Tên gọi và vị trí địa lý
Thái Miếu Nhà Hậu Lê hay còn được biết đến với nhiều tên gọi khác như: Đền Lê Bố Vệ, Đền Lê, Thái Miếu. Xưa kia đền nằm ở thôn Kiều Đại, xã Bố Vệ, tổng Thọ Hạc, huyện Đông Sơn, ngày nay thuộc phố Kiều Đại 2, phường Đông Vệ, Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá. Đi vào cửa ngõ phía Nam của thành phố Thanh Hóa theo quốc lộ 1A, cách trung tâm thành phố 2km.
Thái Miếu nhà Hậu Lê, với hơn 200 năm tuổi, là một di tích lịch sử có giá trị đặc biệt, là nơi bày tỏ lòng tôn kính đối với vương triều Hậu Lê – một trong những triều đại phong kiến hưng thịnh của Việt Nam. Đền thờ cúng 26 vị hoàng đế, là Hoàng Thái Hậu cùng các vương công, tướng lĩnh của nhà Hậu Lê, những người đã có công lớn trong việc bảo vệ và xây dựng đất nước.
Lịch sử và nhân vật
Thái Miếu được xây dựng xong vào năm Gia Long thứ 4 năm Ất Sửu (1805), trên nền điện Chiêu Hòa đã bị đổ nát và trên cơ sở của 2 miếu được lập ra thời Lê Sơ ở Lam Sơn và Thăng Long. Để tưởng nhớ và tôn vinh công lao to lớn của vương triều Hậu Lê, vua Gia Long đã cho dời Thái miếu nhà Hậu Lê từ Thăng Long về đất Bố Vệ (nay là phường Đông Vệ) để phụng thờ.
Theo Danh thắng, di tích và lễ hội truyền thống Việt Nam (tập II) cho biết: “Vua Gia Long lên ngôi 3 năm để giải quyết vấn để có lợi cho đường lối chính trị của vương triều mình…, ông đã chọn Thanh Hoá – mà cụ thể là quê hương của bà Nguyễn Thị Anh vừa là vợ của vua Lê Thái Tông, vừa là mẹ đẻ của vua Lê Nhân Tông ở làng Bố Vệ để dựng miếu thờ các vua và hoàng hậu Triều Lê. Điện miếu được xây dựng trên cơ sở của việc di chuyển điện Hoàng Đức ở kinh thành Thăng Long và miếu thờ ở Lam Sơn (Thanh Hoá) mà thành”.
Tương truyền các cụ kể lại, trước đây, ngôi đền nằm giữa một khu rừng dẻ, âm u, nhiều cổ thụ và ít người lai vãng (trừ những ngày lễ hội). Không khí cổ kính làm cho ngôi đền càng thêm uy nghiêm, biệt lập hẳn khỏi khu dân cư vốn rất thưa thớt trước Cách mạng tháng Tám.
Trải qua các đời vua triều Nguyễn, nơi đây được coi là Quốc miếu, hằng năm tế lễ vào hai tiết Xuân – Thu, do triều đình và tỉnh hành lễ. Năm 1945, ngôi đền Thái Miếu còn rất nguy nga, đồ sộ, trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đền bị hoang phế, xuống cấp nghiêm trọng, nhiều chỗ bị phá, nhiều đồ tế khí quí giá bị mất.
Sau Cách mạng tháng Tám năm, nơi đây đã trở thành nơi hội họp của chính quyền kháng chiến (cả Trung ương và địa phương), nơi đóng quân của bộ đội qua nhiều năm và là nơi làm việc của Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa từ năm 1974 đến năm 1982.
Hiện nay, ở gian giữa của Tiền Điện treo một bức hoành phi lớn khắc dòng chữ “Nam quốc sơn hà tự thử” (nghĩa là núi sông nước Nam có từ đây), và bên cạnh là hàng chữ nhỏ ghi năm dựng miếu 1805. Đây được coi là cột mốc đánh dấu lịch sử của ngôi đền này.
Nhân dân trong vùng có câu ca dao:
Bố Vệ có đền thờ Vua
Mật Sơn có chùa, Tạnh Xá có lăng
Cũng từ đó đến nay, vào năm 1999 và năm 2007 đã được Nhà nước đầu tư tu bổ lại, nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa lịch sử, tri ân công lao của các vị vua Lê đối với quốc gia, dân tộc. Trải qua hơn 200 năm lịch sử, dù đã được tu sửa nhiều lần, Thái Miếu vẫn giữ được nét kiến trúc cổ đặc trưng cùng nghệ thuật chạm khắc tượng, là điểm nhấn nổi bật của di tích.
Kiến trúc cảnh quan
Thái Miếu nhà Hậu Lê tọa lạc giữa trung tâm khu đô thị sầm uất của thành phố Thanh Hóa, nổi bật với lối kiến trúc tinh tế kết hợp giữa phong cách Hậu Lê và ảnh hưởng phong cách thời Nguyễn. Đây là một không gian linh thiêng, vừa giữ gìn vẻ đẹp cổ kính, vừa phản ánh sự giao thoa văn hóa qua các thời kỳ lịch sử.
