Đình Thuý Lĩnh (Hoàng Mai, Hà Nội)

Đình Thuý Lĩnh (Hoàng Mai, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đình Thúy Lĩnh tọa lạc tại thôn Thúy Lĩnh, nay thuộc phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội, cách trung tâm thành phố khoảng 15km về phía nam. Vùng đất Thúy Lĩnh là một làng cổ nằm ven sông Hồng, vốn nổi tiếng với bãi dâu xanh tốt trù phú, do đó ban đầu có tên là Thúy Ái, về sau mới đổi thành Thúy Lĩnh. Đây là khu vực mang đậm dấu ấn cư trú lâu đời của người Việt, với các thiết chế văn hóa truyền thống điển hình là đình, chùa, gắn liền với tín ngưỡng dân gian và di sản lịch sử – văn hóa của cộng đồng cư dân bản địa.

Lịch sử và nhân vật

Nằm bên hữu ngạn sông Hồng, làng Thúy Ái (sau đổi là Thúy Lĩnh) là một làng cổ. Những đồng trinh Khải Nguyên chi bảo có niên hiệu Đường Huyền Tông (thế kỷ VIII) và Chí Hòa nguyên bảo đời Tống Chân Tông (thế kỷ XI) tìm thấy trong lòng đất Thúy Ái năm 1992 đã minh chứng nhận định này. Nhưng ít nhất là từ sáu thế kỷ nay, Thúy Ái đã trở thành một địa danh lịch sử, gắn liền với những thăng trầm của đất nước. Năm 1470, vua Lê Thánh Tông mở cuộc hành trình về phương Nam, quân bộ quân thủy cũng xuất phát từ nơi này. Mùa xuân năm 1491, nhà vua về bái yết Sơn Lăng ở Thanh Hóa, tháng Ba xa giá trở về kinh đô: “ngày 10 dừng thuyền ở bến Thúy Ái, các quan ra đón lạy, dân chúng tụ tập xem, ta bèn viết ra năm mươi sáu chữ để ghi việc ấy”. Nhà vua lại làm thơ có câu:

Gió đông dìu dịu, mặt trời chan hòa ánh nắng,
Bên sông trăm quan ra nghênh đón với áo triều màu tía, màu hồng.

Năm 1786, Thúy Ái chứng kiến trận thủy chiến giữa quân Tây Sơn và quân Lê – Trịnh. Dẫu đã dàn hàng trăm thuyền nghênh chiến nhưng trước sức tiến công như vũ bão của quân Tây Sơn, quân Trịnh tan vỡ nhanh chóng. Tướng Ngô Canh Hoàng (Lê – Trịnh) cầm đao đứng ở đầu thuyền chỉ huy, trúng đạn súng lớn đã tử trận gần bên đò Thúy Ái. Tin dữ về đến quê nhà, cả làng thương khóc, riêng bà Phạm Thị Thuấn (vợ hai) năm ấy hai mươi tuổi vẫn thản nhiên như không có chuyện gì. Rồi bà ra Bắc, đến chùa Kiến Sơ ở làng Phù Đổng, nơi vợ cả của Ngô Cánh Hoàn tu hành làm lễ cầu siêu cho chồng. Ngày hôm sau, bà về bên Thúy Ái, làm lễ khấn cáo gia tiên và nói: “Chồng thiếp chết vì việc nước, thiếp xin đi theo để trọn nghĩa cùng chồng”. Đoạn, bà chèo thuyền con ra giữa sông gieo mình xuống dòng nước xiết. Vua Chiêu Thống lên ngôi phong bà là “Tiết liệt phu nhân”. Ở xã Thúy Ái (Thanh Trì) và xã Trảo Nha (huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) đều lập đền thờ bà. Triều Nguyễn phong bà là “Dực bảo trung hưng Thượng đẳng phúc thần”. Đền thờ ở Trảo Nha có thêm biển vàng “Tiết liệt nhất gia” và hoành phi đề chữ lớn “Lê Triều tiết liệt phu nhân Phạm Thị chi từ” tạo năm Tự Đức thứ 12 (1859).

