Quan Sơn Tự (Chùa Con Nít – Hà Trung, Thanh Hoá)

Quan Sơn Tự (Chùa Con Nít – Hà Trung, Thanh Hoá)

Cổ nhân đã có câu: “Chùa mất, đất còn”. Mặc dù trải qua những biến cố thăng trầm của lịch sử, những ngôi chùa cổ phải chịu ảnh hưởng gió bụi của thời gian, khói lửa của chiến tranh, ý thức của con người. Qua từng thời kỳ lịch sử đã không còn, nhưng những dấu tích chùa cổ xưa, những ý thức hệ thấm nhuần sự hoằng quang Phật pháp vẫn còn in đậm trong lòng cư dân Việt.

Quan Sơn Tự, tên nôm là chùa Con Nít thuộc xã Hà Thanh, huyện Hà Trung là ngôi chùa cổ, một ngôi chùa cũng chịu chung một hoàn cảnh éo le như vậy.

Địa lý 

Xã Hà Thanh ngày nay, làng Thanh Đớn xưa – Hương Thanh Đớn thời Lý Trần, và trước đó còn gọi là làng Đợn. Nơi đây là vùng đất cổ, tại đồi Quan Sơn (nơi tọa lạc của ngôi chùa) đã phát hiện ra những hiện vật cổ như: Rìu đá có vai, những mảnh gỗ thô,… tương đồng với tiêu bản với những hiện vật đã tìm được ở di chỉ cồn Cổ Ngựa (Hà Lĩnh – Hà Trung) có niên đại vào khoảng 4000 – 5000 năm cách ngày nay.

Theo phương pháp nghiên cứu Địa – Lịch sử thì Hà Thanh nằm giữa ngã ba sông, sông Tống Giang bắt nguồn từ phía Tây các huyện vùng núi Thanh Hóa, đến Thanh Đớn thì chia thành 2 chi lưu: Một chi lưu chảy về phía Nam hợp với sông Mã đổ xuống cửa biển Bạch Câu, một chi lưu chảy về phía Đông hợp với sông Chính Đại đổ ra biển.

Núi Quan Sơn là ngọn núi sót có địa tầng được tạo thành từ kỷ đệ tứ chính là yếu tố chia dòng Tống Giang thành 2 chi lưu. Từ những căn cứ trên đủ cơ sở để khẳng định xã Hà Thanh – Thanh Đớn, làng Đợn xưa là vùng đất cổ, vùng đất sau núi trước sông, vùng đất lý tưởng để người Việt cổ thời tiền sử và sơ sử từ vùng núi xuống chiếm lĩnh khai phá vùng đồng bằng ven sông, ven biển.

Tên gọi

Chùa Quan Sơn, tên dân gian gọi là chùa Con Nít. Tên chùa Quan Sơn là đúng vì lẽ: Trong đợt khảo sát các di tích tại huyện Hà Trung của Ban Quản lý di tích lịch sử văn hóa tỉnh cùng Phòng Văn hóa Thể thao Du lịch huyện Hà Trung vào năm 2009, chúng tôi đã được nghe các cụ cao tuổi tại địa phương khẳng định chùa Quan Sơn, trong văn khấn xưa gọi là Quan Sơn Tự, tức là chùa trên núi Quan. Nhà chùa xưa thường làm lễ cầu phúc cho trẻ em, rất linh ứng nên gọi là chùa Con Nít, giống như cách gọi dân gian khác của chùa Trặng (chùa Nôi Trẻ Em) ở Cẩm Thủy, chùa Ban Phúc (Hà Trung)…

Dấu vết lịch sử

Về niên đại chùa Quan Sơn, chúng tôi cho rằng: Chùa Quan Sơn có từ thời Đinh – Lê, bởi lẽ: Khu vực chùa tọa lạc còn rải rác những mảnh gốm cổ có niên đại Hán, Tùy Đường; thời Đinh Lê đạo Phật đã hưng thịnh và phát triển. Lịch sử đã ghi: Vào những năm đầu thế kỷ XI nhà Tiền Lê đã cho đào kênh, vét sông để phục vụ tưới tiêu và mở mang giao thông vào vùng Thanh – Nghệ. Sông Tống, sông Hoạt… là những con sông phục vụ giao thông và tưới tiêu quan trọng của xứ Thanh được nạo vét vào thời đó. Thông thường quan binh và dân phu đi làm việc tại đâu, thì làm chùa để cầu Phật, cúng giàng tại đó.

Từ thời Lý trở về trước, các chùa thường có kết cấu bằng gỗ cho nên trải qua thời gian và chiến tranh rất ít chùa còn tồn tại.

Quan Sơn Tự cũng không tránh khỏi sự phá hủy của chiến tranh và thời gian.

Trong cuốn sách nghiên cứu lịch sử: “Kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII – NXB KHXH – Hà Nội – 1970” của Giáo sư Hà Văn Tấn – Phạm Thị Tâm; cuốn “Lịch sử Thanh Hóa, tập II – NXB KHXH – Hà Nội – 1994” của Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa đã đề cập: Thanh Đớn là nơi chặn giặc Nguyên Mông vào tháng 3 năm 1285. Cuốn Lịch sử Thanh Hóa đã in tấm bản đồ chỉ dẫn cánh quân của triều đình từ Thanh Đớn tiến về chống giặc tại bến Phú Tân; chỉ dẫn lối quân giặc chạy qua Thanh Đớn theo đường thủy để về Trường Yên. Như vậy, khả năng Vua quan nhà Trần đã đóng quân tại núi Quan, có chùa Quan Sơn nơi cây cối rậm rạp phù hợp với việc bảo vệ lực lượng. Làng Thanh Đớn có đình Cơm Thi, nơi còn lưu giữ trò diễn nấu cơm thi để ôn lại truyền thống nuôi quân đánh giặc từ thời Trần.