Toàn bộ khuôn viên của Thái Miếu bao gồm ba phần chính: Nghi Môn – nơi đón tiếp du khách với kiến trúc uy nghiêm; Sân Điện – không gian rộng lớn, nơi diễn ra các nghi lễ trang trọng; Tả Vu, Hữu Vu và Hậu Điện – khu vực thờ tự, lưu giữ những giá trị lịch sử thiêng liêng, là nơi tưởng nhớ công lao các vị vua của triều đại Hậu Lê.
Bên cạnh các công trình kiến trúc thì hệ thống cây xanh cũng không thể thiếu bởi cây xanh giúp cho không gian cân bằng về màu sắc, bố cục hài hòa và đặc biệt ở các di tích truyền thống hay cơ sở thờ tự cây xanh còn mang ý nghĩa sâu sắc về tâm linh và văn hóa.
Nghi Môn
Cổng đền được xây dựng trên nền cao hơn nền sân ba bậc thang lên xuống, với kiến trúc theo kiểu ba gian (Tam Quan), gồm các hệ thống cột cái có kích thước lớn, đều bằng chất liệu gỗ lim, ba cửa ra vào làm kiểu bưng kín, mái lợp ngói mũi hài.
Qua cổng là bức bình phong bằng đá, làm theo dạng cuốn thư, đây là một trong những hiện vật cổ còn được lưu lại trong đền.
Đền Chính
Đền Thái Miếu sở hữu một kiến trúc độc đáo theo hình chữ Nhị (二), mang phong cách trùng thiềm điệp ốc, còn được gọi là trùng lương trùng thiềm, một kiểu kết cấu nhà kép với hai mái trên một nền. Cấu trúc này bao gồm Tiền Điện và Hậu Điện – hai tòa nhà chính, với chất liệu chủ yếu là gỗ lim, được xây dựng liền kề và nối với nhau qua một hệ thống trần vòm mai cua dưới máng nước nối hai mái nhà, gồm bảy gian, với hai trụ biểu ở hai bên đầu hồi phía trước bậc thềm, có cấu trúc lồng đèn và trên đỉnh gắn tượng nghê đứng.
Ở phần hiên nhà, điểm nổi bật trong kiến trúc đền là ở mỗi gian, đều được đặt một bức tượng nghê gỗ với dáng ngồi chầu nhìn ra phía trước mặt. Trên thân mỗi tượng đều trang trí vân mây tinh xảo và đầy nghệ thuật.
Bên trong đền, các cột cái có kích thước lớn bằng gỗ lim, được đặt trên các phiến đá vẫn vững chãi, là những trụ chính, nâng đỡ bộ khung mái, trên thân của cột được sơn đỏ và vẽ hình rồng trong mây.
Bộ khung gỗ gồm các cấu kết Xà, kẻ được liên kết với nhau bởi cột lim, tạo sự cân đối và ổn định cho toàn bộ công trình. Mỗi gian trong đền đều được trang trí tỉ mỉ, với các cửa võng được sơn thếp vàng, các án thờ, lộng, bộ bát bửu, chim hạc, kiệu và các đồ thờ cúng khác đều được bài trí trang nghiêm. Ngoài ra trong đền còn được treo rất nhiều bộ hoành phi, câu đối, tạo nên một không gian tôn nghiêm, đầy đủ các yếu tố văn hóa, tín ngưỡng của triều đại Lê.
Tiền Điện là nơi thờ tự các vị vua Lê: Thái Tổ Cao hoàng đế; Túc Tông hoàng đế; Thần Tông hoàng đế; Huyền Tông hoàng đế; Huy Gia hoàng thái hậu ; Hy Tông Chương hoàng đế; Gia Tông Mỹ Hoàng đế.
vương công, các triều thần nhà Hậu Lê, gian giữa là ban thờ công đồng, bên tay trái là ban thờ vị Lê Lai, bên tay phải thờ công thần Nguyễn Trãi. Đây là hai vị quan văn võ có nhiều đóng góp to lớn trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
Phía trên gian thờ vương công có treo bức hoành phi, do vua Gia Long tặng khi xây dựng đền năm 1805, với nội dung tôn vinh triều Hậu Lê:
“Nam quốc sơn hà tự thử”
(nghĩa là núi sông nước Nam có từ đây),
Bên trong là Hậu Điện, có kết cấu chồng rường kẻ bẩy, đây là nơi thờ các vị Hoàng Đế, Hoàng Thái Hậu, các vị quan triều nhà Lê. Đặc biệt, các bài vị và các hương án và đồ thờ cúng đều được dời từ Thăng Long về, trong đó có bài vị :
“Thái Tổ Cao hoàng đế thánh vị”. Bài vị này đặt trên một chiếc ngai lớn sơn son thếp vàng, lúc còn sống, vua Thái Tổ thường ngồi khi lâm triều, hai tay ngai đã phai màu vì mồ hôi tay của vua. Sau ngai đặt bài vị là cỗ kiệu nhà vua thường ngồi mỗi khi rời Hoàng cung. Đây là hai kỷ vật của Lê Thái Tổ vô cùng quý giá.
