Tên gọi và vị trí địa lý
Đình Vĩnh Khê tọa lạc tại làng Vĩnh Khê, xã An Đồng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, thuộc khu vực ngoại thành của thành phố. Đình thờ ba vị Đại Vương: Trung Thánh Đại Vương Vũ Viết Giao, Hùng Võ Đại Vương Vũ Viết Trọng và Đại Vương Tứ Dương Hầu Phạm Tử Nghi. Các ngài đều là những dũng tướng có công lớn chống giặc ngoại xâm, trung thành, tận tâm vì nước, vì dân.
Làng Vĩnh Khê, ban đầu mang tên trang Lưu Khê, được hình thành muộn nhất vào thời kỳ nhà Trần (1225 – 1400). Nằm trên dải đất ven sông, làng Vĩnh Khê tọa lạc giữa hai con sông lớn là Cửa Cấm và Lạch Tray, hai dòng chảy chính của vùng đất Hải Phòng. Lịch sử hình thành và phát triển của làng Vĩnh Khê gắn liền với nghề trồng lúa nước cổ truyền, nghề chài lưới, đánh bắt và giao thông bằng thuyền của cư dân Lạc Việt, là một trong những làng văn hóa hiếm hoi được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba vì thành tích xuất sắc trong phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.
Lịch sử và nhân vật
Tương truyền rằng: Hai anh em Vũ Giao và Vũ Trọng sinh ngày mùng 7 tháng Giêng năm Đinh Sửu (1337) và đều lớn lên ở mảnh đất Vĩnh Khê.
Vào tháng 11 năm 1370, Vũ Giao cùng với Tuyên Vương và công chúa Thiên Ninh dẫn 50.000 quân tiến thẳng vào kinh thành. Vũ Trọng được phong làm Trung lang tướng, hậu ứng cho chiến dịch. Đến ngày 13, đoàn quân tiến đến phủ Kiến Hưng, phế truất Dương Nhật Lễ. Hai ngày sau, vào ngày 15 tháng 11, Trần Nghệ Tông lên ngôi, lấy niên hiệu Đại Khánh, thực hiện đại xá thiên hạ và ban thưởng cho các công thần cùng tướng sĩ. Vũ Giao được phong chức tá bậc xạ trung thánh công, còn Vũ Trọng được giao nhiệm vụ làm biển sát xứ đạo Nam.
Trong thời gian phụng sự, hai anh em đã trở về vùng đất Vĩnh Khê để rèn luyện võ nghệ và phổ biến phong trào võ vật với nhân dân.
Nhà vua cũng ân xá cho làng Lưu Khê, miễn các khoản thuế, tô, binh lương, đồng thời ban ân huệ cho cả làng, giúp nhân dân sống yên vui, no đủ. Năm 1396, khi quân Chiêm Thành tấn công Đại Việt, hai anh em Vũ Giao và Vũ Trọng cùng gia binh lên đường bảo vệ kinh thành và nhân dân, nhưng cả hai đã anh dũng hy sinh. Vua Trần Nghệ Tông vô cùng thương tiếc và phong tặng hai ông với tên hiệu “Trung Thánh Đại Vương” và “Hùng Võ Đại Vương”. Vua cũng ban cho ba trăm quan tiền đồng và sai dân Lưu Khê rước sắc về quê, dựng miếu thờ để tưởng nhớ công lao của hai vị.
Trải qua các triều đại, hai vị đại vương luôn được nhân dân tôn thờ và kính trọng. Khi làng gặp phải hạn hán, người dân tổ chức lễ cầu mưa và đều nhận được sự linh ứng. Các ngài thường hiển linh giúp đỡ đất nước, bảo vệ dân lành, xua đuổi tai ương, hóa giải nguy khốn. Vì thế, các triều đình qua các thời kỳ đều sắc phong cho các ngài những danh hiệu cao quý, đồng thời truyền lệnh cho dân chúng thờ cúng theo đúng quy định của triều đình. Vào năm Hưng Khánh, hai ngài được nhà vua ban tặng những danh hiệu mỹ miều: một vị được phong “Trung túc thông minh, cảm ứng hoằng tế”, vị còn lại được phong “Anh uy quả đoán, phù tô linh ứng”. Đến năm Trùng Quang thứ 21, hai vị được phong thêm sắc: “Dục chính an dân” và “Anh liệt cương nghị”.
Ngoài ra, đình Vĩnh Khê còn phối thờ Nam Hải Đại Vương – Tứ Dương Hầu Phạm Tử Nghi, người quê ở xã Vĩnh Niệm, huyện An Dương. Ông là người có công lớn trong việc khai phá, mở rộng vùng đất duyên hải và kiên quyết bảo vệ biên cương đất nước dưới triều đại nhà Mạc (thế kỷ XVI).
