Đình So (Quốc Oai, Hà Nội)

Đình So (Quốc Oai, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đình làng So là một di tích kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của vùng đất xứ Đoài, tọa lạc tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội (nay thuộc xã Hưng Đạo, thành phố Hà Nội).

Đình làng So là công trình tín ngưỡng truyền thống gắn liền với đời sống văn hóa, tâm linh và sinh hoạt cộng đồng của cư dân địa phương qua nhiều thế hệ. Với giá trị nổi bật về kiến trúc, nghệ thuật chạm khắc và hệ thống di vật cổ còn được bảo tồn, đình làng So được xem là một trong những ngôi đình có quy mô và giá trị nghệ thuật đặc sắc của vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Lịch sử và nhân vật

Khởi dựng

Theo “Sơn Tây tỉnh địa chí” của tác giả Phạm Xuân Độ có ghi: “Đình Sơn Lộ làm vào đời Hậu Lê, năm Dương Đức thứ III (1667), đình xây lối cổ, dài 90 thước, rộng 10 thước, theo hình chữ công, xung quanh có bao lan gỗ và sân lát gạch. Hậu cung có nghi môn che kín. Hai bên đình là hai nhà giải vũ. Đằng trước có chiếc cổng ba gian, làm theo lối tam quan các chùa và trông ra một hồ bán nguyệt, rộng ngót 7 mẫu, ở giữa nổi lên ba gò đất hình tròn. Lươn quanh mé hồ, là đường đê, đi xe hơi được”.

Theo tư liệu khảo sát của Phòng Bảo tồn Bảo tàng tỉnh Sơn Tây cũ, các bậc cao niên địa phương cho biết đình So ban đầu được xây dựng tại xóm Đông, sau đó mới được di chuyển về vị trí hiện nay. Trong quá trình tồn tại, đình đã trải qua nhiều lần tu sửa, trong đó các đợt tu bổ gần đây được ghi nhận vào các năm 1924, 1928 và 1952.

Tại đình hiện còn lưu giữ bia “Đại đình bi ký” dựng năm Cảnh Hưng 43 (1782), ghi chép về quá trình xây dựng đình: “Nay phụng sự việc xây cất ngôi đình này. Nhằm ngày mười ba tháng sau, giờ tốt tháng Giáp Thân năm Tân Sửu (1781) phạt mộc. Theo đó ngày tới 20/8 khởi công. Ngày mồng Bảy tháng Giêng năm Nhâm Dần đặt cột đình. Tháng Ba trong năm công việc hoàn tất. Đến tháng Năm hoàn thành ngôi đình”.

Sách “Di tích Hà Tây” cũng đề cập đến những giá trị tiêu biểu của hệ thống di vật và kiến trúc đình So: “Đôi rồng đá ở trước tòa Đại đình toàn thân được chạm cẩn thận, chi tiết với đường nét chắc khỏe, dứt khoát, mà vẫn mềm mại, có lẽ đây là đôi rồng trong không nhiều rồng đẹp nhất của thế kỷ XIX… Dựa theo bia thì đình được làm vào cuối thế kỷ XVII, nhưng hiện chỉ còn vài đầu dư và một số mảng chạm của giai đoạn đó, còn hầu như đã được làm lại vào thế kỷ XIX… Kiến trúc Hậu cung chủ yếu bào trơn đóng bén như một vài mảng trang trí của thế kỷ XVII còn sót lại, khiến ta có thể nghĩ rằng đình So là một trong không nhiều kiến trúc có Hậu cung (hình chuôi vồ hay chư công) sớm nhất nước ta. Hiện vật của đình có nhiều đồ quý. Đặc biệt là hai khám mui luyện là cổ kiểu, hạc… mang nghệ thuật đầu thế kỷ XVIII”.