Trên gian thờ giữa có bức hoành phi: “ Trung Hưng Đệ Nhị Tổ”.
Nằm ở gian bên đầu hồi là hai gian thờ Thần Tông Uyên Hoàng Đế và Hy Tông Uyên Hoàng Đế, đây là hai bài vị cổ có niên đại tạo tác từ thế kỷ XVII.
Mái của đền lợp ngói mũi hài, trên nóc được trang trí lưỡng long chầu nguyệt, thân rồng dài chạy hết phần nóc mái toà nhà, tạo nên vẻ đẹp trang trọng và huyền bí, làm nổi bật sự uy nghiêm của công trình. Các chi tiết chạm khắc tỉ mỉ trên cột, mái và vòm không chỉ thể hiện sự tài hoa của nghệ nhân, mà còn phản ánh sự tinh xảo trong nghệ thuật xây dựng thời kỳ Hậu Lê.
Tả/Hữu Vu
Phía trước Đền Chính là hai dãy nhà Tả Vu và Hữu Vu, đối diện nhau, mỗi dãy gồm bảy gian, tạo thành một không gian đối xứng hài hòa. Cả hai toà là nơi thờ Liễu Hạnh công chúa và 4 vị Quốc Công, thờ Phật và ban thờ Mẫu, nơi diễn ra các nghi lễ tôn thờ thần linh, Hữu Vu là không gian dành cho việc tiếp khách và chuẩn bị lễ vật, nơi đón tiếp những người hành hương và phục vụ các nghi thức khi vào làm lễ.
Hai dãy nhà này không chỉ có vai trò quan trọng trong việc tổ chức các nghi lễ mà còn tạo nên một tổng thể kiến trúc cân đối, vừa trang trọng, vừa gần gũi, góp phần làm nổi bật vẻ đẹp của đền thờ.
Sự kiện và lễ hội
Lễ hội Thái Miếu nhà Hậu Lê diễn ra hàng năm từ ngày 20 đến ngày 22 tháng Tám Âm lịch, là dịp để tôn vinh công lao của Đức Lê Thái Tổ, các vị Hoàng Đế, Hoàng Thái Hậu, vương công và triều thần nhà Hậu Lê, những người có công lớn đối với đất nước và nhân dân.
Ngày 20: Địa phương chuẩn bị vào lễ hội.
Ngày 21: Giỗ Lê Lai.
Tương truyền, khi sắp mất, Lê Lợi dặn con cháu và quần thần tổ chức giỗ Lê Lai trước giỗ mình một ngày để tri ân người anh hùng “liều thân cứu chúa”.
Do đó xưa nay, nhân dân Thanh Hóa có câu:
Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi.
Lễ hội được tổ chức với các nghi thức trang nghiêm như Tế Miếu và dâng hương, thể hiện lòng thành kính và tri tới các vị thần. Phần hội của lễ hội diễn ra sôi nổi, với nhiều hoạt động văn hóa đặc sắc, trình diễn các điệu múa dân gian như Trò Chiêm Thành, Trò Hoa Lang, Trò Tú Huần, Trò Ai Lao, và Trò Ngô Quốc.
Ngoài ra, lễ hội còn có nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn như vật cù, cờ thẻ, cờ tướng, trình diễn thư pháp, và trưng bày không gian văn hóa vương triều Hậu Lê, mang đến cho du khách không khí lễ hội vui tươi, đậm đà bản sắc dân tộc.
Hiện vật
Dù trải qua hơn 200 năm lịch sử, đến nay Thái miếu nhà Hậu Lê vẫn còn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá trị cao của nghệ thuật điêu khắc gỗ thời Lê Sơ (thế kỷ XVII- XVIII) và thời Nguyễn (thế kỷ XIX) như: Nghê gỗ từ thế kỷ XVII được chạm khắc tinh xảo và một số kết cấu, hiện vật bằng đá có giá trị lịch sử, nghệ thuật như máng nước, bờ vỉa, cột hiên, nghê… các hiện vật này hiện nay còn một số khá nguyên vẹn.
Tại toà Hậu Cung, còn lưu giữ hai bài vị của Thần Tông Uyên Hoàng Đế và Hy Tông Uyên Hoàng Đế, đây là hai bài vị cổ có niên đại tạo tác từ thế kỷ XVII.
Máng đá dài hàng chục mét, nối Tiền Điện và Hậu Điện, đã tồn tại qua hàng trăm năm, minh chứng cho sự bền bỉ và kiên cường của công trình qua thời gian.
Xếp hạng
Di tích Thái Miếu nhà Hậu Lê, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia tại Quyết định số 2861/QĐ-BVHTT ngày 04/9/1995.
Tài liệu tham khảo
- Vũ Ngọc Khánh (2007), Đền Miếu Việt Nam, NXB Thanh Niên.
- Di sản văn hóa tỉnh Thanh Hóa, Nxb Thanh Hoá (2019).
- Lưu Minh Trị (2004), Danh thắng, di tích và lễ hội truyền thống Việt Nam (tập II), Nxb Hà Nội.