Tên gọi và vị trí địa lý
Gò Đống Đa (nay còn gọi là Công viên Văn hóa Đống Đa) tọa lạc tại phường Quang Trung, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội (nay thuộc phường Đống Đa, thành phố Hà Nội).
Theo các tư liệu lịch sử và hồi cố của các bậc cao niên làng Thịnh Quang, khu vực Gò Đống Đa xưa nằm ở phía ngoài Kinh thành Thăng Long, thuộc địa phận làng Khương Thượng, huyện Quảng Đức, phủ Thuận Thiên. Đây là một trong những địa điểm diễn ra trận chiến quyết định trong chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa của nghĩa quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ, đánh tan quân Thanh xâm lược vào mùa Xuân Kỷ Dậu (1789).
Lịch sử và nhân vật
Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ
Hoàng đế Quang Trung (1753 – 1792), tên thật là Nguyễn Huệ, còn được biết đến với tên Nguyễn Quang Bình, từng giữ danh hiệu Bắc Bình Vương trước khi lên ngôi Hoàng đế. Ông là vị Hoàng đế thứ hai của triều đại Tây Sơn, kế vị Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc.
Nguyễn Huệ là một trong những nhà quân sự kiệt xuất trong lịch sử Việt Nam, đồng thời là một nhà lãnh đạo có tài năng về chính trị và cải cách. Cùng với hai người anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ, ông được nhân dân biết đến là một trong ba lãnh tụ của phong trào Tây Sơn, góp phần chấm dứt tình trạng phân tranh Đàng Trong – Đàng Ngoài kéo dài hơn hai thế kỷ, lật đổ các tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn và triều Hậu Lê, từng bước thống nhất đất nước.
Trong sự nghiệp quân sự, Quang Trung đã chỉ huy nghĩa quân Tây Sơn giành nhiều chiến thắng vang dội trước các thế lực ngoại xâm, tiêu biểu là chiến thắng đánh bại quân Xiêm tại Rạch Gầm – Xoài Mút (1785) và chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa đánh tan quân Thanh xâm lược vào mùa Xuân Kỷ Dậu (1789). Trong hơn 20 năm cầm quân, ông đã trải qua nhiều trận đánh lớn và gần như chưa từng thất bại.
Trên cương vị Hoàng đế, Quang Trung còn thể hiện tầm nhìn của một nhà cải cách khi đề ra nhiều chính sách tiến bộ trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, quân sự; chú trọng phát triển đất nước, cải cách giáo dục và mở rộng giao lưu, tiếp thu tri thức, khoa học kỹ thuật từ bên ngoài.
Cuộc đời và sự nghiệp của Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ có vai trò quan trọng trong quá trình thống nhất đất nước dưới thời Tây Sơn. Công lao của ông được nhiều bộ sử và các nhà nghiên cứu qua các thời kỳ đánh giá cao. Sau khi ông qua đời, nhân dân nhiều địa phương đã lập đền thờ, xây dựng lăng mộ, tượng đài và các công trình tưởng niệm nhằm ghi nhớ công lao của vị anh hùng dân tộc.
Chiến dịch Ngọc Hồi – Đống Đa, giải phóng Kinh thành Thăng Long
Di tích lịch sử Gò Đống Đa gắn liền với chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa mùa Xuân Kỷ Dậu (1789), một trong những chiến công chống ngoại xâm tiêu biểu và vang dội nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà sử học tập trung tìm hiểu về diễn biến chiến dịch, các trận đánh tại khu vực Đống Đa và những chiến trường phụ cận dưới sự chỉ huy của Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ.
Cuối năm 1788, trước tình hình quân Thanh tiến vào xâm lược Đại Việt và chiếm đóng Thăng Long, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung, trực tiếp chỉ huy cuộc hành quân thần tốc ra Bắc nhằm đánh đuổi quân xâm lược, bảo vệ nền độc lập dân tộc.