Căn cứ vào các nguồn tư liệu lịch sử, văn bia cùng hiện trạng kiến trúc còn bảo tồn, có thể nhận định đình So được khởi dựng vào nửa cuối thế kỷ XVII, dưới thời Hậu Lê. Sau hơn một thế kỷ tồn tại, đình được chuyển về xây dựng tại vị trí hiện nay và được ghi dấu bằng bia “Đại đình bi ký” năm Cảnh Hưng 43 (1782). Trải qua nhiều lần tu sửa, đình So vẫn bảo lưu được nhiều giá trị đặc sắc về kiến trúc, nghệ thuật chạm khắc và hệ thống di vật, phản ánh lịch sử phát triển của làng xã vùng xứ Đoài.

Truyền thuyết

Theo Ngọc phả đình làng So cùng các nguồn sử liệu lưu giữ tại địa phương, đình So thờ phụng Tam vị Thông Hiện Nguyên soái Đại vương, tức ba anh em họ Cao có công giúp vua Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước vào thế kỷ X.

Theo truyền thuyết trong Ngọc phả, vào mùa Xuân năm Canh Dần (930), ông Cao Hiển và bà Lã Thị Ả ở hương Vạn Kỳ, huyện Gia Định, phủ Thuận An, đạo Kinh Bắc, vốn xuất thân nghèo khó, làm nghề đánh cá trên sông nhưng thường xuyên làm việc thiện. Một lần đánh cá trên sông Như Nguyệt, ông bà kéo được 15 dật vàng (đơn vị đo lường cổ). Từ đó, cuộc sống trở nên sung túc hơn, nhưng tuổi đã ngoài 50 mà vẫn chưa có con. Hai ông bà tìm đến đền Hữu Linh, làng So, trang Sơn Lộ để cầu tự vì tin rằng đây là nơi linh ứng.

Sau khi làm lễ tạ, trên đường trở về bằng thuyền xuôi dòng sông Đáy, khi đến địa phận trang Sơn Lộ, trời bỗng tối sầm, gió lớn nổi lên. Ông bà nhìn thấy một đám mây vàng hướng về phía bà Lã Thị Ả rồi hạ xuống. Sau sự việc đó, bà mang thai và đến tháng 2 năm Quý Tỵ (933) sinh hạ ba người con trai. Ba người con sau này trưởng thành, theo Đinh Bộ Lĩnh tham gia cuộc chiến dẹp loạn 12 sứ quân.

Trong quá trình theo giúp Đinh Bộ Lĩnh, ba anh em họ Cao đã tham gia nhiều trận đánh quan trọng, đặc biệt là cuộc chiến với sứ quân Đỗ Cảnh Thạc (Độc Nhĩ Vương) – một trong những lực lượng mạnh nhất thời kỳ loạn 12 sứ quân tại khu vực Thanh Oai, Quốc Oai, Thạch Thất. Trong các trận giao tranh diễn ra giai đoạn 966 – 967, ba ông cùng nghĩa quân làng So đã lập nhiều chiến công, góp phần quan trọng trong việc đánh bại thế lực của Đỗ Cảnh Thạc.

Khi giao chiến với quân Đỗ Cảnh Thạc, ba vị đã chỉ huy quân vượt sông Thanh Quyết, đánh thành Thường Vệ, vây thành Bảo Đà, đánh thành Quèn và đóng doanh trại tại trang Sơn Lộ. Khi Đinh Bộ Lĩnh bị vây hãm tại Bối Khê, ba ông đã nhanh chóng đem quân đến giải cứu.

Theo truyền thuyết địa phương, nhân dân trang Sơn Lộ khi đó đã tuyển chọn 300 tráng đinh khỏe mạnh đi theo ba ông làm quân sĩ. Trước ngày xuất trận, dân làng tổ chức khao quân bằng các món ăn truyền thống như bún gạo, chè kho trong ba ngày liên tiếp đúng dịp Tết Đoan ngọ, từ đó lưu truyền câu ca:
“Mồng ba ăn bún, mồng bốn ăn chè, mồng năm giết sâu bọ”.

