Tên gọi và vị trí địa lý
Văn Miếu Bắc Ninh, xưa kia vốn ở sơn phận Thị Cầu, tổng Đỗ Xá, huyện Võ Giàng, phủ Từ Sơn, xứ Kinh Bắc, ngày nay thuộc khu 10, phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, nằm ở phía Bắc, cách thành phố Hà Nội khoảng 30km là một vùng đất cổ nổi tiếng với truyền thống hiếu học, khoa bảng của nước ta.
Văn Miếu Bắc Ninh là địa điểm văn hóa tâm linh thờ Khổng Tử, Chu Công,… là các vị Tổ có công với việc phát triển giáo dục và khoa cử, tôn vinh truyền thống hiếu học và sự nghiệp giáo dục của dân tộc. Đây cũng là một trong 6 văn miếu ở Việt Nam có giá trị lịch sử, văn hóa, phản ánh truyền thống khoa bảng qua các triều đại phong kiến.
Lịch sử và nhân vật
Tiền thân của Văn miếu Bắc Ninh hiện nay là Văn miếu Kinh Bắc và được khởi dựng từ thời Lê Sơ, tuy nhiên, hiện chưa có tài liệu, sử sách nào lưu lại được chính xác thời gian xây dựng và quy mô, kiến trúc công trình Văn miếu ở Thị Cầu.
Theo văn bia “Trùng tu Bắc Ninh bi đình ký” cho biết: “Văn miếu Bắc Ninh ở phía Đông Bắc tỉnh thành thuộc Sơn Phận xã Thị Cầu, huyện Võ Giàng được tu bổ vào năm Gia Long thứ nhất (1802), làm lại năm Triệu Trị thứ 4 (1844)”. Đến năm Quý Tỵ, niên hiệu Thành Thái thứ 5 (1893), quan Đốc học tỉnh Bắc Ninh là Đỗ Trọng Vỹ, vận động các vị văn thân, chức sắc, nhân dân các địa phương góp tiền của chuyển Văn miếu về núi Phúc Sơn (nay thuộc Khu 10, phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh).
Trải qua thời gian, các công trình bị xuống cấp, Văn miếu Bắc Ninh được tiến hành trùng tu lần lượt qua các năm 1802, 1845, 1896, 1912, 1928. Cho tới hiện tại, các công trình gần như được tu bổ và xây dựng thêm nhiều công trình khác khang trang như hiện nay.
Thời điểm xây dựng Văn miếu, đây được coi là thời kỳ hưng thịnh của Nho giáo và khoa cử ở nước ta, đặc biệt là ở quê hương Bắc Ninh nổi tiếng về khoa bảng. Văn bia “Bắc Ninh tỉnh trùng tu Văn miếu bia ký”, được khắc năm Bảo Đại thứ 3 (1928) cho biết: “Văn miếu Bắc Ninh tôn thờ các vị tiên triết, khuyến khích thuần phong, văn học, duy trì điều tốt cho đời sau nhằm biểu dương những người xuất chúng, phi thường, có học vấn, thông kim bác cổ, đỗ đạt lưu danh, cổ vũ sự nghiệp giáo dục, chấn hưng đạo đức cho hàng vạn năm”.
Khổng Tử (551 – 497 TCN), ngài là nhà tư tưởng, nhà chính trị và là người sáng lập ra học thuyết Nho giáo ở Trung Quốc.
Trong cuốn “Đàm đạo với Khổng Tử” có viết: “Ta họ Khổng, tên Khâu, tự Trọng Ni. Hiển nhiên “Khâu” là núi, còn Ni? Ni là Ni Sơn. Đúng là tên ta liên quan tới vùng đất đó. Ni Sơn là một mạch của dây Thái Sơn, hình thế như một lão nhân mũ cao áo dài, cốt cách thần tiên, đang cúi nhìn cảnh vật tang thương của hai nước Tề, Lỗ. Sông Nhữ, sông Tứ từ chân núi phía nam tha thướt chảy ra xa như hai dải áo. Các đỉnh Phòng Sơn, Ni Sơn chẳng khác gì những đóa hoa trên áo gấm, tô điểm cho cảnh vật thêm phần rực rỡ. Quê ta ở chân núi Ni Sơn. Thôn xóm tựa lưng vào Ni Sơn, nhìn thẳng ra sông Liêu, phong cảnh rất đẹp. Nghĩ ta là đứa con thứ hai, sinh ra từ khí thiêng trong Ni Sơn, nên phụ thân mới đặt tên là Khâu, tự Trọng Ni.”