Từ ngày 25 tháng Chạp năm Mậu Thân (1788), nghĩa quân Tây Sơn bắt đầu tiến quân ra Bắc. Với nghệ thuật quân sự tài tình, tốc độ hành quân nhanh chóng, cách đánh bất ngờ và táo bạo, quân Tây Sơn liên tiếp giành thắng lợi tại các cứ điểm quan trọng. Đêm mùng 4, rạng sáng mùng 5 Tết Kỷ Dậu (1789), quân Tây Sơn tiến công đồn Khương Thượng – Đống Đa, tiêu diệt một bộ phận lớn quân Thanh, góp phần quyết định vào thắng lợi chung của chiến dịch Ngọc Hồi – Đống Đa, giải phóng Kinh thành Thăng Long.
Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa đã đập tan âm mưu xâm lược Đại Việt của nhà Thanh dưới thời vua Càn Long, khẳng định tài thao lược xuất chúng của Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ và sức mạnh đoàn kết, ý chí độc lập của dân tộc Việt Nam.
Giá trị nổi bật của di tích Gò Đống Đa không chỉ nằm ở ý nghĩa lịch sử mà còn thể hiện nghệ thuật quân sự đặc sắc của nghĩa quân Tây Sơn với những cuộc hành quân thần tốc, chiến thuật linh hoạt, đánh nhanh, đánh mạnh, khiến quân địch hoàn toàn bị động và không kịp trở tay. Đây là nơi ghi dấu một trong những đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam cuối thế kỷ XVIII, đồng thời là biểu tượng cho tinh thần yêu nước, ý chí quật cường và truyền thống đấu tranh bảo vệ độc lập của dân tộc.
Kiến trúc cảnh quan
Di tích Gò Đống Đa xưa vốn là một trong những quả gò thuộc khu vực xứ Đống Đa. Theo thời gian, trên các gò đống mọc nhiều cây cối, đặc biệt là cây đa, nên người dân địa phương quen gọi khu vực này là Gò Đống Đa. Đến giữa thế kỷ XIX, hệ thống các gò tại đây vẫn còn khá nguyên vẹn. Theo bản đồ Hà Nội được vẽ vào năm Tự Đức thứ 26 (1873), khu vực xứ Đống Đa khi đó còn ghi nhận 6 quả gò.
Tuy nhiên, trong thời Nguyễn và thời kỳ Pháp thuộc, do chưa được quan tâm bảo vệ, nhiều gò đất gắn với chiến tích lịch sử đã dần bị xâm hại, san lấp. Đến nay, khu vực Đống Đa chỉ còn lại hai gò chính là gò Đống Đa (còn gọi là gò Trung Liệt) – nơi có đền Trung Liệt được xây dựng trên gò, và gò Đống Thiêng thuộc khu vực Thái Hà ấp, trước đây có chùa của làng Thịnh Quang. Ngoài ra, gò Đầu Lâu phía sau chùa Bộc, giáp chùa Đồng Quang cũng từng tồn tại nhưng nay đã không còn, chỉ còn lại dấu tích trong ký ức dân gian.
Năm 2010, nhân dịp Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, di tích Gò Đống Đa được tiến hành tu bổ, tôn tạo với tổng diện tích hơn 22.120,8 m², đồng thời xây dựng, chỉnh trang thêm nhiều hạng mục nhằm bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử của di tích.
Hiện nay, tổng thể khu di tích Gò Đống Đa gồm các hạng mục chính như: cổng vào, gò Đống Đa, nghi môn, tượng đài Hoàng đế Quang Trung, đền thờ Hoàng đế Quang Trung cùng các công trình phụ trợ. Không gian di tích vừa mang tính tưởng niệm, vừa là nơi tổ chức các hoạt động văn hóa, lễ hội hằng năm nhằm tưởng nhớ công lao của người anh hùng áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ và nghĩa quân Tây Sơn.
Hệ thống các cổng
Hiện nay, di tích Gò Đống Đa có ba cổng ra vào chính gồm: cổng phố Tây Sơn, cổng số 2 Đặng Tiến Đông và cổng số 4 Đặng Tiến Đông. Mỗi cổng có chức năng và đặc điểm kiến trúc riêng, góp phần tạo nên không gian cảnh quan tổng thể của khu di tích.
Cổng phố Tây Sơn
Cổng phố Tây Sơn là cổng chính của di tích, được xây dựng theo kiểu một tầng, bốn mái đao cong. Phần bờ nóc để trơn, hai đầu mái trang trí hình kìm cách điệu, bốn đầu đao tạo tác hình rồng lá, mái lợp ngói vẩy truyền thống.