Trong trận chiến quyết định với quân Đỗ Cảnh Thạc, ba anh em họ Cao cùng nghĩa quân làng So đã chiến đấu dũng cảm, chém được chánh tướng Đỗ Thanh Long, tiêu diệt nhiều quân địch, giải nguy cho Đinh Bộ Lĩnh. Năm 968, sau khi dẹp tan loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, lập ra nhà Đinh và ban sắc phong cho ba anh em họ Cao là “Tam vị Thông Hiện Nguyên soái Đại vương”.

Sau khi ba vị hóa về trời, nhân dân làng So tôn làm Thành hoàng làng, lập miếu thờ phụng từ thời nhà Đinh. Đến năm 1673, dưới thời Lê Trung hưng, ngôi miếu được tu bổ, mở rộng thành đình So như ngày nay. Việc thờ phụng Tam vị Thông Hiện Nguyên soái Đại vương tại đình So không chỉ thể hiện lòng biết ơn đối với những người có công giúp vua dựng nước mà còn phản ánh truyền thống tôn kính anh hùng dân tộc và tín ngưỡng thờ Thành hoàng của cư dân làng xã Việt Nam.

Kiến trúc cảnh quan

Đình So là một trong những công trình kiến trúc tín ngưỡng có quy mô lớn và giá trị nghệ thuật tiêu biểu của vùng Phủ Quốc xưa, gắn với câu ca dân gian: “Đẹp đình So, to đình Cấn”. Di tích được xây dựng trên thế đất hình con quy, theo quan niệm phong thủy truyền thống “gối sơn đạp thủy”. Phía sau đình là núi đất Vĩ Quy tạo thế tựa vững chắc; phía trước là đầu quy với tòa nghi môn hướng ra hồ bán nguyệt. Bao quanh đình là hệ thống vườn cây lưu niên, tạo nên không gian xanh mát, trang nghiêm. Xa hơn là vùng đồng bãi màu mỡ ven sông Đáy, gắn bó mật thiết với đời sống sản xuất và sinh hoạt của cư dân địa phương.

Nghi môn

Nghi môn đình So, còn gọi là ngũ môn, là công trình kiến trúc đánh dấu ranh giới giữa không gian đời thường và không gian linh thiêng của di tích. Công trình gồm chính môn lớn với ba cửa, hai bên là tả môn và hữu môn. Nghi môn có quy mô bề thế, được trang trí bằng nhiều mảng chạm khắc phong phú với các đề tài truyền thống như tứ linh (long, ly, quy, phượng) và tứ quý (tùng, cúc, trúc, mai), thể hiện quan niệm thẩm mỹ và tín ngưỡng của người xưa.

Từ nghi môn, qua khoảng sân lát gạch và vượt qua năm bậc thềm đá là đến khu vực Đại đình – trung tâm kiến trúc chính của đình So.

Đại đình

Đại đình là hạng mục kiến trúc quan trọng nhất, gồm các không gian Đại bái, Ống muống và Hậu cung, vừa là nơi thờ tự Thành hoàng làng, vừa là trung tâm sinh hoạt văn hóa cộng đồng của cư dân địa phương.

Đại bái

Tòa Đại bái có diện tích khoảng 300 m², xung quanh được bao kín bởi hệ thống cửa bức bàn. Đây là không gian diễn ra các nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo và các hoạt động cộng đồng của làng xã.

Không gian Đại bái được tổ chức theo chức năng riêng biệt: gian giữa (gian lòng thuyền) là nơi thực hành các nghi lễ tế tự trong những dịp lễ hội; các gian bên, gồm bốn gian, hai chái và hai dĩ, được nâng cao bằng hệ thống ván sàn, là nơi hội họp, bàn bạc những công việc quan trọng của cộng đồng làng xã.