“Phụ thân ta tên Ngột, từng là đại phu ấp Trâu, người đời gọi là Trâu Thúc Ngột hay Thúc Lương Ngột. Ta sinh vào thời Chu Linh vương nám thứ 21, Lỗ Tương công năm thứ 22, cũng là ngày 27 tháng 8 nông lịch (năm 551 trước Công nguyên). Năm ta lên ba, phụ thân ta qua đời và được mai táng trên núi Phòng Sơn, hai mươi lăm dặm về phía đông thành Khúc Phụ, nay gọi là Lương Tùng Lâm. Đó là những điều phần lớn ta nghe được từ mẫu thân Nhan thị. Phụ thân ta vốn là võ tướng, dáng người khôi vĩ, vai chang ngực nở, đôi mắt long lanh có thần, hiền từ nhưng đầy uy vũ. Khéo thay, trời đất phú cho phụ thân có đôi tay rắn khỏe khác thường, từng giữ chặt cửa thành không cho sập xuống trong trận chiến ở Bức Dương, nổi tiếng một thời.”
Kiến trúc cảnh quan
Văn Miếu Bắc Ninh nằm trên thế đất cao, xung quanh là khu dân cư sinh sống, trải qua nhiều lần trùng tu, hiện nay Văn miếu Bắc Ninh gồm các hạng mục chính: Cổng, Tả/Hữu Vu, Nhà Bia, Nhà Thờ chính.
Cổng
Cổng Văn miếu Bắc Ninh được xây dựng theo kiểu Tam Quan, gồm ba cửa vòm là lối ra vào, từ mặt đường gồm 5 bậc thang lên xuống.
Cổng chính giữa được xây dựng theo kiểu hai tầng mái, tầng dưới trên phía mái vòm, đắp gờ nổi hình chữ nhật ngang, bên trong có ba chữ Hán: “門 廟 文” dịch “Văn miếu môn”. Hai bên cửa chính là hai trụ giả xây liền khối, có đường viền xung quanh và trong lòng hai trụ có đắp nổi hai câu đối chữ Hán chạy dọc thân cột. Mái cổng lợp ngói mũi hài, các góc đầu đao uốn cong hình rồng.
Hai bên là cổng phụ có chiều ngang hẹp và thấp hơn cửa chính, cổng này không có mái ngói thay vào đó là đổ mái bằng bê tông. Ở hai bên là hai cột trụ biểu dạng lồng đèn, trên đỉnh là hình bốn con chim phượng chúc đầu xuống tạo giống kiểu trái giành.
Sân miếu
Phía trong cổng là dãy bậc thang cao gồm 17 bậc dẫn lên khoảng sân trước khu vực thờ chính ở trên cao, chính giữa đối diện với cổng là tấm bia“Bắc Ninh tỉnh trùng tu Văn miếu bi ký”, mô phỏng theo dạng bình phong, bên trong khắc chữ Hán, có nội dung ghi lại việc trùng tu Văn miếu Bắc Ninh và ca ngợi vai trò, ý nghĩa của Văn Miếu, cũng như tôn vinh những bậc hiền tài. Đây là tấm bia có kích thước lớn nhất tại Văn miếu nói chung và tỉnh Bắc Ninh nói riêng còn giữ lại được cho tới ngày nay.
Tấm bia chạm khắc chữ và hoa văn ở hai mặt, với đề tài rồng, mây, tứ quý.
Tả/Hữu Vu
Qua bức bình phong là khoảng sân chầu, ở vị trí hai bên trước Tiền Đường là hai dãy Tả/Hữu, hai dãy này đã được phục dựng năm 2003 trong dự án đầu tư phục hồi trùng tu tôn tạo di tích Văn miếu Bắc Ninh do Trung tâm Thiết kế và Tu bổ Di tích thực hiện.
