Đình Tây Tựu ( Đình Đăm – Bắc Từ Liêm, Hà Nội)

Đình Tây Tựu ( Đình Đăm – Bắc Từ Liêm, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đình Tây Tựu hay còn gọi là Đình Đăm, thuộc làng Đăm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông xưa, nay là phố Đăm, phường Tây Tựu, Quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội. Đình cách trung tâm Thủ Đô khoảng 20km về phía Tây.

Vùng Đăm xưa có 5 làng chia làm ba xã: là Tây Đàm, Trung Đàm và Đông Đàm. Sau vì kiêng tên huý của vua Lê Thế Tông (1573- 1599) mới đổi Đàm thành Đam. Nhưng đến thời Nguyễn lại kiêng tên huý của vua Minh Mệnh (1820-1840) mới đổi thành Tựu: Tây Tựu, Trung Tựu, riêng là Đông Đam đổi thành Phúc Lý.

Đình Tây Tựu thờ đức thánh Tam Giang (tướng Đào Trường), dân gian còn gọi là Bạch Hạc Tam Giang, là một nhân vật huyền thoại trong văn hóa dân gian Việt Nam, đặc biệt ở Phú Thọ và các vùng liên quan đến sông Hồng.

Lịch sử và nhân vật

Đình Tây Tựu là một công trình kiến trúc cổ kính, được xây dựng từ thời Lê, do bà Nguyễn Thị Tính, một người phụ nữ tài sắc của quê hương, xây dựng. Bà Nguyễn Thị Tính, người làng Đăm và là con gái của Nghiễm quận công, sau khi trở thành cung phi thứ 8 của vua Lê Hy Tông (1705– 1716), đã vận động dân làng lấy gỗ và mời thợ giỏi từ kinh đô về xây dựng đình làng. Tương truyền, bà sinh được ba con trai: Lê Duy Đề, tước Thái Bảo, Ích quận công; Lê Duy Hựu, Đô tổng bình, Dụ quận công; và con trai thứ ba, Thông mẫu công, qua đời khi mới 18 tuổi vì ốm đau.

Sau khi vua Lê Hy Tông qua đời, bà về quê sinh sống, tậu ruộng vườn và ao hồ. Trong những năm tháng cuối đời, bà đã cho xây dựng đình làng để cung tiến cho dân xã, đồng thời cũng xây chùa để người dân thờ cúng bà và con trai bà.

Theo thuyết địa phương: dân làng Đăm đã theo Quách Lãng cùng nàng Bạch, nàng Tĩnh ở Thượng Cát khởi nghĩa theo Hai Bà Trưng chống ách đô hộ của nhà Đông Hán, chứng tích còn lại là tục bơi thuyền thi diễn lại cảnh luyện quân của hai nàng giống như ở làng Hạ Cát. Nhưng cũng có thuyết cho rằng tục bơi thi thuyền là do một người làng làm nghề đánh cá lên Ngã ba Hạc rước bài vị thần Tam Giang về thờ trên ngôi miếu ở bờ sông Nhuệ.

“Bạch Hạc Tam Giang” là tên vị thần gắn liền với các địa danh như Bạch Hạc (xã thuộc Phù Ninh, Phú Thọ) và Tam Giang, nơi hội tụ ba con sông lớn.

Trong cuốn Lễ hội Thăng Long có ghi truyền thuyết về Bạch Hạc Tam Giang như sau: “Vốn trước làng chưa có đình, miếu. Ông câu ếch họ Vũ người thôn Hạ đi theo triền sông Cái lên mãi vùng trên, thường hay đến nghỉ nhờ đến Bạch Hạc. Một hôm, cụ từ đi vắng nhờ ông Vũ đèn hương hộ. Ông thấy trên đến có tới ba bài vị thờ mà làng mình lại chưa có thành hoàng bên làm lễ xin âm dương để đón một vị về Dâm. Đó là thổ Lệch Bạch hạc Tam Giang. Về làng gặp lúc đang có dịch chết người và gia súc, ông Vũ sợ đem giấu ở giàn mướp bên kia bờ sông Nhuệ. Dân thôn Thượng biết bèn lập miếu thờ ở cạnh sông trống chếch sang phía giàn mướp. Mùa mưa năm ấy có lũ lớn, nước tràn vào đồng, có một mũi thuyền gỗ chạm vào đầu hạc trôi dạt vào cửa miếu. Ông câu ếch nhận ra đúng là đầu thuyền dua ở đền Hạc. Dân làng bên cử người lên đến chính thờ thần Tam Giang xin mẫu thuyền, hỏi thể thức bơi chải rồi về làng đóng thuyển, xây nhà thủy tọa, tổ chức thi bơi. Hội đua thuyền Đăm từ đó tới nay đã khoảng 600 năm”.

