Dặn em vào đám đại trà
Vừa ‘vào’, vừa ‘giã’, vừa ‘ra’ mười ngày
Mồng Sáu nhập tiệc vui thay
Sang đến mồng Tám nhập ngay tế thần
Ở xa cho chí ở gần
Ai ai cũng đến xem dân cướp cầu
Cướp ở lầu Mẹ đem về lầu Con
Quả cầu gieo mãi chẳng mòn
Dân thôn tứ giáp như con một nhà…
Bài ca dao trên đã được nhân dân Viên Nội truyền tụng từ đời này sang đời khác, như một hình thức lưu giữ ký ức văn hóa gắn với lễ hội cướp cầu Viên Nội, một lễ hội dân gian đặc sắc của huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội. Lễ hội là sự kết hợp giữa di tích, tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng, thể hiện sự đan xen giữa văn hóa quá khứ và hiện tại.
Thời gian
Ngày 8 tháng Giêng
Địa điểm
- Thôn Viên Nội, xã Vân Nội, huyện Đông Anh
Viên Nội, một thôn thuộc xã Vân Nội, là miền đất có dấu ấn lịch sử đậm nét. Đây từng là tiền đồn quan trọng trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đầu Công nguyên. Đến thời kỳ tiền khởi nghĩa (1941–1945), Viên Nội trở thành cái nôi của cách mạng Việt Nam, nơi từng in báo Cờ Giải Phóng, nơi phát động chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, góp phần vào thắng lợi chung của toàn dân tộc.
Người dân Viên Nội tự hào về mảnh đất thiêng từng là đồn lũy chống ngoại xâm, đồng thời cũng là nơi hội tụ và gìn giữ những nét văn hóa truyền thống đặc sắc.
Nhân vật thờ tự
- Đại tướng quân Đống Vĩnh
- Đại tướng quân Chung Bảo
Theo truyền thuyết, xưa kia Viên Nội là nơi tụ hội của các tướng lĩnh khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Nổi bật trong số đó có hai vị đại tướng quân Đông Vĩnh và Chung Bảo, cùng bà Diệu La công chúa, người đã chiêu mộ binh sĩ, luyện quân giúp Hai Bà Trưng đánh giặc. Hiện nay, nhiều địa danh tại Viên Nội còn lưu dấu truyền tích này, như: Quần Lưu, Quần Chối, Quần Từa, Quần Nội, Đầu Ông, Quần Giang…
Sau khi chiến thắng quân xâm lược, hai tướng quân về đóng quân tại rừng Am Thông và hóa tại đó. Nhân dân lập mộ và gìn giữ đến ngày nay.
Trong trận quyết chiến cuối cùng, trước thế lực mạnh của giặc, bà Diệu La công chúa đã khẩn cầu thần Kim Quy trợ giúp. Ngay khi vừa cầu nguyện, trên bầu trời Viên Nội xuất hiện đám mây đen, kèm theo đàn “xà giảo” (rắn khoang đen trắng) và quả “ngọc cầu”. Bà và binh sĩ xuất trận, quả cầu lăn đến đâu, đàn “xà giảo” tiến theo đến đó. Quân giặc hoảng loạn tháo chạy, quân ta giành thắng lợi vang dội.
Ghi nhớ công lao ấy, nhân dân Viên Nội tôn thờ hai vị tướng Đông Vĩnh, Chung Bảo cùng bà Diệu La công chúa làm Thành hoàng làng, mở hội vào đầu xuân hằng năm để tưởng nhớ các bậc tiền nhân có công với nước.
Lễ hội kết chạ Phú Mỹ – Kiều Mai được truyền tụng bằng câu ca:
Tháng Giêng em đến, tháng Hai chị về.