Cổng gồm hai phần chính là phần mái và phần thân cổng. Thân cổng được làm bằng đá, gồm bốn trụ đỡ hệ kết cấu gỗ phía trên. Các trụ được soi gờ, kẻ chỉ, tạo dáng thắt cổ bồng. Hai bên thân cổng là các bức tường lửng, phía ngoài bố trí hai trụ nhỏ, trên đỉnh đắp hình búp sen, nối với hệ thống tường bao quanh khuôn viên di tích.
Phần trên các trụ đá có tiết diện phẳng, là vị trí đặt bộ khung mái. Hệ thống khung gỗ liên kết giữa bốn trụ đá bằng các ván đố lụa bưng kín ba mặt, mặt sau để trống. Các xà ngang, xà dọc, xà thượng, xà hạ liên kết tạo thành bộ khung vững chắc. Bốn góc sử dụng các kẻ xó vươn ra để đỡ hệ mái đao.
Bộ mái được nâng đỡ bởi hệ thống dạ tàu liên kết với xà ngoài thông qua các tay co; thân trụ gỗ sử dụng các con sơn tạo dáng gần với kết cấu đấu củng, vừa có tác dụng chịu lực vừa tạo điểm nhấn kiến trúc. Hai bộ vì chính được làm theo kiểu chồng rường. Các cấu kiện gỗ chủ yếu được bào trơn, đóng bén, chú trọng sự chắc chắn, bền vững hơn là trang trí cầu kỳ.
Cổng số 2 Đặng Tiến Đông
Cổng số 2 Đặng Tiến Đông hiện là lối vào chính phục vụ khách tham quan di tích. Từ cổng này, du khách có thể tiếp cận các không gian quan trọng của khu di tích: đi về bên phải là đường dẫn lên Gò Đống Đa; đi thẳng vào bên trong là khu vực Nghi môn, Quảng trường, Tượng đài Hoàng đế Quang Trung, Phù điêu và Đền thờ Hoàng đế Quang Trung.
Cổng được thiết kế theo hướng đơn giản, thuận tiện cho việc tổ chức tham quan, hành lễ và các hoạt động văn hóa tại di tích.
Cổng số 4 Đặng Tiến Đông
Cổng số 4 Đặng Tiến Đông được xây dựng theo kiểu một tầng, một lối đi, chủ yếu sử dụng vật liệu bê tông, mái dán ngói vẩy truyền thống. Công trình không có nhiều họa tiết trang trí, tập trung vào công năng sử dụng, tạo sự thuận tiện trong việc ra vào, phục vụ nhân dân và du khách đến tham quan, chiêm bái tại Đền thờ Hoàng đế Quang Trung.
Nghi môn
Nghi môn là một trong những hạng mục được tu bổ, tôn tạo trong khuôn viên di tích Gò Đống Đa, được xây dựng bằng chất liệu đá nhám, nằm chếch theo hướng mặt phố Đặng Tiến Đông. Công trình mang dáng vẻ bề thế, tạo điểm nhấn kiến trúc và mở ra không gian trang nghiêm dẫn vào khu vực trung tâm di tích.
Nghi môn được thiết kế theo kiểu bốn trụ độc lập, gồm hai trụ giữa có kích thước lớn, cao và hai trụ bên có kiểu thức tương đồng nhưng quy mô nhỏ hơn. Trên đỉnh hai trụ giữa tạo tác hình tượng tứ phượng chầu, thân ép theo hình trái dành, đuôi chụm hướng lên trời, đầu quay ra bốn hướng, biểu trưng cho sự linh thiêng và uy nghiêm của không gian thờ tự.
Bên dưới hình tượng tứ phượng là các ô lồng đèn trang trí theo đề tài tứ linh (long, ly, quy, phượng). Thân trụ được soi gờ, kẻ chỉ, khắc đắp các câu đối chữ Hán, phần chân trụ tạo dáng thắt cổ bồng, làm tăng vẻ mềm mại, hài hòa cho công trình.
