Hệ thống mười tám vị La Hán trong Phật Giáo

Hệ thống mười tám vị La Hán trong Phật Giáo

Giới thiệu chung


Thập bát La hán (chữ Hán: 十八羅漢) là danh xưng được dùng trong các giai thoại về các vị A-la-hán trong Phật giáo Đại thừa. Hình tượng 18 vị La hán là một chủ đề phổ biến trong nghệ thuật Phật giáo, ảnh hưởng lớn nhất tại Trung Quốc và Việt Nam.

Qua các thời kì, nhiều dị bản về các vị La Hán xuất hiện, lưu truyền và được bổ sung. Vậy nên tên gọi cùng sự tích, vị trí xuất hiện của các vị không đồng nhất. Ghi chép sớm nhất về 18 vị La Hán là của Tô Đông Pha người Bắc Tống, Trung Quốc. Tô gia chuyên tâm hướng Phật, quy về làm đệ tử cửa Phật. Ông cùng với một vị đại sư vẽ ra Thập Bát La Hán thư. Sau này lần lượt có nhiều sự thay đổi, bổ sung, thêm bớt hoặc hoán vị. Nhưng nhìn chung vẫn là cốt lõi tinh thần từ tác phẩm này.

Hình tượng các vị La Hán trong Phật giáo được phóng tác theo truyền thuyết. Qua mỗi thời kì đều có sự biến đổi và không đồng nhất. Vì vậy, ở các tài liệu khác nhau, ghi chép khác nhau thì tên tuổi và vị trí của các vị sẽ bị thay đổi. 

Hệ thống 18 vị La Hán


TỌA LỘC LA HÁN

Tôn giả Bạt La Đọa là vị La Hán thứ nhất. Ông vốn là một một đại thần danh tiếng của vua Ưu Đà. Sau khi xuất gia, ông thường cưỡi hươu về cung để khuyên bảo quốc vương xuất gia. Sau này quốc vương thoái vị nhường ngôi cho Thái tử và đi tu. Vì vậy, ông được người đời gọi tên là Tọa Lộc La Hán.

HỈ KHÁNH LA HÁN

Vị La Hán thứ hai được nhắc đến là tôn giả Già Phạt Tha. Ông nguyên là một nhà hùng biện đến từ Ấn Độ cổ đại.

Có người từng hỏi ông rằng: “Thế nào là vui?”.

Ông giải thích: “Từ thính giác, thị giác, xúc giác, vị giác, khứu giác mà cảm nhận được vị của niềm vui.”

Người ta lại hỏi ông: “Thế nào là khánh?”.

Ông trả lời rằng: “Không do tai mắt mũi miệng tay mà cảm thấy vui thì đó là khánh, ví dụ như thành tâm hướng Phật, tâm cảm nhận thấy Phật thì vui.”

Chính vì thế cho nên người đời gọi ông là Hỉ Khánh La Hán.

CỬ BÁT LA HÁN

Tôn giả Nặc Già Bạt Lý Đà là một vị hòa thượng hóa duyên. Phương pháp hóa duyên của ông không giống người khác. Bởi vì ông giơ bát lên cao để hướng về người xin ăn. Sau này thế nhân gọi ông là Cử Bát La Hán.

THÁC THÁP LA HÁN

Tô Tần Đà là vị đệ tử cuối cùng của Phật Đà. Theo quan niệm, tháp là tượng trưng cho Phật. Vì tưởng niệm ông đã đi theo Phật Tổ nên ông tự đặc chế ra một cái tháp và luôn mang theo bên mình. Vậy nên người đời sau này gọi ông là Thác Tháp La Hán.

TĨNH TỌA LA HÁN

Tôn giả Nặ.c Cự La vốn là một võ sĩ. Sau khi xuất gia, sư phụ vì muốn ông vứt bỏ tính cách lỗ mãng khi xưa nên bắt ông ngồi tĩnh tọa. Khi ông ngồi tĩnh tọa liền hiện ra thể trạng đại lực sĩ. Thế nên đây là lý do người đời sau gọi ông là Tĩnh Tọa La Hán.

QUÁ GIANG LA HÁN

Vị La Hán này vốn là một người bồi bàn của Phật Tổ, quản việc tắm rửa của Ngài. Ông được sinh ra ở dưới gốc cây Bạt Đà La – một loài cây quý hiếm của Ấn Độ, nên đặt tên ông là Bạt Đà La. Sau này ông đi thuyền vượt sông vượt biển để truyền bá Phật giáo nên có tên là Quá Giang La Hán.

KỴ TƯỢNG LA HÁN

Ông vốn là một vị thuần phục voi. Bởi vì năng lực và khả năng làm việc của voi lớn lại có thể nhìn xa. Bên cạnh đó, voi trong đạo Phật còn được biểu trưng cho đại hạnh. Vì vậy, người đời gọi ông với cái tên là Kỵ Tượng La Hán.

TIẾU SƯ LA HÁN

Tiếu Sư La Hán nguyên là một thợ săn dũng mãnh, ngay cả hổ và sư tử cũng bị ông săn bắt. Sau khi xuất gia ông từ bỏ sát sinh nên khi được chứng quả La Hán, có hai con sư tử đi đến bên ông cảm kích ông đã buông bỏ dao kiếm. Sau khi thành đạo, ông đã đưa hai con sư tử bên mình nên mọi người gọi ông là “Tiếu Sư La Hán”.