Du khách cảm thông với những số phận éo le trong lịch sử nay có tìm về thăm bến sông xưa sẽ ngỡ ngàng. Từ lâu, không rõ nguyên cớ gì, Thúy Ái đã được đổi thành Thúy Lĩnh. Đền bà Phạm Thị Thuấn, sau bao cuộc bể dâu cũng không còn nữa. Nhưng may sao, giữa vùng đê ven sông hiền hòa, sum suê màu xanh của cây trái vẫn còn đó một mái đình cổ kính. Nơi đây còn bảo lưu được nhiều bức chạm khắc, ngai thờ, kiệu, nghi tượng sơn son thiếp vàng có giá trị. Đình Thúy Lĩnh thờ đức Linh Lang. Ngài là hiện thân của Thái tử Hoằng Chân, con trai thứ tư của vua Lý Thánh Tông (1054–1072) và con của bà phi thứ chín họ Nguyễn quê ở Bồng Lai (huyện Hoài Đức). Hoằng Chân có công lớn trong cuộc phạt Tống bình Chiêm, khi mất được nhân dân hai trăm sáu mươi chín làng lập đền thờ và tôn vinh ngài là Linh Lang đại vương. Ở hậu cung đình Thúy Lĩnh, bên ngai chính thờ thánh Linh Lang, còn có ngai thờ thần Bạch Hổ. Theo các cụ ở làng, Bạch Hổ chính là bầy tôi của Linh Lang nên dân làng thường gọi ngài là Đức Thánh Hai. Ở Thúy Lĩnh có tục kiêng húy. Trong câu chuyện, người ta gọi “hổ” là “hể”, “khoai lang” gọi là “khoai dây”; gia cầm nuôi không có hai màu.

Đình Thúy Lĩnh là một công trình tín ngưỡng dân gian tiêu biểu, được xây dựng để thờ phụng Linh Lang Đại vương, một nhân vật lịch sử – huyền thoại có vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần người Việt. Theo thần phả ghi lại: “Linh Lang là con vua Lý Thái Tông (1028–1054), có tên tự là Đà, sinh ngày 13 tháng Chạp năm Kỷ Tỵ, là một hoàng tử toàn tài có sức khỏe hơn người. Năm 15 tuổi đã theo Lý Thái Tông đi đánh Chiêm Thành, có công được ban thưởng. Linh Lang mất năm Giáp Thìn (1064), vua cho lập đền thờ, nơi thờ chính là Thủ Lệ và Bồng Lai”. Việc thờ Linh Lang Đại vương tại đình Thúy Lĩnh cho thấy sự lan tỏa của tín ngưỡng thờ vị thần này ra ngoài khu vực chính gốc, phản ánh mối liên hệ giữa cộng đồng làng xã với triều đình phong kiến trong việc tưởng niệm công lao những nhân vật có đóng góp cho đất nước.

Kiến trúc cảnh quan

Đình Thúy Lĩnh là một tổng thể kiến trúc truyền thống gồm nhiều hạng mục cấu thành: Tam quan, Tiền đình, Trung đình và Hậu cung. Tiền đình gồm năm gian, mái lợp ngói mũi hài, với hệ thống bờ nóc trang trí mặt trời và các đầu đao chạm hình đầu rồng uốn cong, thể hiện rõ phong cách kiến trúc đình làng Bắc Bộ. Kết cấu vì kèo theo kiểu “chồng rường giá chiêng”, nền lát gạch Bát Tràng truyền thống. Gian giữa Tiền đình nổi bật với bốn đầu dư chạm lộng hình đầu rồng, thể hiện kỹ thuật chạm khắc gỗ tinh xảo. Trung đình nối với Tiền đình qua gian giữa, kết cấu vì kèo cũng theo kiểu “chồng rường giá chiêng xà nách”. Hậu cung gồm ba gian, kiến trúc đầu hồi bít đốc, cũng theo kiểu “chồng rường giá chiêng” nhưng đơn giản hơn. Tổng thể đình hài hòa, mang đậm đặc trưng kiến trúc đình làng truyền thống với sự phân cấp không gian linh thiêng từ ngoài vào trong.

