng cố tình đoàn kết cộng đồng qua các hoạt động văn hóa phong phú.
Xếp hạng
Đình Nha đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật năm 1990.
Tham khảo
- Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001
- Lưu Minh Trị, (2010), Hà Nội – Danh thắng và di tích (Tập 1), Nxb Hà Nội.