Hai tòa nằm đối xứng nhau, có kích thước và kiến trúc giống nhau, mỗi dãy đều ba gian và có cấu trúc mái đơn giản, đằng sau có gác cột được xây dựng bằng gạch. Đây là nơi làm việc của Ban quản lý di tích Văn miếu Bắc Ninh và nơi tiếp khách, chuẩn bị đồ lễ trước khi vào toà thờ chính.
Khu thờ chính
Gian thờ chính nằm ở vị trí trung tâm của Văn Miếu, gồm Tiền Đường, Ống Muống và Hậu Cung với lối kiến trúc hình chữ Công (工). Tiền Đường gồm năm gian hai chái, ba gian giữa là nơi ra vào với hệ thống cửa gỗ thượng song hạ bản, hai gian chái được xây kín và giữa trổ cửa chữ Thọ, mặt trước và sau của Tiền Đường để cửa thông thoáng.
Bên trong Tiền Đường, có cấu trúc chồng rường giá chiêng, các mảng chạm khắc nổi được vẽ tỉ mỉ, xung quanh được trang trí chim hạc, bộ bát bửu và cửa võng chạm lộng. Gian giữa là nơi đặt nhang án, long ngai bài vị công đồng, phía trên là bức hoành phi “Văn hiến tư tại” (Văn hiến như vẫn còn tồn tại ở đây). Gian ngoài cùng bên trái thờ long ngai bài vị Tiến sĩ Đàm Thận Khiêm, còn gian ngoài cùng bên phải thờ long ngai bài vị Hoàng giáp Đàm Thận Giản.
Tại toà Tiền Đường có hai tấm bia được đặt trên lưng rùa, có niên đại từ thời Nguyễn, ghi việc trùng tu Văn Miếu là “Bắc Ninh tỉnh quan viên cung tiến” đặt bên phải toà Tiền Đường và “Trùng tu Bắc Ninh bi đình ký” đặt bên trái toà Tiền Đường.
Hậu Cung nằm ở phía sau, song song với toà Tiền Đường, nối với Tiền Đường và Hậu Cung là gian Ống muống, cách nhau bằng một khoảng sân rộng 2m. Hậu Cung gồm năm gian, có diện tích nhỏ hơn toà Tiền Đường nhưng có cấu trúc tương đối giống nhau. Gian chính giữa Hậu Cung là nơi đặt tượng thờ Khổng Tử, pho tượng được tạc bằng gỗ, mô phỏng pho tượng Khổng Tử ở Văn miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội nhưng với kích thước nhỏ hơn. Các gian thờ được trang trí với hệ thống nhang án, cửa võng chạm lộng, hoành phi, câu đối, đều sơn thếp vàng. Phía trên chính giữa của Hậu Cung có bức hoành phi ghi các chữ: “Đại Chấn Văn Phong” với ý nghĩa ca ngợi văn phong to lớn, lẫy lừng. Phía trước tượng là tấm thần vị ghi nội dung chữ Hán: “Đại Thành Chí Thánh Tiên Sư Khổng Tử Thần vị”.
Hai bên khám thờ Khổng Tử là các khám thờ với các ngai cùng bài vị các Trạng nguyên, Tiến sĩ quê hương Bắc Ninh. Gian bên trái thờ long ngai và bài vị Trạng nguyên Nguyễn Giản Thanh; phối thờ bài vị của Tiến sĩ Nguyễn Hồ và Tiến sĩ Trần Phi. Gian bên phải thờ long ngai và bài vị của Tiên thánh sư, thờ bài vị Tiến sĩ Nguyễn Quỳnh Cư; hai gian bên ngoài cùng thờ Hoàng giáp Đỗ Đại Uyên, Tiến sĩ Trần Phu và Nguyễn Đức. Tại gian Hậu Cung có treo một quả chuông đồng do nhân dân địa phương cung tiến, trên thân chuông có ghi dòng chữ dịch ra là: “Chuông đồng xóm 10” (xóm nằm dưới chân núi Phúc Đức).