Hiện vật

Đình Thúy Lĩnh hiện còn lưu giữ được một số lượng hiện vật phong phú và có giá trị lịch sử – văn hóa đặc biệt. Trong đó, đáng chú ý là hệ thống thần phả, tám đạo sắc phong (đạo sắc sớm nhất có niên đại Cảnh Hưng năm thứ 43 – Nhâm Dần, 1782), các hoành phi, câu đối, cùng các đồ thờ tự như ngai thờ, án nhang, kiệu, đồ sứ… Các hiện vật này không chỉ thể hiện tín ngưỡng dân gian mà còn là tư liệu quý phục vụ nghiên cứu về lịch sử, văn hóa và mỹ thuật truyền thống Việt Nam.

Sự kiện và lễ hội

Lại nói, lúc luyện quân theo chủ tướng đi đánh giặc, tương truyền Đức Thánh Hai cùng quân sĩ thích chơi môn vật cầu. Nhằm tưởng nhớ công đức của người xưa, hằng năm, mỗi lần tết đến, người Thúy Lĩnh lại tổ chức hội cướp bóng và vật cầu vào các ngày mồng 6, mồng 7 và mồng 8 tháng Giêng. Ngày trước, mỗi lần vào hội, cả làng được phân ra ba thành: thành Thượng, thành Trung, thành Cải Lương. Mỗi thành cử bốn phiên. Mỗi phiên hai người. Họ là những trai tráng, mặc quần trắng, thắt lưng đỏ, ở trần tượng trưng cho tám ông mãnh hò cướp bóng, cướp cầu. Bóng gồm bốn quả, lần lượt cướp từng quả một, hết bốn quả bóng mới tới cướp cán. Quả cầu được tiện bằng gỗ đường kính khoảng ba mươi lăm xăngtimét, sơn son.

Khi làng vào đám, mỗi thành (tương đương như cụm dân cư) đăng cai hội một ngày. Tùy theo khả năng, mỗi thành viên đóng góp tiền, gạo để sắm lễ vật và giải thưởng. Lễ vật gồm lợn, xôi, hương hoa dâng lên đình từ sáng sớm để quan viên hương lão tế lễ. Tế xong vào khoảng trưa, hội vật mới bắt đầu. Cuộc đua tranh diễn ra trên sân trước đình. Quả cầu được đặt vào lỗ cái ở giữa sân, rộng 80cm. Từ lỗ cái, hướng ra bốn góc là bốn lỗ con, tạo thành một hình vuông, mỗi cạnh khoảng lõm. Bên sân chơi là lễ đài, nơi đặt hương án. Giải là hiện vật hoặc tiền cũng đặt tại đây. Người đánh trống chầu là một cụ già cao tuổi, mặc áo the, đầu chít khăn đỏ. Tùy cuộc chiến diễn ra trên sân mà tiếng trống lúc khoan, lúc nhặt, lúc dồn dập, thúc bách. Theo sát mọi diễn biến trên sân là một trọng tài, cầm cờ lệnh. Các đấu thủ có luồn lách, lừa trước đón sau, có lúc cả tám người đè lấn lên nhau cố cướp bằng được quả cầu trong tay một người đang ôm chặt; có lúc quả cầu ở ngay trên đầu, hơn chục bàn tay giơ lên, họ kiễng, họ nhảy lên cao để đón bằng được. Người của phiên nào cướp được cầu về đặt vào lỗ của phiên mình thì được một giải con. Mỗi lần cướp được cầu, cả hai người vào lễ Thánh Hai vái và nhận giải. Phiên nào cướp được cầu ba lần liền thì lúc nhận giải lần thứ ba đồng thời cũng là giải cái. Cuộc chơi chỉ có vậy mà diễn ra suốt ba ngày, người xem chật kín sân đình. Người xem đủ các lứa tuổi reo hò xô lấn, cổ vũ mê say không lúc nào ngớt. Chỉ đến khi màn đêm buông xuống thì cuộc đua mới dừng mà thôi. Vật cầu là môn thể thao rèn trí, rèn lực, phiên vào vì sơ xuất không bố trí đủ người thì bị phạt, phải chi toàn bộ giải cho ngày hôm đó. Cái lõi chìm sâu của cuộc tranh cướp này là một cổ tục. Bóng và cầu đều là biểu tượng. Bóng biểu tượng của nước, cầu là biểu tượng mặt trời. Nước và ánh sáng là hai nhu cầu không thể thiếu của nghề nông và đây là lễ nghi nông nghiệp.