Tại chùa Lưu Bái (Kiều Mai) hiện còn lưu bản giao ước năm Duy Tân thứ 5 (1911), quy định: ngày 7 tháng Giêng, làng Kiều Mai rước xuống Phú Mỹ; ngày 20 tháng Hai, làng Phú Mỹ rước lại sang Kiều Mai. Truyền tích cho biết: Nguyễn Viên, người Châu Ái (Thanh Hóa), làm quan nhỏ thời Hán, đã liên kết các tù trưởng chống lại Tô Định. Sau khi mất, vợ ông ở lại nuôi hai con là Ả Lã nàng Đê và Quốc Công. Khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, hai chị em chiêu mộ dân binh dọc sông Nhuệ về tham gia. Ả Lã được phong làm Phương Anh phu nhân, em trai là Quốc Công, cùng lập công lớn trong việc giải phóng đất nước. Sau này, cả hai hy sinh khi chống quân Mã Viện, và được lập miếu thờ tại gần mười làng ven sông Đáy, sông Nhuệ.
Lễ hội
Hội cướp cầu Viên Nội được tổ chức vào ngày 8 tháng Giêng hằng năm.
“Thần cầu” hay còn gọi là “ông Quả”, được làm bằng gỗ tốt, lựa chọn kỹ lưỡng để khi ném xuống không nứt vỡ. Quả cầu được đặt trên ngai thờ, phủ vải đỏ, chỉ đến gần ngày lễ hội mới được các bô lão làm lễ mộc dục, tắm rửa bằng nước gừng, nước quế.
Đi kèm với thần cầu là “ông Móc” – tượng trưng cho đàn xà giảo, được làm từ tre non sạch, chuốt gọt cẩn thận, sơn khoang đen trắng. Mỗi năm làng làm thêm 12 ông Móc mới, đủ 200 chiếc, chia cho các gia đình “sạch sẽ” (không có tang, mẫu mực) được chọn lựa để chế tác.
Người được chọn để “chứa thần cầu” phải trải qua xét chọn nghiêm ngặt: phải là người cao vai trong họ, song toàn cha mẹ, con cháu đầy đủ, gia đình nề nếp gương mẫu.
Làng chia thành bốn phe trong hai giáp: một giáp chứa “thần cầu”, một giáp chứa “ông Móc”. Người khiêng kiệu là thanh niên trai tráng khỏe mạnh, được giáp cử ra.
Chiều ngày 7 tháng Giêng, giáp chứa “thần cầu” mang kiệu rước thần cầu từ đình làng vào nhà ông chứa quả. Đám rước có cờ, chiêng, trống, nhạc bát âm, tám thanh niên mặc áo lậu đỏ thay phiên nhau khiêng kiệu.
Sáng sớm mồng 8, kiệu long đình chờ sẵn trước cổng nhà ông chứa quả. Lễ hội bắt đầu. Phe chứa móc, mỗi người rước một ông Móc đến tụ họp, sau đó đồng loạt dùng móc chạm vào ông chứa quả. Phe chứa quả phải cử người chống đỡ, bảo vệ người chứa thần cầu.
Người chứa quả ôm thần cầu ra kiệu trong tiếng trống chiêng rộn ràng, giữa vòng móc móc – đỡ đỡ náo nhiệt. Đám rước tiến về đình làng, tiếng chiêng trống nổi lên từng hồi, khi thần cầu được hạ đài và “gieo cầu”. Quả cầu được tung lên không trung, thanh niên các phe, các giáp lập tức lao vào cướp cầu, tạo nên không khí sôi động, náo nhiệt khắp sân đình và khu vực ruộng ao lân cận.
Cuối cùng, thần cầu được đưa vào đình làng. Trong đình có bốn gian, đại diện cho bốn phe. Theo quy định, thần cầu gieo vào gian nào, thì phe đó được vinh dự “chứa ông Quả” cho năm sau. Quan niệm dân gian tin rằng: phe nào được chứa thần cầu thì năm ấy làm ăn thịnh vượng, phát đạt.
Hội làng Viên Nội khép lại trong niềm hân hoan của mọi người. Dư âm của lễ hội không chỉ là tiếng trống chiêng, cuộc vui hội làng, mà còn là ý thức gìn giữ phong tục đẹp, là sự cố kết cộng đồng và niềm tự hào về bản sắc văn hóa cha ông truyền lại.
Nguồn trích dẫn
Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001