Hai trụ bên đặt sát hai trụ giữa, có cùng chất liệu, phong cách tạo tác và màu sắc kiến trúc, tuy nhiên có kích thước và tiết diện nhỏ hơn, tạo sự cân đối trong tổng thể nghi môn.
Với vị trí hướng ra phố Đặng Tiến Đông – con phố mang tên vị danh tướng Tây Sơn, Đô đốc Đặng Tiến Đông (còn được Giáo sư sử học Lê Văn Lan gọi là Đô đốc Long), người trực tiếp chỉ huy một trong những mũi tiến công quan trọng đánh vào đồn Khương Thượng trong chiến dịch Ngọc Hồi – Đống Đa vào rạng sáng mùng 5 Tết Kỷ Dậu (1789), nghi môn không chỉ có giá trị về mặt kiến trúc cảnh quan mà còn góp phần tôn vinh những nhân vật lịch sử gắn liền với chiến thắng oanh liệt của dân tộc.
Tượng đài Hoàng đế Quang Trung
Từ Nghi môn đi qua khoảng sân rộng với hai bên là hệ thống cây xanh lưu niên, du khách sẽ đến khu vực tượng đài Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ, một trong những điểm nhấn quan trọng của khu di tích Gò Đống Đa. Trước tượng đài là hai lớp bậc thềm dẫn lên khu nền đặt tượng, tạo nên không gian trang nghiêm, bề thế.
Tượng Hoàng đế Quang Trung được tạo tác trong tư thế của một vị tướng đang chỉ huy trận mạc. Hình tượng nhân vật với lưng đeo gươm, đầu chít khăn, mình mặc áo giáp, thắt đai lưng, tay đặt nhẹ trên đốc kiếm, thể hiện khí chất mạnh mẽ, quyết đoán của vị anh hùng dân tộc. Tượng có dáng đứng cân đối, khuôn mặt cương nghị với các đường nét khắc họa rõ nét như đôi mắt sáng, sống mũi cao, khuôn ngực nở và bắp tay khỏe khoắn, biểu trưng cho tài năng quân sự và ý chí kiên cường của Hoàng đế Quang Trung.
Tượng có chiều cao 14,65m, được làm bằng bê tông cốt thép, trọng lượng khoảng 200 tấn, bên ngoài ốp đá hoa cương và phủ lớp tạo màu giả đồng, tạo vẻ uy nghiêm, bền vững cho công trình.
Phía dưới chân tượng đặt lư hương đồng phục vụ hoạt động dâng hương tưởng niệm. Khu vực xung quanh được quy hoạch với sân lát đá hoa cương, các đường băng, thảm cỏ và hệ thống cây xanh, tạo nên không gian cảnh quan hài hòa, trang trọng, phù hợp với vai trò là nơi tưởng niệm chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa và công lao của Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ.
Gò Đống Đa
Gò Đống Đa nguyên xưa là một trong những quả gò thuộc xứ Đống Đa. Trải qua thời gian, trên các gò đống này cây cối mọc um tùm, trong đó có nhiều cây đa, vì vậy nhân dân thường gọi khu vực này là gò Đống Đa. Địa danh có các gò đống nói trên cũng được gọi là xứ Đống Đa.
Sau trận chiến ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu (1789), khu vực Đống Đa trở thành nơi chôn vùi hàng vạn quân Thanh xâm lược. Xác giặc nằm ngổn ngang từ khu vực làng Nam Đồng, Khương Thượng đến làng Thịnh Quang. Vua Quang Trung đã cho thu nhặt hài cốt quân Thanh, an táng vào 12 hố lớn rồi đắp đất thành các gò cao.
Đến năm 1851, trong quá trình mở đường, mở chợ, nhân dân phát hiện thêm nhiều hài cốt quân Thanh nên tiếp tục thu gom, chôn vào một hố lớn cạnh núi Ốc (còn gọi là Loa Sơn), sau đó đắp đất nối liền với núi cũ, tạo thành một gò mới cũng mang tên Gò Đống Đa. Khi thành phố Hà Nội được mở rộng dưới thời Pháp thuộc, 12 gò cũ lần lượt bị san phá, chỉ còn lại gò tại khu vực núi Ốc. Vì vậy, Gò Đống Đa ngày nay chính là gò thứ 13 còn tồn tại, còn được gọi là “Kình Nghê quán” (tức gò chôn xác giặc dữ như cá Kình, cá Nghê ngoài biển).