Vào rằm tháng Hai, ở Thúy Lĩnh còn có hội rước nước. Ngày trước, Thúy Lĩnh có đất canh tác ở bãi sông bên bờ Bắc (nay thuộc xã Đông Dư, huyện Gia Lâm). Tại đây có đền Mẫu Thoải. Ngay từ sáng sớm, đoàn rước xuất phát từ đình, đi ngược đê sông Hồng độ 3km, đến lò bát ông Thiếm thì xuống thuyền. Chín mười thuyền lớn chở kiệu long đình, kiệu rước, phù trang lễ vật cùng hàng trăm cụ ông, cụ bà sang sông. Cặp bến, đoàn rước vào đền tế lễ, xong quay ra thuyền và xuôi giữa dòng sông. Mặt sông mùa xuân âm vang tiếng trống, trống bát âm, trong khi đó, một cụ già cứ bình thản múc từng gáo nước đổ vào chóe.

Cùng hội ngày 15 tháng Hai còn có làng Nam Dư Thượng, Nam Dư Hạ gắn với tục kết chạ “Tam dân giao hảo”. Người có công gây dựng lễ đẹp này là cụ giáo họ Đoàn. Hồi đầu thế kỷ, sau phong trào Duy Tân, cụ lánh về Thúy Lĩnh dạy học cho con em ba làng. Tại đây, cụ còn hướng cho dân Thúy Lĩnh mở đường lớn nối làng với đê sông Hồng. Hằng năm, vào ngày hội, theo lệ luân phiên, hai làng bên mang phù trang hương hoa oản quả, kiệu long đình có đặt bát hương rước đến đình làng đăng cai. Đến nơi, bát hương của hai làng đặt vào hai bên bát hương của vị thành hoàng làng sở tại. Tế lễ xong, chủ khách đều ăn cỗ. Nhiều năm, khách làng bên đến ngồi gần hai mươi chiếu. Mỗi chiếu sáu người. Thù tiếp xong, quan anh quan em bịn rịn chia tay. Kiệu long đình vừa qua tới sân cũng bay đi bay lại. Người đời càng tin, các vị thần linh thấy nhân khang, vật thịnh cùng vui niềm vui trần thế, không muốn trở về. Hai làng Nam Dư Hạ đều ở trong đê, mỗi năm rước kiệu ra sông Hồng lấy nước, đều phải qua làng Thúy Lĩnh. Khi qua cửa đình, đoàn rước dừng lại, lễ vọng vào đình. Cùng lúc đó, nhân dân Thúy Lĩnh ăn mặc đẹp, có khi đặt cả hương án trên đường làng làm lễ phụng nghênh đoàn rước đi qua.

Vì có công lớn như vậy, nên xưa ở Từ Vũ cạnh đình Thúy Ái có phối thờ cụ Đoàn, làng tổ chức tế lễ giỗ cụ vào tháng Ba.

Xếp hạng

Đình và nghè Mai Động được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia vào năm 1980. Đây là một trong những cụm di tích tiêu biểu còn giữ được nhiều giá trị lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật truyền thống ở khu vực Hà Nội. Hiện nay, các công trình này đã trải qua nhiều đợt trùng tu, được bảo tồn trong bối cảnh đô thị hóa mạnh mẽ, góp phần khẳng định vai trò của di sản văn hóa trong đời sống cộng đồng đô thị hiện đại.

Nguồn trích dẫn

Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001

Tham khảo

  1. Lưu Minh Trị, (2010), Hà Nội – Danh thắng và di tích (Tập 1), Nxb Hà Nội.
5/5 (1 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin
Cover ảnh thiền sư chốn thiêng

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)