Nhân vật được thờ: Thiên thần Đô Hồ
Địa điểm: Làng Vàng, xã Cổ Bi, huyện Gia Lâm, Hà Nội
Thời gian: ngày 6 tháng Hai
Truyền thuyết về nhân vật được thờ
Theo thần tích, vào năm 40 sau Công nguyên, nước ta lúc bấy giờ đang nằm dưới sự cai trị của nhà Đông Hán. Thái thú Tô Định là kẻ bạo ngược, thi hành chính sách đô hộ vô cùng tàn ác, khiến đời sống nhân dân lâm vào cảnh khốn cùng. Tại vùng Chu Diên, Tô Định đã sát hại Thi Sách, con quan Lạc tướng và là chồng của bà Trưng Trắc. Bà Trưng Trắc cũng là con của quan Lạc tướng ở Mê Linh. Trước cảnh đất nước điêu linh, nhân dân lầm than, bà Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị đã phất cờ khởi nghĩa. Nhân dân cùng các nữ tướng ở nhiều nơi nô nức hưởng ứng, tạo thành một phong trào đấu tranh rộng lớn chống lại ách đô hộ của nhà Đông Hán. Hai bà lập đàn tế cáo trời đất tại Hát Môn, thể hiện ý chí đền nợ nước, trả thù nhà và quyết tâm giành lại độc lập cho đất nước.
Một hôm, đoàn quân của Hai Bà Trưng tiến về trang Cổ Bi, xưa kia là một vùng đất cổ nằm ven sông Nhị và sông Thiên Đức. Khi đến nơi, nhận thấy đây là vùng đất thiêng, vượng khí dồi dào, thế núi hình sông hài hòa, đường tiến đường lui đều thuận lợi, bà Trưng Trắc liền cho binh sĩ dừng chân nghỉ lại.
Một đêm, vào cuối canh tư ngày mùng 10 tháng Ba, trong lúc chìm vào giấc ngủ, bà Trưng Trắc bỗng nằm mộng thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, tay chống gậy trúc, trang phục chỉnh tề, dung mạo kỳ dị từ phía bên kia đường đi tới. Cụ tự xưng là linh thần và nói rằng: “Ta vốn là dòng dõi Hùng Vương, chịu mệnh Thiên đình trấn giữ đất này. Nay gặp đại quân của nữ vương đang đi làm việc lớn, ta xin được trợ giúp. Nếu sau này công thành danh đạt, xin được cùng phối hưởng”.
Sau đó, bà Trưng Trắc tỉnh giấc, chỉ thấy một vầng hào quang chói lọi cùng hương thơm sực nức lan tỏa trong không gian. Nhận biết đây là điềm linh ứng, bà rất mừng, liền âm thầm bái tạ vị linh thần đã hiện mộng phù trợ.
Quả nhiên, ba năm sau, Hai Bà Trưng đã đánh đuổi được Tô Định, thu phục 65 thành trì, giành lại quyền tự chủ và lên ngôi, đóng đô tại Mê Linh. Nhớ đến công lao phù trợ của vị linh thần ở trang Cổ Bi, Hai Bà Trưng đã trở lại nơi đây, cho lập miếu thờ thần. Từ đó, nhân dân địa phương tôn vị linh thần làm Thành hoàng và phụng thờ tại làng.
Trải qua các triều đại, mỗi khi đất nước có giặc ngoại xâm hoặc xảy ra loạn lạc, nhân dân đều đến miếu cầu đảo, mong thần linh ứng trợ, phù hộ cho quốc gia và bản làng được bình an. Do có công lao phù trợ đất nước, vua Đại Hành đã phong tặng thần hiệu “Đức Bác Hộ Quốc Đại vương”.
Đến thời Trần, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, trên đường hành quân, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn cũng từng đến đây cầu xin thần linh trợ giúp. Sau khi cuộc kháng chiến giành thắng lợi, vua Trần Thái Tông ban phong thần hiệu “Linh Triết Bản Hựu Trợ Thuận”, nhằm ghi nhận sự linh ứng và công lao phù trợ của thần đối với đất nước.