Tại làng Vĩnh Khê, vẫn lưu truyền một câu chuyện nổi tiếng về tướng Phạm Tử Nghi. Một lần, khi ông đi thu thuế và đi qua làng vào đúng dịp lễ hội, ông thấy dân làng đang tổ chức đấu vật, thấy vậy, ông liền tham gia ngay. Với sức khỏe phi thường, vượt trội, ông đã chiến thắng trong lễ dịp lễ hội đó. Sau khi ông mất, dân làng đã đúc tượng ông phối thờ tại đình làng Vĩnh Khê.
Đình Vĩnh Khê được xây dựng vào năm 1923 để tưởng nhớ tới công lao của các vị anh hùng, những người có công lớn giúp nước chống ngoại xâm, diệt hôn quân, giúp vua Trần Nghệ Tông lên ngôi Hoàng Đế.
Đình làng Vĩnh Khê giữ được đầy đủ chức năng một trung tâm hoạt động văn hóa, sinh hoạt tín ngưỡng của cư dân địa phương, xưa kia, đình còn là địa điểm hoạt động của cán bộ cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ cứu nước.
Từ khi được xây dựng, ngôi đình cũng đã trải qua nhiều đợt trùng tu ở những năm 1987, 2012 và giữ nguyên kiến trúc như hiện nay.
Kiến trúc cảnh quan
Đình Vĩnh Khê là một di tích lịch sử được bảo tồn gần như nguyên vẹn, tọa lạc trên một vùng đất rộng rãi, thoáng đãng, với cánh đồng bao la phía trước và khu dân cư nhộn nhịp hai bên, đình nằm ngay trên con đường chính của làng. Khuôn viên đình bao gồm: Cổng, Hồ nước, Đình chính, Nhà Ngang và Nhà Bia, xung quanh sân được trồng nhiều cây cổ thụ có từ lâu đời.
Cổng
Cổng đình được xây dựng theo kiến trúc Tam Quan, gồm ba cửa ra vào. Cửa chính có kích thước rộng nhất, nổi bật với hai cột trụ biểu hình lồng đèn, không có cửa và mái che, tạo cảm giác thoáng đãng. Thân cột được khắc những chữ Hán, trên đỉnh cột là hai con nghê chầu.
Từ cổng chính được lối với bức tường lửng dài khoảng 2 mét kết nối với hai cổng phụ ở hai bên. Mỗi cổng phụ có hai tầng, bốn mái, với vòm cửa uốn cong. Trên thân cột được khắc chữ Hán, phía tường trên mái cổng đắp nổi hình hổ phù. Tầng hai lợp ngói giả, các đầu đao uốn cong, đỉnh mái được trang trí cuồng lửa.
Qua cổng, là bức bình phong hình cuốn thư, đây là công trình mới được xây lại trong thời gian gần đây. Nằm phía sau bình phong là một hồ nước hình tròn, có diện tích lớn. Tiếp đó, qua hồ là một khoảng sân gạch rộng rãi, dẫn lối vào đình chính, nơi tôn nghiêm lưu giữ truyền thống văn hóa của làng.
Đình Chính
Đình Vĩnh Khê là công trình kiến trúc nghệ thuật có quy mô khá lớn, với cấu trúc hình chữ Công (工), mặt đình quay về hướng Nam, gồm 7 gian Tiền Đường, 2 gian Ống Muống, 3 gian Hậu Cung.
Hai bên đầu hồi của đình Vĩnh Khê là hai cột trụ biểu hình lồng đèn liền nối với tường. Ba gian giữa được thiết kế với hệ thống khung gỗ, mở cửa ra vào, còn bốn gian hai bên xây tường kín, ở giữa trổ cửa sổ hình chữ nhật, đặt các thanh chắn theo chiều dọc. Xung quanh đình, tường và móng được xây bằng đá, góp phần tạo nên vẻ bề thế, vững chãi cho công trình.
Bộ khung mái đình được dựng hoàn toàn từ gỗ tứ thiết, với hệ thống cột tròn gỗ lim có đường kính 500mm và cao 7m30, Các cột nâng đỡ toàn bộ mái đình. Đặc biệt, các tác phẩm chạm khắc dân gian trên gỗ được khắc trang trí trong đình nổi bật với hình ảnh tứ linh: Long, Ly, Quy, Phượng, cùng những họa tiết sóng nước, hoa lá, phản ánh rõ nét văn hóa truyền thống. Mỗi gian đình được trang trí cửa võng chạm lộng kênh bong và hương án sơn thếp vàng, bên trên đặt ngai ở vị trí trung tâm. Hệ thống hoành phi và câu đối khắc chữ Hán đều được treo ở mỗi cột và phía trên án thờ.