KHAI TÂM LA HÁN

Khai Tâm La Hán vốn là Thái tử Trung Thiên Trúc. Khi người em của ông muốn tranh đoạt ngôi vua với ông, ông nói: “Trong tâm ta chỉ có Phật, chứ không có Vương vị.” Hơn nữa, ông còn mở lồng ngực của mình ra, người em nhìn thấy quả nhiên trong tim ông có một vị Phật nên không làm loạn nữa. Cũng vì thế mà người đời gọi ông là “Khai Tâm La Hán”.

THÁM THỦ LA HÁN

Tương truyền, Thám Thủ La Hán là người con được sinh ra ở ven đường. Ông là anh trai ruột của vị La Hán Khán Môn. Mỗi khi ngồi đả tọa xong, ông liền giơ hai tay lên đầu và thở dài một hơi, nên sau này được người đời gọi là “Thám Thủ La Hán”.

TRẦM TƯ LA HÁN

Ông là người con trai của Phật Thích Ca Mâu Ni. Theo cha đi xuất gia làm một trong 10 đại đệ tử của Phật Đà. Ông được người đời gọi là “Trầm Tư La Hán”.

OẠT NHĨ LA HÁN (KHOÁI NHĨ LA HÁN)

Ông vốn là một nhà lý luận. Vì luận “nhĩ căn” mà nổi tiếng thế nhân. Cái gọi là “nhĩ căn” chính là một trong số lục căn bao gồm: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Lục căn là khí quan chủ yếu để chúng ta nhận thức thế giới. Muốn thành Phật, lục căn phải thanh tịnh. Trong lục căn thì nhĩ căn sinh ra nhận thức. Cho nên nhĩ căn thanh tịnh là quan trọng nhất. Bởi vì vị La hán này có nhĩ căn thanh tịnh nhất nên khi tạc tượng trong Phật giáo thường đắp hình dáng của ông thành hình nhĩ căn. Vì vậy, người đời gọi ông là “Oạt Nhĩ La Hán”.

BỐ ĐẠI LA HÁN

Ông vốn là người bắt xà ở Ấn Độ cổ. Khi đi bắt xà trong núi ông thường mang túi to để tránh cho người đi đường bị rắn cắn. Sau đó ông lại nhổ bỏ răng độc của chúng đi và thả vào rừng núi. Bởi vì phát thiện tâm và đắc được quả vị La Hán bên thân ông luôn có chiếc túi nên người đời gọi ông là “Bố Đại La Hán”.

BA TIÊU LA HÁN

Ông vốn là một người buôn bán. Ngày ông ra đời trời mưa rất to. Lá cây chuối ở hậu viện bị mưa rơi xuống kêu sột soạt nên mẹ ông đặt ông là Phạt Na Ba Tư (Tiếng Phạn có nghĩa là mưa). Sau này khi ông xuất gia thường hay đứng dưới cây chuối dụng công nên có tên là Ba Tiêu La Hán.

TRƯỜNG MI LA HÁN

Ông vốn là một hòa thượng. Khi sinh ra ông đã có lông mày trắng dài rủ xuống, bởi kiếp trước ông chính là một hòa thượng tu hành, tu hành đến già, tóc đều rụng hết chỉ còn hai cọng lông mày dài. Sau khi chết đầu thai chuyển thế, cọng lông mày này cũng được mang theo. Cha mẹ ông biết rõ ông là người tu hành cho nên lại đưa ông đi xuất gia. Cuối cùng ông tu thành La Hán và được thế nhân gọi là Trường Mi La Hán.

KHÁNG MÔN LA HÁN

Ông là em của vị La Hán Thám Thủ. Sau khi xuất gia, mỗi lần ông đi hóa duyên đều dùng nắm tay gõ cửa từng nhà để họ ra bố thí. Phật cho rằng cách của ông không ổn nên đã ban cho ông một cây gậy tích trượng. Lúc ông hóa duyên thì dùng cây gậy này rung lắc trước cửa, chủ nhà nghe thấy thanh âm này sẽ vui mừng mà ra cửa bố thí. Vì vậy ông được gọi là Kháng Môn La Hán.

HÀNG LONG LA HÁN

Một tên ác ma ở Ấn Độ cổ đã xúi giục, kích động người dân ở nơi kia sát hại tăng nhân, hủy hết tượng Phật và đem hết kinh Phật cướp đi. Long Vương đã dùng nước bao phủ nơi đó và đem kinh Phật về long cung. Sau này Khánh Hữu đã hàng phục Long Vương, thu hồi kinh Phật. Cho nên, người đời gọi ông là Hàng Long La Hán.

PHỤC HỔ LA HÁN

Là vị La Hán cuối cùng trong 18 vị La Hán Phục Hổ La Hán. Ông vốn là một tăng nhân. Bên ngoài chùa của ông thường có hổ gầm nên ông cho rằng hổ đói bụng. Thế là, ông liền đem phần cơm của mình cho hổ ăn. Dần dần, hổ bị tấm lòng lương thiện của ông thu phục. Đây cũng là lý do mà mọi người gọi ông là “Phục Hổ La Hán”.

Tham khảo


  • https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%ADp_B%C3%A1t_La_h%C3%A1n
  • tuongphatda.vn: https://tuongphatda.vn/so-luoc-18-vi-la-han-trong-phat-giao/
  • https://tamkyrt.vn/su-tich-18-vi-la-han/
Chấm điểm
Chia sẻ
Hệ thống mười tám vị La Hán trong Phật giáo

Nội dung chính

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

pexels4035926