Đến thời Hậu Lê, sau mười năm kháng chiến chống quân Minh, vua Lê Lợi đã đánh đuổi quân xâm lược, giành lại giang sơn. Nhà vua tiếp tục phong tặng thần hiệu “Phổ Thế Cương Nghị Anh Linh”, đồng thời ban nhiều tiền của để nhân dân Cổ Bi tu bổ và tôn tạo miếu thờ. Việc các triều đại liên tiếp ban sắc phong và gia tặng thần hiệu cho thấy vị thần được cộng đồng cư dân Cổ Bi tôn kính, đồng thời phản ánh sự gắn kết giữa tín ngưỡng thờ Thành hoàng với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Đến thời Lê Trung Hưng, đình được xây dựng trên nền đất cũ của miếu. Trải qua thời gian, do tác động của thiên nhiên và những biến đổi của lịch sử, ngôi đình tiếp tục được tu sửa và dựng lại. Đến năm Bảo Đại nguyên niên, tức năm 1925, đình được dựng lại trên nền đất cũ, tạo lập diện mạo kiến trúc tương đối hoàn chỉnh.
Với những giá trị về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng dân gian, đình Cổ Bi trở thành một thiết chế văn hóa quan trọng của cộng đồng địa phương, gắn liền với truyền thuyết về vị Thành hoàng và những dấu ấn lịch sử của vùng đất. Năm 1995, đình được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích, qua đó ghi nhận những giá trị lịch sử và văn hóa tiêu biểu của di tích.
Diễn trình lễ hội
Thôn Vàng nằm trên một vùng đất trù phú, có cảnh quan đẹp, gần sông Đuống, làng xóm quần tụ, nhà cửa xen kẽ giữa những cánh đồng lúa xanh ngát. Hệ thống đường giao thông liên thôn, liên xã được trải nhựa, lại nằm gần Quốc lộ 5 – tuyến giao thông chiến lược có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội nên đời sống của người dân trong thôn, trong xã ngày càng được cải thiện. Đặc biệt, thôn Vàng nằm kề vùng đất cổ Luy Lâu, một trong những trung tâm văn hóa – lịch sử quan trọng của vùng Kinh Bắc. Bởi vậy, từ xa xưa, cứ đến ngày mùng 6 tháng Hai âm lịch, dân làng lại tưng bừng mở hội đình.
Theo lời kể của các bậc cao niên, hội đình thôn Vàng xưa kia diễn ra rất long trọng và kéo dài từ bảy đến mười ngày. Công việc chuẩn bị được bắt đầu từ lễ nhập tịch ngày 25 tháng Giêng. Các cụ trong làng họp bàn, phân công cho từng giáp đảm nhiệm những công việc cụ thể trong lễ hội. Năm giáp cùng chuẩn bị lợn tế thần, chăm sóc, tắm rửa và vỗ béo cẩn thận để phục vụ nghi lễ. Khi ngày hội đến, từ sáng sớm, tiếng trống, tiếng chiêng đã vang lên rộn rã, báo hiệu một mùa hội bắt đầu.
Sau nghi thức tế lễ tại đình do các cụ ông trong ban tế đảm nhiệm, sân đình trở nên náo nhiệt với cờ thần, cờ lệnh và đội ngũ dân binh chuẩn bị cho lễ rước nước. Đoàn rước xuất phát từ đình, theo đường làng men dọc đê sông Thiên Đức hướng về Cầu Đuống. Từ xa nhìn lại, đoàn rước kéo dài giữa những cánh đồng lúa xanh, uốn lượn như một con rồng rực rỡ sắc màu trên nền trời và đồng ruộng mùa xuân.
Đi đầu đoàn rước là đội cờ thần, cờ lệnh, tiếp đến là các vãi bà với cờ phướn nhà Phật tung bay trong gió. Sau đó là phường bát âm cùng dàn trống, dàn chiêng, tạo nên âm thanh rộn ràng, náo nức. Chiếc long đình đặt lễ vật được tám cô gái trẻ, dung mạo tươi tắn, khiêng đi theo nhịp trống. Tiếp theo là dàn bát bửu và ngựa gỗ có bánh xe, được trang hoàng yên cương lấp lánh, do các trai làng mặc áo nâu, đội nón dứa đẩy đi, hai bên có tán vàng, lọng tía hộ vệ.