Hệ thống cửa bức bàn thường ngày chỉ mở một số cửa phục vụ việc đi lại, còn các cửa chính chỉ được mở trong những dịp lễ lớn của làng, thể hiện tính trang nghiêm của không gian thờ tự.

Ống muống

Ống muống là không gian chuyển tiếp giữa Đại bái và Hậu cung, nằm trên trục thần đạo của đình. Nền Ống muống cao hơn nền Đại bái khoảng 0,4m, hai bên có các bậc tam cấp dẫn lên.

Không gian này có bình đồ hình vuông, hai bên được bao kín bởi tường gạch. Bốn góc bố trí các cột lớn có chức năng nâng đỡ hệ mái, tạo sự liên kết hài hòa giữa khu vực thờ tự phía trước và không gian linh thiêng phía sau.

Hậu cung

Hậu cung, còn gọi là nội điện, là khu vực thâm nghiêm nhất của đình, nơi đặt ban thờ Thành hoàng làng. Trước đây, Hậu cung được nối liền với Đại đình tạo thành kiểu mặt bằng chữ “chuôi vồ”, kết hợp cùng hai dãy giải vũ.

Hậu cung có ba cửa, gồm một cửa chính ở giữa và hai cửa phụ hai bên. Cửa chính chỉ được mở trong những dịp tế lễ quan trọng; ngày thường không gian này luôn đóng kín nhằm giữ gìn sự tôn nghiêm của nơi thờ Thánh. Trong các kỳ lễ hội, chỉ các cụ từ được phép vào thực hiện việc dâng lễ, còn nhân dân làm lễ từ bên ngoài.

Bên trong Hậu cung đặt nhang án cùng hệ thống đồ thờ tự, nổi bật là ba long ngai lớn được sơn son thếp vàng, cùng nhiều hiện vật phục vụ nghi lễ thờ phụng Thành hoàng.

Nhìn tổng thể, đình So mang đặc điểm chung của kiến trúc đình làng Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ với bố cục trải rộng, cân đối theo trục thần đạo. Tuy nhiên, với quy mô lớn, không gian cảnh quan hài hòa và khả năng bảo tồn tương đối nguyên vẹn, đình So được xem là một trong những công trình kiến trúc đình làng có giá trị tiêu biểu của vùng xứ Đoài.

Hiện vật

Đình So hiện còn lưu giữ hệ thống di vật, tư liệu có giá trị, phản ánh lịch sử hình thành, quá trình phát triển và đời sống tín ngưỡng của cộng đồng cư dân làng So qua nhiều thời kỳ.

Trong số các tư liệu thành văn, tiêu biểu có bia đá “Đại đình bi ký” dựng năm Dương Đức thứ 3 (1673), bia đá niên hiệu Cảnh Hưng thứ 43 (1783), cùng nhiều văn bản Hán Nôm như thần tích, hương ước và hệ thống 42 đạo sắc phong có niên đại từ năm Hoằng Định thứ 2 (1601) đến năm Khải Định thứ 9 (1924), ghi chép về các vị thần được thờ phụng và những sinh hoạt tín ngưỡng của làng.

Bên cạnh đó, đình còn bảo tồn nhiều hiện vật nghệ thuật và đồ thờ có giá trị như tảng đá kê chân cột tạo hình hoa sen, đôi rồng đá, nhang án gỗ chạm khắc tinh xảo mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII cùng các đồ tế tự phục vụ nghi lễ truyền thống. Những hiện vật này không chỉ có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa mà còn góp phần làm rõ đặc trưng nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc của đình làng Việt Nam thời Lê – Nguyễn.

Lễ hội

Hằng năm, đình So tổ chức ba kỳ lễ lớn gồm: lễ hội mừng ngày Thánh sinh vào ngày 8 tháng 2 âm lịch, lễ Khao quân vào ngày 10 tháng 7 âm lịch và lễ Thánh hóa vào ngày 10 tháng 12 âm lịch. Mỗi khi lễ hội diễn ra, hình ảnh lá cờ thần của đình rộng tới 24m² tung bay cùng tiếng trống sấm vang rền là dấu hiệu báo hiệu ngày hội làng bắt đầu.