Sự kiện này được ghi lại trong bài thơ “Loa Sơn điếu cổ” (Viếng núi Ốc) của thi sĩ đương thời Ngô Ngọc Du:
Thành Nam thập nhị Kình Nghê quán
Chiếu điện anh hùng đại võ công
Nghĩa là:
Mười hai gò xác phía Nam thành
Ngời sáng chiến công bậc anh hùng
Vào thế kỷ XIX, Kinh lược sứ Hoàng Cao Khải sau khi được thực dân Pháp phong cho khu vực ấp Thái Hà đã cho phá bỏ đền thờ Sầm Nghi Đống và di dời miếu Trung Liệt (vốn được xây dựng từ năm Chính Hòa thứ 6 (1685) tại thôn Văn Tân, gần khu vực Văn Miếu) về Gò Đống Đa. Miếu Trung Liệt là nơi thờ các vị trung thần, liệt sĩ như: Lê Lai, Tổng đốc thành Hà Nội Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Lâm, Tổng đốc Hoàng Diệu, Trương Quốc Dụng, Đoàn Thọ, Nguyễn Cao, Trương Đăng Quế. Từ năm 1946, miếu thờ thêm vua Quang Trung.
Hiện nay, ngôi miếu không còn tồn tại, chỉ còn lại hạng mục cổng miếu, mang đậm dấu ấn kiến trúc thời Nguyễn. Cổng được xây dựng theo kiểu cổng thành, gồm vọng lâu ba tầng có chức năng quan sát khu vực phía dưới. Tầng trên cùng có bốn mái đao cong giả ống, hai đầu bờ nóc trang trí hình kìm. Chính giữa bố trí hệ thống chấn song con tiện tạo sự thông thoáng, đồng thời mang dáng dấp của một vọng gác tiền tiêu.
Tầng dưới cùng nằm ở lưng chừng gò, gồm một lối đi chính cuốn hình vòm. Phía trên có ba chữ đại tự:
“Trung Liệt Miếu” (Miếu Trung Liệt)
Hai bên cổng đắp đôi câu đối chữ Hán:
Thử thành quách, thử giang san, bách chiến phong trần dư xích địa
Vị nhật tinh, vị hà nhạc, thập niên tâm sự cộng thanh thiên.
Tạm dịch:
Ấy thành quách, ấy núi sông, trăm trận phong trần có dư trong thước đất
Vì trời đất, vì sông núi, nỗi niềm mười năm chỉ biết bày tỏ với trời xanh
Gò Đống Đa là hạng mục nổi bật, giữ vai trò trung tâm trong không gian di tích. Từ cổng miếu, qua các bậc dật cấp dẫn lên cao là tới đỉnh gò. Gò có diện tích khá lớn, xung quanh được bó vỉa bằng ba lớp đá xanh; phần thân và đỉnh gò là hệ thống cây cổ thụ, cây lưu niên đan xen tạo không gian xanh mát, linh thiêng.
Đây là hạng mục gốc có giá trị đặc biệt của di tích, gắn trực tiếp với chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa năm 1789. Mặt sau gò được bố trí các bậc thềm đá dẫn lên phía trên theo kiểu chữ “chi”, trong đó còn lưu giữ các bậc đá xếp lớp từ chân tảng, là dấu tích còn lại của công trình miếu cổ trước đây.
Đền thờ Hoàng đế Quang Trung
Đền thờ Hoàng đế Quang Trung là công trình kiến trúc có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng tâm linh, đồng thời là hạng mục nổi bật trong tổng thể Di tích quốc gia đặc biệt Gò Đống Đa. Công trình nằm phía sau tượng đài Hoàng đế Quang Trung, góp phần tạo nên sự trang nghiêm, uy nghi cho không gian tưởng niệm vị anh hùng dân tộc.
