Đô thị cổ Hội An (Hội An Đông, Đà Nẵng)

Đô thị cổ Hội An (Hội An Đông, Đà Nẵng)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đô thị cổ Hội An tọa lạc tại vùng đồng bằng ven biển miền Trung, án ngữ ngay vùng hạ lưu ngã ba sông Thu Bồn thuộc địa phận tỉnh Đà Nẵng. Đây là hình mẫu tiêu biểu và duy nhất tại Việt Nam về một cảng thị truyền thống Đông Nam Á được bảo tồn gần như nguyên vẹn, một hiện tượng hiếm thấy trên thế giới. Với vị thế địa lý đặc thù, Hội An không chỉ sở hữu một đô thị cổ kính mà còn được bao quanh bởi môi trường thiên nhiên trong lành, êm ả với những làng ngoại ô xinh xắn và các làng nghề thủ công truyền thống như mộc, làm đồ đồng và gốm sứ.

Trọng tâm của di sản chính là Khu phố cổ, nằm trọn trong địa bàn phường Hội An với diện tích khoảng 2km². Địa hình nơi đây có đặc điểm tự nhiên nghiêng dần từ Bắc xuống Nam. Hệ thống đường phố trong khu vực này được thiết kế theo kiểu bàn cờ với những con phố ngắn và hẹp, có độ uốn lượn duyên dáng, chạy dọc ngang đan xen nhau.

Kiến trúc cổ tại Hội An là sự kết tinh của nhiều nền văn hóa, từ dấu ấn của người Việt, người Chăm đến sự giao lưu hội nhập với người Hoa, người Nhật và các quốc gia phương Tây. Dù năm khởi dựng có thể từ rất xưa, nhưng hầu hết các công trình hiện nay được xác định là làm lại mới từ đầu thế kỷ XIX. Các di tích như phố xá, hội quán, đình, chùa, nhà thờ tộc hay những giếng cổ, mộ cổ đều được xây dựng bằng vật liệu truyền thống như gạch và gỗ, đặc biệt không có nhà nào cao quá hai tầng.

Dấu ấn thời gian tại đô thị này hiện hữu rõ nét trên những mái ngói âm dương phủ kín rêu phong, những mảng tường xám mốc xưa cũ và các bức chạm khắc tinh xảo. Cùng với các công trình kiến trúc, những phong tục tập quán, nghi lễ tín ngưỡng và ẩm thực truyền thống vẫn được bao thế hệ người dân phố cổ nâng niu, gìn giữ, tạo nên một sức sống bền bỉ cho di sản văn hóa này.

Lịch sử và nhân vật

Lịch sử hình thành của vùng đất Hội An có cội nguồn từ rất sớm, từng là địa bàn phân bố của nền văn hóa tiền Sa Huỳnh, Sa Huỳnh và là một cảng thị trọng yếu của vương quốc Chămpa trong suốt nhiều thế kỷ, từ thế kỷ II đến thế kỷ XV. Từ khoảng cuối thế kỷ XV, cư dân Đại Việt bắt đầu đến đây sinh sống, lập làng và sáng tạo nên nhiều ngành nghề sản xuất phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội tại vùng đất mới này.

Bước sang thế kỷ XV – XVI, thương cảng Hội An chính thức được hình thành. Sự xuất hiện của người Hoa và người Nhật đến định cư từ cuối thế kỷ XVI đã tạo ra một lực đẩy mạnh mẽ, giúp hoạt động thương nghiệp tại đây phát triển vượt bậc. Nhờ vị trí địa lý thuận lợi cùng bối cảnh kinh tế, xã hội và văn hóa của Đàng Trong phát triển tương đối ổn định, Hội An nhanh chóng vươn mình trở thành một đô thị cổ và thương cảng phồn thịnh.

Thời kỳ thịnh đạt nhất của Hội An rơi vào thế kỷ XVII – XVIII. Lúc bấy giờ, nơi đây không chỉ là trung tâm mậu dịch lớn nhất của Đàng Trong mà còn là một trong những thương cảng sầm uất bậc nhất vùng biển Đông Nam Á. Hàng năm, tàu thuyền từ Nhật Bản, Trung Quốc, các quốc gia trong khu vực và một số nước châu Âu thường xuyên cập bến, mở ra những hội chợ giao thương kéo dài từ 4 đến 6 tháng liền.