Lễ hội mừng ngày Thánh sinh

Trong đó, lễ hội mừng ngày Thánh sinh là kỳ lễ lớn nhất, được tổ chức vào mùa Xuân, nhằm tưởng nhớ công lao của Tam vị Thánh Thành hoàng làng So. Vào ngày lễ, dân làng tổ chức rước bài vị từ Miếu Ông và Miếu Bà – nơi thờ song thân của các Thánh – về đình để cùng hưởng sự thành kính của cộng đồng. Theo tư liệu cổ, lễ hội xưa kéo dài trong 3 ngày với nhiều nghi thức và hoạt động văn hóa dân gian đặc sắc.

Điểm nổi bật trong lễ hội là tục thi lợn anh, một nghi thức độc đáo thể hiện sự trang trọng trong việc chuẩn bị lễ vật dâng Thánh. Hằng năm, các giáp trong làng lựa chọn một con lợn đen khỏe mạnh giao cho gia đình có đủ điều kiện về đạo đức, gia phong nuôi dưỡng. Sau khi làm lễ xin chân nhang tại đình, lợn được gọi là “lợn anh”, được chăm sóc theo chế độ đặc biệt, không được đánh mắng hay đối xử như vật nuôi thông thường.

Ngày mùng 7 tháng 2 âm lịch, lợn anh của các giáp được tắm rửa bằng nước thơm, rước về đình và tham gia cuộc thi tuyển chọn. Các lồng cũi được xếp thành hàng trước sân đình để cộng đồng cùng chứng kiến việc cân, tuyển chọn những con lợn tiêu biểu nhất. Giáp có lợn đạt giải được xem là niềm vinh dự, tự hào của cả cộng đồng.

Bên cạnh nghi lễ chính, lễ hội còn có nhiều hoạt động sinh hoạt văn hóa dân gian như hát xướng, đánh cờ, đấu vật và các trò chơi truyền thống. Đây không chỉ là dịp tưởng nhớ công lao của các vị Thành hoàng mà còn là không gian gắn kết cộng đồng, duy trì phong tục, tập quán và trao truyền những giá trị văn hóa đặc sắc của làng So qua các thế hệ.

Lễ Khao quân

Bên cạnh lễ hội mừng ngày Thánh sinh, đình So còn có lễ Khao quân – mừng thắng trận được tổ chức vào ngày 10 tháng 7 âm lịch hằng năm. Đây là dịp để nhân dân tưởng nhớ công lao của Tam vị Thành hoàng làng So trong sự nghiệp phò giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, đặc biệt là sự kiện giải vây, giành thắng lợi trước quân Đỗ Cảnh Thạc. Trong ngày lễ, dân làng tổ chức tế cáo thiên địa, dâng lễ vật và khao thưởng quân sĩ, tái hiện truyền thống hào hùng của cha ông.

Lễ vật quan trọng nhất trong kỳ lễ này là một con trâu tế. Làng So xưa có 28 giáp, mỗi năm một giáp đảm nhận việc chuẩn bị lễ vật; vì vậy, mỗi giáp phải sau 28 năm mới đến lượt thực hiện nghi lễ này. Trâu tế được lựa chọn kỹ lưỡng và chế biến theo nghi thức truyền thống: thân trâu được thui vàng, đặt trong tư thế quỳ trên giá gỗ, đầu ngẩng cao, sừng cuốn giấy đỏ trang trọng. Phần nội tạng được làm sạch trước khi tế lễ nên được dân gian gọi là “trâu trong”.