Đền được khởi công xây dựng vào mùa xuân năm Giáp Ngọ (2014), hoàn thành và khánh thành vào tháng Giêng năm Ất Mùi (2015), trên diện tích khoảng 300 m². Công trình được xây dựng theo kiến trúc truyền thống hai tầng tám mái, các đầu đao cong vút, có phần cổ diêm thắt giữa hai tầng mái, mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Mặt bằng kiến trúc được bố cục theo kiểu chữ “Nhị”, gồm hai hạng mục chính là Đại bái và Hậu cung.
Đại bái
Tòa Đại bái có kiến trúc hai tầng mái. Nhìn từ bên ngoài, phần bờ nóc để trơn, hai đầu bờ nóc trang trí đôi kìm lá cách điệu với phần đuôi xoắn. Từ hai đầu bờ nóc, các khúc nguỷnh vươn ra bốn góc mái tạo nên vẻ mềm mại, uyển chuyển cho công trình. Phần cổ diêm nằm giữa hai tầng mái được đóng kín bằng hệ thống ván đố lụa ở hầu hết các mặt; riêng ba gian giữa phía trước bố trí chấn song con tiện cùng bức hoành đề năm chữ Nôm “Điện thờ Hoàng đế Quang Trung”.
Tầng dưới được xây quây bằng gạch chỉ ở ba mặt, hai gian chái phía trước mở cửa sổ tròn tạo hình chữ “Thọ” cách điệu, vừa tăng tính thẩm mỹ vừa đảm bảo ánh sáng cho không gian nội điện. Ba gian giữa tương ứng với ba bộ cửa bức bàn kiểu thượng song hạ bản, phía dưới là ngưỡng cửa đóng mở khi ra vào. Hệ thống lan can, trụ đá quanh hiên được trang trí bằng các hoa văn truyền thống với kỹ thuật chạm khắc tinh tế.
Từ sân lên qua bậc tam cấp là không gian hiên. Hệ thống vì kèo được làm theo kiểu kèo cổ ngỗng, nối từ cột quân ra các cột hiên, kết hợp cùng các tay co song song với tàu mái và hoành xà, tạo sự chắc chắn cho kết cấu mái.
Bên trong tòa Đại bái, hệ thống vì đỡ mái được thiết kế với hai dạng thức kiến trúc truyền thống. Các bộ vì ở gian giữa được làm theo kiểu thượng giá chiêng trồng rường, trung bán giá chiêng chồng rường, hạ kẻ bẩy, bố trí trên sáu hàng chân cột, tạo nên sự vững chắc cho toàn bộ kết cấu mái. Hai bộ vì ở gian chái được tạo tác theo kiểu thượng chồng rường, trung bán giá chiêng chồng rường, kẻ xó, hạ kẻ bẩy, vừa đảm bảo tính chịu lực, vừa thể hiện kỹ thuật xây dựng và nghệ thuật kiến trúc truyền thống của dân tộc.
Các cấu kiện kiến trúc được trang trí bằng đề tài rồng, hoa lá và vân mây, thể hiện sự tinh xảo trong nghệ thuật chạm khắc truyền thống. Không gian thờ tự tại Đại bái gồm ba ban thờ: ban Công đồng ở vị trí trung tâm với hương án, hoành phi, câu đối, cửa võng trang trí trang trọng; hai ban bên thờ các vị quan văn và quan võ.
Hậu cung
Hậu cung nằm song song với Đại bái, được ngăn cách bởi một khoảng sân nhỏ. Công trình được thiết kế theo kiểu biến thể kiến trúc điện thờ hai tầng mái, lấy cảm hứng từ kiến trúc điện Thánh chùa Bối Khê (thôn Song Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai), nhưng được giản lược để phù hợp với tổng thể di tích.
Hệ thống đấu củng được thay thế bằng các con sơn và tay co, tám đầu đao uốn cong tạo cảm giác thanh thoát, vươn lên giữa không gian. Mái Hậu cung lợp ngói vẩy, phần cổ diêm trang trí chấn song con tiện ở bốn mặt; tầng dưới được bao kín bằng hệ thống ván đố lụa kết hợp với các kẻ hiên đua ra, tạo nên sự hài hòa giữa tính trang nghiêm và tính thẩm mỹ.