Bạch Hạc Tam Giang

Trong bài Tín ngưỡng thờ Bạch Hạc Tam Giang của Võ Hoàng có viết: “Thánh Bạch Hạc Tam Giang là hai anh em ruột, có tên húy là Lan và Ngọc, họ là con cầu tự của hai vợ chồng ông Trần Thiệu người ở đất Hoan Châu (Nghệ An ngày nay). Sau khi cha mẹ qua đời, hai anh em quyết từ bỏ giàu sang phú quý để lên núi tìm thầy học đạo, rồi được một vị thiền sư ban cho hai vật quý là một chiếc gậy trúc và một bầu đá có công hiệu trị bệnh cứu người. Từ đó hai ông đổi tên là Thổ Lệnh và Thạch Khanh, cùng nhau chu du thiên hạ chữa bệnh cho muôn dân mà không bao giờ nhận trả ơn. Trong một lần dừng bước tại trang Bạch Hạc hai ông đã hóa luôn tại đó và được người dân ở đây lập miếu thờ, sau đó ai có bệnh đến miếu cầu đều khỏi. Không chỉ có vậy, các ngài còn âm phù cho các tướng lĩnh đời sau đánh thắng giặc ngoại xâm”.

Bạch Hạc Tam Giang là một tên gọi gắn liền với truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian của người dân vùng đất Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, đặc biệt là ở khu vực Tây Tựu, Hà Nội. Trong đó, “Bạch Hạc” được coi là biểu tượng của sự linh thiêng, uy nghi, và bảo vệ, gắn liền với hình ảnh Đức Thánh Bạch Hạc Tam Giang – một vị thánh có công lao lớn đối với cộng đồng.

Bạch Hạc Tam Giang không chỉ là một biểu tượng văn hóa mà còn là tín ngưỡng thờ cúng phổ biến trong các lễ hội của làng Đăm (Tây Tựu). Đức Thánh Bạch Hạc Tam Giang được người dân tôn vinh vì đã có công giúp dân làng phát triển, bảo vệ dân làng khỏi thiên tai, địch họa. Hình tượng Thánh Bạch Hạc là một phần quan trọng trong các lễ hội và nghi thức cúng tế, được tổ chức hàng năm tại đình làng Tây Tựu, nhằm tôn vinh công đức của vị thánh và duy trì các giá trị văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng.

Ngoài việc thờ cúng, hình ảnh Bạch Hạc Tam Giang còn mang ý nghĩa biểu trưng cho sự thịnh vượng, an lành và bảo vệ, được người dân nơi đây gìn giữ và phát huy qua các thế hệ.

Kiến trúc cảnh quan

Đình Tây Tựu tọa lạc trên một khu đất rộng rãi, nằm giữa tổ dân phố Trung, phường Tây Tựu, với hướng chính quay về phía Tây. Vị trí của đình không chỉ thuận tiện mà còn mang ý nghĩa phong thủy sâu sắc, tạo nên sự hòa hợp giữa thiên nhiên và không gian thiêng liêng.

Hiện nay, Đình Tây Tựu có quy mô lớn, được cấu thành bởi nhiều công trình kiến trúc độc đáo, tạo nên một tổng thể bề thế và trang nghiêm: Chính Ngự, Phương Đình, Tả Mạc, Hữu Mạc, Thuỷ Đình, Nhà Hậu, Xưởng Thuyền.

Phía trước đình là một ao hình vuông, dẫn vào trong là hai toà Chính Ngự được xây cao và rộng, Toà nhà thứ nhất là dãy nhà ngang gồm ba gian xây kiểu chồng diêm tám mái với các góc đao uốn cong, mái lợp ngói ta. Trên nóc mái, có trang trí kiến trúc hình rồng chầu mặt nguyệt, tượng nghê, hoa văn đồng tiền.

Sau nhà Chính Ngự thứ nhất, là con đường hướng theo trục thần đạo để dẫn vào nhà Chính Ngự thứ hai. Toà này được xây dựng thành kiểu kiến trúc của phương đình hai tầng tám mái, bốn mái trên hình tam giác, thu nhỏ ở phần nóc. Nóc mái đắp nổi cao hình trái dành, các đầu đao cong, trang trí hình hoa văn thực vật.

Vào những ngày lễ hội, kiệu của Đức Thánh rước về được đặt ở Chính Ngự thứ nhất bên ngoài, còn Chính Ngự thứ hai bên trong là nơi diễn ra các cuộc tế lễ và sau đó là điểm xuất phát để rước ngai Thánh ra ngự xem bơi.  

Cạnh Chính Ngự là những dãy nhà dài, được gọi là dãy muống. Nhìn từ cửa đình ra, bên phải có hai dãy muống, trong khi bên trái chỉ có một dãy. Cạnh đó là Nhà Từ Vũ, bên trong có đặt một bia đá hình trụ, bên cạnh bia là hai ông phỗng ngồi canh gác.

Thủy tạ, được xây dựng trên bờ sông, vươn ra mặt nước và chia thành ba phần rõ rệt. Phần trung tâm là nơi ngự giá của kiệu thánh, bên trái là chiếu dành cho các bô lão cao tuổi và hội đồng tế lễ, còn bên phải là chỗ dành cho quan khách.

