Hội đền Xuân Lai (Sóc Sơn, Hà Nội)

Hội đền Xuân Lai (Sóc Sơn, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Địa điểm

Thôn Xuân Lai, xã Xuân Thu, huyện Sóc Sơn
Xuân Thu là một trong hai mươi nhăm xã thuộc huyện Sóc Sơn, phía bắc giáp xã Kim Lũ, tây và nam giáp hai xã Xuân Nộn và Thụy Lâm huyện Đông Anh, phía đông giáp xã Hòa Bình huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh. Xã gồm ba thôn: Xuân Lai, Thu Thủy và Yên Phú. Trước Cách mạng Tháng Tám nguyên là đất ba xã trưng tên thôn thuộc tổng Xuân Lai, phủ Đa Phúc, tỉnh Phúc Yên. Từ năm 1979 nhập vào Hà Nội.

Nhân vật thờ tự

Đền hàng tổng ở thôn Xuân Lai; tương truyền là nơi thánh Gióng truy đuổi giặc dừng chân. Dân làng đem chiếu ra trải mời thánh Gióng nghỉ ngơi nên làng có tên nôm là “Kẻ Trại”. Sau dần gian đọc chệch thành Sải, hiện vùng này vẫn còn chợ Sải.

Ngôi đền nhỏ xinh xắn tọa lạc ở giữa vùng dân cư đông đúc, quay hướng tây bắc, gồm tam quan, sân, nhà tiền tế, hậu cung. Tiếc thay trải qua dâu bể nên hiện nay chỉ còn sân gạch và hậu cung. Những trưng bày còn còn lưu giữ được nhiều di vật quý gồm: long ngai, bài vị, tượng thánh, bát hương, ba cỗ kiệu long đình và một số sắc phong…

Lễ hội

Hội làng Xuân Lai mở vào đầu năm nên không có lễ mở cửa đền. Sáng sớm tinh sương ngày 4 tháng Giêng, khi những giọt mưa xuân đầu tiên còn đọng trên cành lá thì tiếng chiêng, trống hội làng đã vang dậy. Từ xóm Đá, xóm Đoài, xóm Cạnh… người ta rước kiệu long đình, bày hương hoa, lễ vật về dâng thánh. Mỗi đám rước đều có cờ thần, bát bửu, chiêng, trống, tiến hô hậu ủng. Trước mỗi kiệu đều có một ông võ tướng cùng với đám công sai múa dẹp đường – nét đặc trưng này gần giống với “quân phù giá” và “làng ao đỏ” ở hội Gióng Phù Đổng.

Tới nơi, sau khi đưa lễ vật vào đền, các cụ ông tế nhập tịch. Ngoài sân cuộc đấu vật thờ bắt đầu được tiến hành. Đô vật là những chàng trai chưa vợ, cha mẹ song toàn, bản thân cũng là người có tài đức. Họ vờn nhau như múa, thỉnh thoảng cũng có cảm “lấm lưng trắng bụng”. Đấu vật thời không mang tính thắng, thua quyết liệt của cuộc thi tài mà là nghi thức ở đây. Tuy hội đền Hàng Tổng chỉ diễn ra trong một ngày nhưng cũng khiến dân chúng say mê và có trò chơi phong phú. Có trò thi lấy nước, kéo lửa thổi cơm. Quy định như sau: mỗi xóm thành một đội có ba người, một người chạy lấy nước, hai người kia kéo lửa nhóm bếp rồi cùng nấu cơm. Ai nấu nhanh cơm chín, dẻo được giải thưởng và đưa vào lễ thánh. Ban tổ chức đã lấy nước ở giếng chùa chứa trong những chiếc lọ để sẵn ở cánh đồng Lim (cách đền chừng 500m). Dự một hồi ba tiếng trống, cuộc chạy đua lấy nước bắt đầu. Người còn lại lấy hai thanh tre sát vào nhau kỳ đến khi toé lửa vào bùi nhùi nhóm bếp. Ngọn lửa hồng cũng là lúc nước đã được đưa về. Họ cùng vo gạo, bắc nồi treo ở chiếc chạc ba lơ lửng trên mặt đất. Cầm củi hơ dưới đáy nồi, giữa tứ bề gió thổi phải làm sao lửa không tắt, cơm chín nhanh, điều đó đòi hỏi ở sự nhanh nhẹn khéo léo của mỗi người. Được giải trong cuộc thi nấu cơm được coi là điều may mắn cho cả năm.