Bên trong Hậu cung, hệ thống vì đỡ mái được cấu tạo theo hai dạng thức kiến trúc truyền thống. Hai bộ vì ở gian giữa được làm theo kiểu “Thượng giá chiêng trồng rường, hạ kẻ bẩy”, đặt trên bốn hàng chân cột, tạo nên sự chắc chắn cho kết cấu công trình. Hai bộ vì ở gian chái được tạo tác theo kiểu “Thượng chồng rường, hạ bán giá chiêng chồng rường, kẻ bẩy”, thể hiện kỹ thuật kết cấu gỗ tinh tế của kiến trúc truyền thống.
Không gian thờ tự trong Hậu cung được bố trí trang nghiêm với ban thờ chính giữa thờ Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ; ban thờ bên hữu thờ thân phụ và thân mẫu của Hoàng đế Quang Trung; ban thờ bên tả thờ Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân công chúa. Sự bài trí này thể hiện lòng thành kính, tri ân của nhân dân đối với vị anh hùng dân tộc cùng những người thân trong gia đình của Ngài.
Tại các ban thờ hiện lưu giữ những câu đối ca ngợi công đức, tài năng và nhân cách của các nhân vật lịch sử được thờ phụng:
Câu đối ca ngợi công đức Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ:
Công đức tiền nhân ân sâu bao xiết kể
Hiếu trung hậu duệ nghĩa nặng mãi ghi lòng
Câu đối ca ngợi Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân:
Ai tư vãn trang bi văn, ngàn năm bất hủ
Lệ cầm thương tài nữ sĩ, muôn thuở lưu danh
Câu đối tại ban thờ thân phụ và thân mẫu vua Quang Trung:
Công đức tiền nhân ân sâu bao siết kể
Hiếu trung hậu duệ nghĩa nặng mãi ghi lòng
Đền thờ Hoàng đế Quang Trung là một công trình văn hóa tâm linh quan trọng trong quần thể Di tích quốc gia đặc biệt Gò Đống Đa. Đây không chỉ là nơi nhân dân và du khách thập phương đến dâng hương tưởng niệm, bày tỏ lòng thành kính đối với Hoàng đế Quang Trung – vị anh hùng kiệt xuất của dân tộc Việt Nam thế kỷ XVIII, mà còn là địa chỉ giáo dục truyền thống lịch sử, khơi dậy niềm tự hào dân tộc cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Lễ hội
Lễ hội Gò Đống Đa được tổ chức hằng năm vào ngày mùng 5 tháng Giêng âm lịch tại khu vực Gò Đống Đa (quận Đống Đa, thành phố Hà Nội), nhằm tưởng nhớ chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa năm Kỷ Dậu (1789) và tri ân công lao của Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ cùng nghĩa quân Tây Sơn trong sự nghiệp đánh đuổi quân Thanh xâm lược, bảo vệ độc lập dân tộc.
Phần lễ gồm các nghi thức dâng hương, tế lễ, rước kiệu vua Quang Trung và Hoàng hậu Ngọc Hân từ đình Khương Thượng về Gò Đống Đa, lễ đọc diễn văn ôn lại chiến thắng lịch sử và tưởng niệm các anh hùng đã hy sinh trong trận chiến. Bên cạnh đó, các nghi thức cầu siêu tại chùa Bộc, chùa Đông Quang cũng được tổ chức nhằm tưởng nhớ nghĩa quân Tây Sơn và những người đã tử trận.
Phần hội diễn ra với nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật đặc sắc như trống hội, múa rồng, chương trình sân khấu hóa tái hiện chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa, biểu diễn võ thuật cùng các trò chơi dân gian truyền thống như cờ người, kéo co, chọi gà… Các hoạt động này góp phần tái hiện không khí hào hùng của mùa Xuân Kỷ Dậu, đồng thời phát huy tinh thần thượng võ, giáo dục truyền thống yêu nước và niềm tự hào dân tộc.
Lễ hội Gò Đống Đa là một trong những lễ hội lịch sử tiêu biểu của Thủ đô Hà Nội, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, tưởng niệm công lao của người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ, đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng.
Xếp hạng
Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và ý nghĩa giáo dục truyền thống, Di tích lịch sử Gò Đống Đa đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 1820/QĐ-TTg ngày 24/12/2018.