Nghi thức hiến tế trâu diễn ra trong không khí trang nghiêm, thể hiện lòng thành kính của cộng đồng đối với các vị Thành hoàng làng. Sau lễ tế, dân làng cùng hưởng lộc, tham gia các hoạt động văn hóa, thưởng thức hát xướng tại đình, miếu, quán trong làng. Các phường hát có thể biểu diễn luân phiên ở nhiều không gian thờ tự khác nhau, tạo nên không khí sinh hoạt văn hóa cộng đồng sôi nổi trong ngày hội.

Lễ Khao quân không chỉ là dịp tưởng niệm công lao của các vị Thánh mà còn góp phần gìn giữ ký ức lịch sử, tinh thần thượng võ và truyền thống đoàn kết của cộng đồng cư dân làng So.

Lễ chay kỷ niệm ngày Thánh

Kỳ lễ thứ ba của đình So là lễ chay kỷ niệm ngày Thánh hóa vào ngày 10 tháng Chạp âm lịch, nhằm tưởng nhớ ngày các vị Thành hoàng làng hóa về trời. Khác với hai kỳ lễ trước, đây là nghi lễ mang tính chất tưởng niệm, không tổ chức hội lớn mà tập trung vào các nghi thức tế lễ dâng Thánh.

Công việc chuẩn bị cho lễ chay được tiến hành trước đó khoảng một tháng, do những trai tân trong làng đảm nhiệm. Những người tham gia phải giữ gìn sự thanh sạch, tắm rửa trước khi thực hiện việc lựa chọn nguyên liệu và làm lễ vật. Gạo làm bánh được tuyển chọn rất kỹ, chỉ lấy những hạt nguyên vẹn, không gãy, không lép. Sau đó, gạo được đồ thành xôi, giã trong cối theo cách làm bánh dày truyền thống. Nhân bánh được chế biến từ đỗ xanh rang chín, nghiền nhỏ, trộn cùng nước mật và hương liệu thảo quả, rồi bọc bên ngoài bằng lớp xôi giã, cuối cùng gói bằng lá chuối.

Trong ngày lễ, dân làng không tổ chức rước, trò chơi dân gian hay hát thờ mà chỉ thực hiện nghi lễ chay với lòng thành kính, thể hiện sự tri ân đối với công lao và ân đức của Tam vị Nguyên soái Đại vương.

Ngày nay, một số nghi thức trong lễ hội đình So đã được giản lược theo thời gian. Lễ vật bánh chay vẫn được duy trì để dâng Thánh; tuy nhiên, tục tế “trâu trong”, tục nuôi “lợn anh” và hát thờ trước cửa đình không còn được thực hành như xưa. Dù vậy, cộng đồng làng So vẫn duy trì các nghi thức tế lễ truyền thống, thể hiện lòng thành kính và sự gắn bó với di sản tín ngưỡng của cha ông.

Xếp hạng

Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và văn hóa tín ngưỡng, đình So đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 1820/QĐ-TTg ngày 24/12/2018.

Tham khảo

  1. Cục Di sản văn hóa – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hồ sơ khoa học di tích quốc gia đặc biệt đình So (xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội).
  2. Phạm Xuân Độ, Sơn Tây tỉnh địa chí, tài liệu địa chí về vùng Sơn Tây, trong đó có ghi chép về đình Sơn Lộ (đình So).
  3. Nguyễn Bính (Đông các Đại học sĩ), Thần tích đình So (bản sao lưu tại di tích), ghi chép về sự tích Tam vị Thông Hiện Nguyên soái Đại vương – Thành hoàng làng So.
  4. Ngọc phả đình So (tư liệu Hán Nôm lưu giữ tại di tích), ghi chép về nguồn gốc, hành trạng và công trạng của các vị Thành hoàng được thờ phụng tại đình.
  5. Đại đình bi ký (bia đá dựng tại đình So), niên hiệu Dương Đức thứ 3 (1673), tư liệu ghi chép về việc xây dựng đình.
5/5 (4 bình chọn)

Video

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)