Cuộc thi cướp cờ cũng hào hứng không kém: hàng cờ đuôi nheo cắm ở giữa, mỗi xóm kết thành một đội đứng dàn đều hai bên. Theo hiệu lệnh cùng chạy thật nhanh vào cướp, đội nào được nhiều cờ hơn ấy là dành phần thắng. Nhưng có lẽ náo nhiệt nhất ở đây là trò kéo “mỏ”. Cũng chia hai đội như các cuộc kéo co nhưng không dùng dây mà dùng “mỏ”. “Mỏ” là hai cây tre bánh tẻ, phải thật thẳng, đã được róc nhẵn các đầu mặt, chỉ để lại một tay tre ở gần gốc tạo thành một chiếc chạc. Hai đội quay vào nhau,tay cầm đằng ngọn, gốc quay vào giữa, néo hai chiếc chạc của hai chiếc cây tre vào với nhau. Được lệnh, quân hai bên cùng gò lưng, mắm môi mắm lợi ra sức kéo. Cuộc chơi thật quyết liệt, mãi bên tả mới kéo đi được một tý thì bên hữu lại kéo về. Có lúc hăng quá ngã lăn chiêng ra đất, lúc ấy tiếng hò reo hò cổ vũ cùng với tiếng trống âm vang cả một vùng

Cuộc thi kéo mỏ sau khi đã phân định thắng thua, trò đấu vật tranh giải được tiến hành như các hội khác. Các trò vui liên tục sáng đến khoảng ba, bốn giờ chiều thì dừng lại. Dân chúng vào đến vái ra rồi xóm nào rước lễ về xóm ấy cùng thụ lộc để buổi tối cònđi xem đội tuồng của thôn biểu diễn. Thường là tích “Tạ Ôn Đình trảm Khương Linh Tá” hoặc “Mộc Quế Anh dâng cây”…

Xuân Lai một làng cổ có bề dày hàng nghìn năm, một vùng quê như còn ghi dấu chân của một vị thánh trong “tứ bất tử” của Việt Nam: mỗi lên ba nghe tin nước có biến đã vươn mình đứng dậy giết giặc cứu dân. Ngựa phi đến đâu giặc Ân tan đến đấy. Và thánh Gióng cũng nổi tiếng ăn khỏe hết “bảy nong cơm, ba nong cà”. Những truyền thuyết ấy cho chúng ta biết để thắng giặc ngoại xâm ngoài tinh thần yêu nước, mưu trí dũng cảm còn cần phải có sức lực. Vì thế nơi nào thánh Gióng dừng chân đều bày cho dân trò chơi để rèn luyện sức khỏe: cầu húc ở Xuân Dục, kéo co ở đền Thanh Nhàn, kéo mỏ, cướp cờ ở đền Hàng Tổng. Muốn quân bền, việc chăm lo cuộc sống vật chất cho tướng sĩ được hết sức đề cao. Ở bất kỳ địa thế nào quân sĩ cũng được ăn no đánh thắng. Nhiều trò tái hiện như thổi cơm lơ lửng trên không như ở Xuân Lai, dưới bắt gà làm thịt, kéo lửa thổi cơm thi ở Lương Quy (Đông Anh).

Nguồn tham khảo

Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001

Chấm điểm
Chia sẻ
Cover ảnh thiền sư chốn thiêng (3)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)