Ngoài các công trình chính, trong khuôn viên Đình Tây Tựu còn có một dãy nhà đặc biệt được gọi là xưởng thuyền. Đây là nơi người dân làng thực hiện các hoạt động liên quan đến nghề đóng thuyền, một nghề truyền thống gắn liền với sự phát triển kinh tế và văn hóa của vùng đất này. Các xưởng thuyền không chỉ là nơi sản xuất các loại thuyền phục vụ cho các hoạt động sinh hoạt, mà còn là biểu tượng của sự cần cù, sáng tạo và tinh thần lao động của người dân địa phương. Các thợ đóng thuyền tại đây vẫn gìn giữ và phát huy những kỹ thuật, bí quyết đã có từ nhiều thế hệ trước, đóng góp vào sự duy trì bản sắc văn hóa đặc sắc của làng Đăm nói riêng và của Đình Tây Tựu nói chung.

Các công trình này không chỉ mang giá trị lịch sử, mà còn mang đậm dấu ấn kiến trúc cung đình thời Lê Trung Hưng. Mỗi chi tiết trong kiến trúc đều được tính toán tỉ mỉ, từ bố cục cho đến các yếu tố trang trí, tạo nên một không gian thiêng liêng, khẳng định vị thế của đình trong đời sống văn hóa và tín ngưỡng của người dân.

Sự kiện và lễ hội

Lễ hội Đình Tây Tựu, diễn ra từ ngày 9 đến 11 tháng 3 âm lịch hàng năm, đây không chỉ là một lễ hội văn hóa, mà còn là dịp tái hiện lại chiến thuật bằng đường thủy chiến của tướng Đào Trường, qua đó tôn vinh hình ảnh thiêng liêng của Đức thánh Bạch Hạc Tam Giang. Lễ hội còn thể hiện lòng tri ân sâu sắc đối với công đức to lớn của vị thánh, đồng thời gìn giữ và phát huy những giá trị truyền thống của cộng đồng.

Sau khi thực hiện lễ tế tại đình và miếu, người dân tổ chức một cuộc rước thánh long trọng từ miếu về đình. Đám rước gồm các nghi trượng, vị trí trọng trách, và đông đảo dân làng. Khi đến đình, ngai thánh được đặt tại chính ngự ngoài, sau đó được rước vào đình.

Ngày mồng 10 tháng 3 là ngày chính hội, bắt đầu bằng lễ tế do hội đồng bô lão thực hiện. Lễ tế có những điểm đặc biệt, như hai thanh niên mặc áo xanh đứng canh cửa đình, và việc đọc chúc trước khi đốt chúc văn kèm theo pháo nổ. Trong khi đó, khách thập phương và dân làng mang lễ vật vào đình.

Khi lễ tế kết thúc, chiêng trống nổi lên, báo hiệu cuộc rước bắt đầu. Kiệu thánh được di chuyển từ ngoài vào trong đình, và đám rước diễn ra theo thứ tự nghiêm trang. Đám rước gồm nhiều đoàn, từ các thanh niên cầm cờ, đồ chấp kích, đến các cụ già trong ban tế, với mọi người đi sau kiệu thánh.

Đặc biệt, lễ hội làng Đăm còn gây ấn tượng mạnh mẽ với cuộc đua thuyền đầy hấp dẫn, nơi ba thôn: Thượng, Trung, Hạ, cùng tranh tài trên dòng sông. Những chiếc thuyền đầy màu sắc, lướt sóng dưới sự điều khiển tài tình của các tay chèo, tạo nên một cảnh tượng vô cùng sống động. Đội chiến thắng sẽ vinh dự được chở ngai Thánh về Miếu Thượng, như một minh chứng cho sức mạnh và lòng thành kính của cộng đồng.

Làng Đăm có hội bơi thuyền

Có lò đánh vật, có miền trồng rau

Không khí lễ hội càng thêm phần náo nhiệt và sôi động với tiếng pháo nổ vang trời, âm nhạc rộn ràng, cùng sự tham gia nhiệt tình của người dân trong làng và du khách thập phương. Mọi người đều hòa mình vào niềm vui chung, tạo nên một không gian lễ hội đầy sắc màu và âm thanh, nơi tín ngưỡng, văn hóa và tinh thần đoàn kết của cộng đồng được tôn vinh một cách trọn vẹn.

Xếp hạng

Đình Tây Tựu không chỉ là di tích lịch sử văn hóa mà còn là một trong những di tích cách mạng kháng chiến tiêu biểu của Quận Bắc Từ Liêm. Đình đã được Bộ Văn hóa Thông tin (Nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1993.

Lễ hội Bơi Đăm truyền thống đã được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2018.

Tài liệu tham khảo

  1. Võ Hoàng, Tín ngưỡng thờ Bạch Hạc Tam Giang, Cục di sản văn hoá.
  2. Lễ Hội Thăng Long, Nxb Hà Nội (2001).
  3. Đỗ Thỉnh (2000), Đại chí vùng ven Thăng Long, Nxb Văn hoá Thông tin.
  4. Văn Quảng (2009), Văn hoá tâm linh Thăng Long Hà Nội, Nxb Lao Động.
Chấm điểm

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)