Sự cởi mở của chính quyền đương thời cũng đóng vai trò quan trọng khi các chúa Nguyễn cho phép nhiều kiều dân nước ngoài, đặc biệt là người Hoa và người Nhật, được ở lại lập phố, mở cửa hàng buôn bán và sinh sống theo phong tục riêng. Chính nhờ chính sách này, vào thế kỷ XVII, Hội An đã hình thành nên những khu vực đặc thù như “phố Nhật”, “phố Khách” và sự xuất hiện của các thương điếm Hà Lan. Tất cả những yếu tố đó đã hội tụ, biến Hội An thành một trung tâm giao lưu kinh tế rộng lớn, một đô thị – thương cảng mang tầm cỡ quốc tế.

Kiến trúc cảnh quan

Tính đến năm 1999, khu phố cổ Hội An đã kiểm kê được 1.360 di tích, tạo thành một quần thể di sản đa dạng bao gồm:

  • 10 di tích khảo cổ: Minh chứng cho các tầng văn hóa sớm.
  • 1.273 di tích kiến trúc – nghệ thuật: Phố xá, nhà cửa, hội quán, đình, chùa, miếu, giếng cổ…
  • 69 di tích lịch sử cách mạng và 08 danh lam thắng cảnh.

Các di tích này phân bố dọc theo những trục đường truyền thống nhỏ và hẹp, chạy ngang dọc theo kiểu bàn cờ với độ uốn lượn tự nhiên. Kiến trúc tại đây vừa mang đậm sắc thái địa phương của người Việt, vừa thể hiện sự giao thoa văn hóa mạnh mẽ với các quốc gia phương Đông (Hoa, Nhật) và phương Tây.

Các tầng bậc di tích khảo cổ và dấu ấn Chămpa

  • Văn hóa Sa Huỳnh (cách nay khoảng 2.000 năm): Các di tích trải dài trên dải cồn cát dài 2.000m, rộng 1.000m dọc tỉnh lộ Vĩnh Điện – Hội An. Tiêu biểu là các khu mộ chum (Hậu Xá, Hậu Xá II, An Bang, Thanh Chiếm, Xuân Lâm) và các di chỉ cư trú (Hậu Xá I, Đồng Nà).
  • Thời kỳ Vương quốc Chămpa: Các dấu tích còn sót lại bao gồm phế tích kiến trúc, tác phẩm điêu khắc, bến thuyền Chămpa, di chỉ Trảng Sỏi I và hệ thống giếng cổ.
  • Hệ thống giếng cổ: Nằm sâu trong quần thể phố cổ dọc bờ Bắc sông Thu Bồn. Giếng có kết cấu đá hoặc gạch, hình “vành khăn” hoặc “cổ áo”. Đặc biệt, dưới đáy giếng có 4 thanh đà gỗ lim ghép thành hình vuông, lòng giếng có dạng vuông hoặc tròn.

Đặc điểm kiến trúc nhà ở và nhà thờ tộc

  • Nhà ở phổ biến: Thường có mặt bằng hình ống, gồm nhiều nếp nhà nối tiếp nhau theo trật tự nhà – sân – nhà. Các nếp nhà được liên kết bởi nhà cầu và sân trời.
  • Kết cấu và vật liệu: Khung gỗ, tường gạch (một số có vách gỗ), mái lợp ngói máng (âm dương). Tường hồi bít đốc có bờ dải uốn lượn kiểu long đình.
  • Kỹ thuật đỡ mái: Rất đa dạng với các kết cấu: chồng rường – giả thủ, cột trốn – kẻ chuyền, kèo cầu – cánh ác, chồng đấu – con son. Đặc biệt là kết cấu “vì vỏ cua” ở phần hiên.
  • Trang trí: Sử dụng thủ pháp chạm nổi, chạm thủng, kênh bong với đề tài truyền thống. Điểm độc đáo nhất là hai mắt cửa gỗ được gắn trên bạo cửa chính ra vào.
  • Nhà thờ họ: Có cấu trúc tương tự nhà ở với hai nếp nối tiếp (nếp ngoài kiểu chồng rường – giả thủ, nếp trong kiểu cột trốn – kẻ chuyền). Hai dãy nhà tả, hữu ôm lấy sân giữa.

Kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng và hội quán

  • Đình: Chủ yếu có niên đại thế kỷ XIX, thờ tiền hiền hoặc tổ nghề. Mặt bằng chữ Nhất (không có chuôi vồ), kết cấu nhà rường, cột trốn – kẻ chuyền.
  • Chùa: Hội An từng là trung tâm Phật giáo Đàng Trong. Chùa trong phố cổ thường có mặt bằng hình chữ Quốc, nếp chùa chính và hai hành lang ôm lấy sân gạch vuông; thường kết hợp thờ Phật và Thánh hoặc làm Hội quán. Chùa ngoài phố cổ thường có mặt bằng hình chữ Nhị hoặc chữ Đinh. Các kiến trúc gỗ hiện nay chủ yếu có niên đại từ nửa đầu thế kỷ XIX.
  • Hội quán: Của người Hoa, thường được kết hợp ngay trong các ngôi chùa lớn, niên đại khởi dựng khoảng thế kỷ XIX.
  • Chùa Cầu (Lai Viễn Kiều): Là di tích tiêu biểu nhất, chiếc cầu cổ duy nhất còn lại. Cầu có kiến trúc gỗ đặc biệt, trên cầu có ngôi chùa thờ Bắc Đế Trấn Vũ do chúa Nguyễn Phúc Chu đặt tên vào năm 1719.

Hệ thống mộ cổ

Hội An lưu giữ hệ thống mộ cổ đa dạng của người Việt, Hoa, Nhật và phương Tây:

  • Mộ người Việt: Tiêu biểu là mộ họ Trần (cuối thế kỷ XVIII) với hình dáng mu rùa, xây bằng hỗn hợp vôi, cát, mật mía. Bia mộ làm bằng đá sa thạch hoặc cẩm thạch.

Toàn bộ các công trình này, từ những mái ngói rêu phong đến các bức chạm khắc tỉ mỉ, đều in đậm dấu vết thời gian và sự tài hoa của các nghệ nhân mộc, nề, gốm sứ thuộc nhiều dân tộc khác nhau từng hội tụ tại thương cảng này.

Di sản

Hệ thống hiện vật tại Đô thị cổ Hội An rất phong phú và đa dạng, phản ánh rõ đời sống kinh tế, văn hóa, tín ngưỡng và quá trình giao lưu quốc tế của cư dân phố Hội qua nhiều thời kỳ lịch sử. Các hiện vật hiện được lưu giữ, trưng bày tại nhiều bảo tàng chuyên đề như Bảo tàng Văn hóa Dân gian Hội An, Bảo tàng Văn hóa Sa Huỳnh và Bảo tàng Lịch sử – Văn hóa Hội An.

Bảo tàng Văn hóa Dân gian Hội An

Bảo tàng Văn hóa Dân gian Hội An được mở cửa từ ngày 24/3/2005 trong một ngôi nhà cổ hai tầng tiêu biểu của phố cổ, dài 57m, rộng 9m, thông giữa hai tuyến đường Nguyễn Thái Học và Bạch Đằng. Với diện tích trưng bày khoảng 369m², bảo tàng hiện lưu giữ và giới thiệu 483 hiện vật theo bốn chủ đề chính gồm: nghệ thuật tạo hình dân gian, nghệ thuật diễn xướng dân gian, các làng nghề truyền thống và sinh hoạt dân gian. Ngoài ra, bảo tàng còn lưu giữ hơn 346 hiện vật tại kho như trang phục của người Việt và người Hoa, các công cụ sản xuất, sản phẩm thủ công truyền thống và nhiều tư liệu quý phục vụ nghiên cứu.

Trong nhóm hiện vật về nghệ thuật tạo hình dân gian, nổi bật là các tác phẩm điêu khắc gỗ, phù điêu sành sứ, tượng thờ bằng đồng, gỗ, đất nung cùng các hoành phi, liễn đối khảm xà cừ và tranh thủy mặc. Những hiện vật này hiện vẫn được lưu giữ trong nhiều ngôi nhà cổ và cơ sở tín ngưỡng ở Hội An, thể hiện sự tài hoa và tinh tế của các thế hệ nghệ nhân địa phương.

Các hiện vật và tư liệu về nghệ thuật diễn xướng dân gian phản ánh đời sống tinh thần phong phú của cư dân phố Hội. Tiêu biểu là múa Thiên Cẩu – loại hình múa dân gian gắn với Tết Trung thu và ý nghĩa cầu phúc, trừ tà; hát bả trạo – hình thức diễn xướng của ngư dân trong lễ cầu ngư và tế cá Ông; cùng trò chơi bài chòi, loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian phổ biến ở miền Trung.