Trong Hậu Cung, là ban thờ “Tam Thánh” tôn thờ ba vị thành hoàng làng, tính từ trái qua phải là: Vũ Giao, Vũ Trọng, Phạm Tử Nghi. Ba vị ngự trên long ngai, được đặt trong khám thờ với dáng ngồi trang nghiêm, hai chân thả xuống, tay nhẹ đặt trên đầu gối. Phía trên ban thờ là bức đại tự khắc bốn chữ Hán “Dực Chính An Dân”, như lời cầu chúc cho dân làng luôn an khang, thịnh vượng. Ngoài ra, trước khám thờ ba vị còn có lọng và hai kiệu gỗ ở hai bên, dùng để rước các vị thánh trong dịp lễ hội.
Mái đình Vĩnh Khê lợp ngói mũi hài, ở góc mái là hai con kìm, chính giữa mái là lưỡng long chầu nguyệt.
Nằm bên trái Đình Chính là dãy nhà ngang 5 gian, nơi được sử dụng để tiếp đón khách quý và chuẩn bị các nghi lễ trong những dịp lễ hội trang trọng. Ở bên tay phải là Nhà Bia có cấu trúc như Phương đình, bên trong đặt bia đá.
Sự kiện và lễ hội
Lễ hội làng Vĩnh Khê gắn liền với tín ngưỡng nông nghiệp, tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng, diễn ra vào ngày mùng 7 tháng Giêng hàng năm, nhằm tưởng nhớ, tri ân các vị thành hoàng và cầu mong thần linh phù hộ cho dân làng có cuộc sống an lành, bình an.
Lễ hội diễn ra với phần lễ thánh, cáo yết với các vị thánh để xin phép được tổ chức lễ hội. Tiếp theo là nghi lễ giao điệp (vật lễ), được thực hiện bởi hai cụ ông ngoài 60 tuổi, có đầy đủ vợ con, cháu chắt ngoan hiền. Hai vị này sẽ được dân làng bình chọn vào cuối năm cũ và họ sẽ thực hiện nghi lễ giao điệp để tỏ lòng thành kính với tổ tiên và các vị thánh.
Ngoài phần lễ, lễ hội đình Vĩnh Khê còn diễn ra nhiều trò chơi dân gian cùng với nhiều hoạt động văn hóa dân gian cổ từ xưa như: chơi đu, hội bơi thuyền, bịt mắt bắt dê, bắt vịt dưới ao, cờ tướng, chọi gà, cầu thùm.
Lê hội làng còn nổi bật với hội đấu vật truyền thống, thu hút đông đảo người dân tham gia. Điểm đặc biệt của lễ hội này là các trận đấu không tuân theo quy chuẩn nào mà hoàn toàn dựa vào lệ làng, không phân chia theo lứa tuổi, hạng cân hay thời gian thi đấu, mang đậm bản sắc văn hóa địa phương. Hội vật làng Vĩnh Khê là môn vật cổ truyền, được bắt nguồn từ lòng tưởng nhớ của dân làng Vĩnh Khê tới tấm lòng trung nghĩa của hai danh tướng họ Vũ, tinh thông võ nghệ, thạo việc sông nước, thể hiện tinh thần quả cảm và ý chí quyết chiến của hai võ tướng.
Ngoài ý nghĩa tín ngưỡng, lễ hội đình Vĩnh Khê còn là dịp để cộng đồng vui chơi, gắn kết, củng cố tinh thần đoàn kết và tình làng nghĩa xóm. Hơn nữa, lễ hội là nơi bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, giúp tái hiện các phong tục, nghi lễ, đồng thời cung cấp tư liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu lịch sử. Vì vậy, lễ hội vật làng Vĩnh Khê đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể cấp quốc gia theo Quyết định số 3421/QĐ-BVHTTDL vào năm 2018.
Hiện vật
Đình Vĩnh Khê hiện đang bảo tồn nhiều di vật quý giá gồm: đôi quán tẩy, khám thờ, tượng thờ, long ngai, bài vị, sắc phong, câu đối, đỉnh hương đồng, cây nến đồng, bia hiệu thần đá cùng các đồ thờ và tế khí.
Đặc biệt, Đình Vĩnh Khê còn sở hữu một di sản quý giá là cây đa hơn 130 năm tuổi, được công nhận là cây di sản vào tháng 1 năm 2021. Cây đa có thân to, tán lá rộng và cao, lá luôn tươi tốt. Cây được trồng phía sau đình, tại gốc cây có dựng một bia đá ghi lại thông tin về cây đa di sản.
Xếp hạng
Đình Vĩnh Khê được nhà Nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa Quốc gia năm 1994. Nơi đây không chỉ tôn vinh tinh thần và giá trị văn hóa dân tộc, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và truyền lại những truyền thống quý báu cho các thế hệ mai sau.
Tham khảo
- Phạm Thị Liên, Quản lý di tích lịch sử – văn hóa đình Vĩnh Khê, xã An Đồng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa, Khóa 6 (2016 – 2018), Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương.
- Cổng thông tin điện tử thành phố Hải Phòng