Nhà bia
Nhà bia hiện nay đã được khôi phục lại trên nền của nhà Tạo soạn, nhà Cải trang trước đây đã bị phá hủy. Hai nhà bia có diện tích và kiến trúc giống nhau, gồm ba gian hai chái, mỗi nhà bia đặt sáu tấm bia Tiến sĩ “Kim Bảng Lưu Phương”, được dựng vào năm 1889, lưu danh gần 677 vị đại khoa, trên đó ghi tên tuổi, quê quán của các vị đỗ đại khoa trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Các bài vị được đặt trên khám thờ, được trang trí cửa võng sơn thếp vàng, câu đối và hoành phi.
Sự kiện và Lễ Hội
Hằng năm, vào ngày rằm tháng Giêng, tại Văn Miếu tổ chức lễ dâng hương, các hoạt động tế lễ, nhằm tưởng nhớ các bậc tiền nhân và cầu mong sự bình an, sức khoẻ cho gia đình. Ngoài ra, tại Văn Miếu Bắc Ninh thường xuyên diễn ra các hoạt động văn hoá, giáo dục truyền thống khoa bảng cho các thế hệ để cùng gìn giữ và phát huy tinh thần hiếu học của những vị hiếu học xưa, nhằm tôn vinh sự nghiệp giáo dục.
Hiện vật
Hiện nay tại Văn miếu Bắc Ninh lưu giữ được 15 tấm bia, trong đó, 12 tấm bia “Kim Bảng Lưu Phương”, lưu danh của 677 vị đại khoa, hiếu học, khoa bảng của tỉnh Bắc Ninh. được công nhận là Bảo vật quốc
gia do các bia là hiện vật gốc, độc bản, được lưu giữ tại Văn miếu Bắc Ninh từ năm 1889 đến nay.
Bia số 1: Văn bia đề danh tiến sĩ từ khoa Ất Mão (1075) đến khoa Quang Thuận (1469)
Bia số 2: Văn bia đề danh tiến sĩ từ khoa Nhâm Thìn (1472) đến khoa Đinh Mùi (1487)
Bia số 3: Văn bia đề danh tiến sĩ từ khoa Canh Tuất (1490) đến khoa Ất Sửu (1505)
Bia số 4: Văn bia đề danh tiến sĩ từ khoa Mậu Thìn (1508) đến khoa Bính Tuất (1526)
Bia số 5: Văn bia đề danh tiến sĩ từ khoa Kỷ Sửu (1529) đến khoa Canh Tuất (1550)
Bia số 6: Văn bia đề danh tiến sĩ từ khoa Quý Sửu (1553) đến khoa Nhâm Thìn (1592)
Bia số 7: Văn bia đề danh tiến sĩ từ khoa Ất Mùi (1595) đến khoa Quý Mùi (1643)
Bia số 8: Văn bia đề danh tiến sĩ từ khoa Bính Tuất (1646) đến khoa Giáp Tuất (1694)
Bia số 9: Văn bia đề danh tiến sĩ từ khoa Đinh Sửu (1697) đến khoa Đinh Mùi (1727)
Bia số 10: Văn bia đề danh tiến sĩ từ khoa Tân Hợi (1731) đến khoa Đinh Mùi (1787)
Bia số 11: Kim bảng lưu phương
Bia số 12: Kim bảng lưu phương Quốc triều (triều Nguyễn)
Bia số 13: “Trùng tu Văn miếu Bắc Ninh bi đình ký”
Bia số 14: “Bắc Ninh tỉnh trùng tu Văn miếu bi ký”
Bia số 15: “Bắc Ninh tỉnh quan viên cung tiến”
Xếp hạng
Văn miếu Bắc Ninh được Bộ Văn hoá-Thôn tin (nay là Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch) xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia ngày 28 tháng 01 năm 1988.
Tham khảo
- Nguyễn Phương Chi, Nguyễn Kỳ Nam, Văn Miếu, Văn Từ, Văn Chỉ trong lịch sử Việt Nam, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 12 (2013).
- Viện nghiên cứu Hán Nôm, Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
- Hồ Văn Phi (1998), Đàm đạo với Khổng Tử, Nxb Tông giáo văn hoá, Bắc Kinh
- Đinh Thị Vân (2023), Bảo tồn và phát huy gía trị di tích Văn miếu Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ quản lý văn hoá, Đại học Quốc gia Hà Nội.