Tại Thanh Đớn và núi Quan Sơn có những dấu vết lịch sử đánh dấu sự tàn phá của chiến tranh qua các thời kỳ: Đó là nơi chiến trường nhiều năm liên tục của cuộc chiến Lê – Mạc đầu thế kỷ XVI; là đồn tiền tiêu của nghĩa quân Ba Đình bị Thực dân Pháp triệt phá vào những năm 1886 – 1887; là công binh xưởng của quân đội ta bị Thực dân Pháp đánh bom 5 lần vào năm 1951. Những mốc lịch sử này đã minh chứng cho sự mất mát của những công trình kiến trúc cổ nói chung, Quan Sơn cổ tự nói riêng trên đất Hà Thanh.

Kiến trúc

Về mặt bằng kiến trúc và quy hoạch tổng thể của Quan Sơn tự. Chúng tôi thống nhất với nhóm biên soạn cuốn Lịch sử xã Hà Thanh về vị trí ngôi chùa, một số di vật như rìu đá, mảnh gốm cổ,… là chính xác; đợt kiểm kê những di tích lịch sử văn hóa chưa xếp hạng tại Hà Trung năm 2009 và qua thực tế điền dã cũng có kết quả như những tư liệu trên.

Năm 2009 chúng tôi còn phát hiện những tấm đá vuông có kích thước lớn 1,6 x 1,6m tại di tích, đến nay đã bị vỡ. Những cây thị cổ, cây đại cổ và những hàng rưới cổ trong di tích vẫn còn. Tháng 5 – 2016 đoàn khảo sát cùng địa phương và các vị cao tăng đã tới tại hiện trường. Khảo sát tại khu đồi Quan còn thấy nền móng kè đá trong khu vực xung quanh đồi. Những dấu vết kiến trúc giải rác trong khu vực khảo sát còn rõ nét. Tài liệu khảo sát dân gian tại địa phương cho biết: Khu vực chùa trước kia rộng gần hết đồi Quan. Bản đồ Địa chính xã Hà Thanh lập năm 2009 vẫn công nhận đất chùa Con Nít (đất tôn giáo) rộng 4 Ha.

Qua những tài liệu và thực tế điền dã, chúng ta thấy: Chùa Quan Sơn là ngôi chùa cổ, có quy mô lớn, nằm trên sườn cao đồi Quan, vị trí chùa thực là vùng đất linh địa. Những kiến trúc chùa Việt cổ truyền lại trước thời tự chủ hầu như không còn. Sang đầu thời tự chủ di tích cũng bị hủy hoại, khó xác nhận. Chỉ đến thời Lý trở về sau còn để lại một số mặt bằng chùa cụ thể. Các sử liệu thư tịch và điền dã cho biết thời kỳ này chùa có 3 loại kiến trúc: ĐẠI DANH LAM; TRUNG DANH LAM; và TIỂU DANH LAM. Các đại danh lam thường gắn với công tích đại thần của triều đình, những ngôi chùa kiêm hành cung của nhà vua (chủ yếu là các đại thần, hoàng hậu hoặc các vương xây dựng).

ĐẠI DANH LAM kiêm hành cung thường chỉ thấy nằm trên đồi, kiến trúc vẫn còn để lại mặt bằng khá rõ nét, những quả đồi này bao giờ cũng ở gần sông. Từ dòng nước chính người ta đào một con ngòi chạy thẳng về chân đồi (thường là hướng Nam), con ngòi này là đường để thuyền vua vào chùa cầu Phật, từ chân đồi lại có đường lớn để kiệu vua lên chùa (kiến trúc chùa Long Đọi, chùa Tường Long, chùa Phật Tích, chùa Kim Âu)….

TRUNG DANH LAM thường ở mặt bằng cùng khu trung tâm cư dân hoặc gần nơi thắng cảnh (chùa Sùng Nghiêm, chùa Nhân Lộ, chùa Hưng Nghiêm,.v.v.)

TIỂU DANH LAM (hay gọi là Chùa Làng) ở cùng khu cư dân làng xã do nhân dân là hào phú địa phương xây dựng trên đất công làng xã.

Xét về vị trí địa lý, về tổng thể quy hoạch xưa của ngôi chùa Quan Sơn xứng đáng là Đại danh lam, phải chăng: Chùa đã được xây dựng từ lâu; đến Thế kỷ XIII được Phật Hoàng Trần Nhân Tông cho phép tu tạo lại để ghi dấu ấn chống giặc Nguyên Mông của ngài trên đất xứ Thanh?

Dù sao, chùa Quan Sơn (Chùa Con Nít) là ngôi chùa cổ, tọa lạc trên vùng đất linh địa, sơn thủy hữu tình, cư dân thuần phác, một lòng hướng trọn niềm tin được tìm lại hình ảnh ngôi chùa cổ của quê hương yêu dấu từ thuở xa xưa.

Tham khảo

  • Chùa Xứ Thanh (Tập IV), Vũ Duy Trịnh
5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
eaf8a521bd23787d2132

Bài viết

Bài viết đang được cập nhật

Nội dung chính

Thờ tự
Nội dung đang được cập nhật.
Nhân vật
Nội dung đang được cập nhật.
Lễ hội
Nội dung đang được cập nhật.
Hình ảnh
Video

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

pexels4035926