Một mảng hiện vật quan trọng khác giới thiệu về các làng nghề truyền thống của Hội An. Trong đó có các công cụ đánh bắt sông nước, ghe thuyền, ngư cụ phản ánh nghề khai thác thủy sản lâu đời của cư dân vùng cửa sông – ven biển. Các hiện vật liên quan đến nghề buôn cho thấy Hội An từng là thương cảng quốc tế sầm uất, nơi giao thương hàng hóa với nhiều quốc gia trong khu vực và thế giới.

Hiện vật nghề nông phản ánh đời sống lao động của cư dân trên vùng đất cửa sông – ven biển với các công cụ trồng lúa, chăn nuôi và sản xuất nông nghiệp truyền thống. Bên cạnh đó là các hiện vật về nghề y cổ truyền như tủ thuốc, dụng cụ bốc thuốc, chế biến dược liệu, cho thấy Hội An từng là trung tâm Đông y quan trọng của Đàng Trong từ thế kỷ XVI – XVII.

Bảo tàng cũng lưu giữ nhiều hiện vật liên quan đến các nghề thủ công nổi tiếng như nghề mộc Kim Bồng, nghề gốm Thanh Hà và nghề may truyền thống. Các sản phẩm mộc, ghe bầu, đồ mỹ nghệ bằng gỗ, đồ gốm không men, cùng các dụng cụ may mặc cổ phản ánh kỹ thuật thủ công tinh xảo và sự phát triển của các ngành nghề truyền thống tại phố Hội.

Ngoài ra, bộ sưu tập về trang phục truyền thống và tục lệ cưới hỏi của người Việt, người Hoa tại Hội An cũng góp phần tái hiện đời sống văn hóa cộng đồng cư dân đa dạng từng sinh sống và giao thương tại đây.

Bảo tàng Văn hóa Sa Huỳnh

Bảo tàng Văn hóa Sa Huỳnh là nơi lưu giữ gần 950 hiện vật được khai quật tại các di chỉ khảo cổ ở Hội An như An Bàng, Hậu Xá, Thanh Chiêm… Các hiện vật thuộc nền văn hóa Sa Huỳnh phản ánh đời sống cư dân cổ cách đây hàng nghìn năm và cho thấy mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa cư dân miền Trung Việt Nam với các khu vực Đông Nam Á, Nam Ấn và Trung Hoa. Đặc biệt, các hiện vật phát hiện tại di chỉ Bãi Ông – Cù Lao Chàm là minh chứng cho sự hiện diện của cư dân bản địa tại khu vực này từ hơn 3.000 năm trước.

Bảo tàng Lịch sử – Văn hóa Hội An

Bảo tàng Lịch sử – Văn hóa Hội An hiện lưu giữ nhiều tư liệu, hình ảnh và hiện vật phản ánh quá trình hình thành, phát triển của đô thị cổ qua các thời kỳ. Trong đó có các tư liệu về phong trào cách mạng tại Hội An, các hiện vật lao động sản xuất thời kỳ sau năm 1975, cùng nhiều tranh ảnh, chuông cổ, đồ gia dụng và hiện vật dân gian khác. Những hiện vật này góp phần tái hiện sinh động lịch sử, đời sống văn hóa và tinh thần của cư dân phố Hội qua nhiều thế hệ.

Hệ thống hiện vật phong phú tại Đô thị cổ Hội An không chỉ phản ánh bề dày lịch sử, văn hóa của vùng đất này mà còn cho thấy quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa nhiều cộng đồng cư dân trong và ngoài nước, góp phần tạo nên giá trị đặc sắc của Di sản Văn hóa Thế giới Hội An.

Xếp hạng

Với những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa và kiến trúc, tại kỳ họp lần thứ 23 diễn ra từ ngày 29/11 đến ngày 4/12/1999 tại Marrakesh (Maroc), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã chính thức ghi tên Đô thị cổ Hội An vào Danh mục Di sản Văn hóa Thế giới. Đây là sự ghi nhận quốc tế đối với một đô thị thương cảng cổ còn được bảo tồn khá nguyên vẹn, phản ánh sự giao lưu văn hóa giữa Việt Nam với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới qua nhiều thế kỷ.

Tiếp đó, với những giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và khoa học, ngày 12/8/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1272/QĐ-TTg xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật Đô thị cổ Hội An là Di tích quốc gia đặc biệt. Đây là cơ sở quan trọng để bảo tồn, phát huy giá trị của khu di sản trong quá trình phát triển văn hóa và du lịch hiện nay.

5/5 (2 bình chọn)
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)