Nổi bật trong đoàn rước là kiệu bát cống với tám đầu rồng chầu về bốn phía, được sơn son thếp vàng lộng lẫy, trên đặt những chóe dùng đựng nước. Kiệu do các trai làng mặc áo the, quần trắng, đội nón chóp dứa, thắt lưng đỏ cùng nhau khiêng. Theo sau là các cụ cao niên trong trang phục tế lễ, cùng các quan tổng cờ, đội tiền hô hậu ủng vây quanh kiệu. Cuối đoàn là đông đảo dân làng và khách thập phương cùng nô nức tham dự.
Trên con đê uốn lượn, đoàn rước nổi bật giữa không gian mùa xuân xanh tươi. Cờ bay phần phật, tiếng trống, tiếng chiêng và âm thanh của phường bát âm hòa quyện trong làn hương nghi ngút, tạo nên một khung cảnh vừa náo nhiệt vừa linh thiêng. Sắc đỏ của cờ, kiệu, sắc vàng của đồ tế lễ cùng màu xanh của đồng ruộng khiến cả không gian lễ hội như một bức tranh sống động về đời sống văn hóa làng quê Kinh Bắc.
Khi đoàn rước đến gần Cầu Đuống, kiệu được dừng lại để thực hiện nghi thức lấy nước. Quan chủ tế làm lễ kính cáo với thần linh, thổ công và hà bá, sau đó chóe nước được chuyển xuống thuyền. Thuyền có tán, lọng hộ giá chèo ra giữa dòng sông để lấy nước trong giữa dòng. Nước sau khi được rước lên bờ lại được cung kính đưa vào kiệu, rồi đoàn rước trở về đình trong không khí trang nghiêm.
Trong những ngày hội, các quan đám túc trực tại đình, nhân dân chuẩn bị lễ vật dâng Thành hoàng, thường gồm mâm xôi và thủ lợn. Theo tục lệ địa phương, những người có bụi trên người không được vào đình, thể hiện quan niệm coi trọng sự thanh sạch và trang nghiêm của không gian thờ tự.
Sau phần lễ là phần hội với nhiều hoạt động phong phú. Người dân trong làng nô nức đến đình thắp hương tưởng nhớ Thành hoàng, đồng thời vào chùa lễ Phật, cầu tài, cầu lộc. Tại sân đình và những bãi đất rộng trong làng, các trò chơi dân gian diễn ra sôi nổi: nơi có người xem đánh đu, nơi tổ chức chọi gà, đánh vật; các giáp còn thi tài nấu cơm, tạo nên không khí vui tươi, náo nhiệt. Đặc biệt, ao đình rộng, mặt nước trong xanh soi bóng thuyền rồng chở các liền anh, liền chị từ vùng Kinh Bắc sang giao lưu, hát quan họ, làm cho không gian hội càng thêm đậm đà sắc thái văn hóa địa phương.
Vào những năm mở hội chính, lễ hội còn có nhiều nghi thức quan trọng như rước văn từ nhà Tiên chỉ ra đình, rước cỗ của các giáp về đình làm lễ và rước chạ từ đình sang làng Hội Xá, quãng đường dài hơn một kilômét. Mỗi khi đoàn rước đi qua, nhân dân hai bên đường lại bày hương án, thắp hương và thành kính bái vọng. Những nghi thức ấy không chỉ làm tăng thêm vẻ trang nghiêm cho lễ hội mà còn thể hiện mối quan hệ giao kết giữa các cộng đồng làng xã.
Hội đình thôn Vàng vì thế không chỉ là dịp tưởng niệm và tôn vinh Thành hoàng mà còn là không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng giàu ý nghĩa. Qua các nghi lễ rước nước, tế lễ, rước chạ cùng những trò diễn và sinh hoạt dân gian, lễ hội góp phần gắn kết cộng đồng, củng cố tình làng nghĩa xóm, đồng thời trao truyền cho các thế hệ sau những giá trị văn hóa, đạo lý và tình cảm gắn bó với quê hương, xứ sở.
Tài liệu tham khảo
Lê Trung Vũ (2011), Hội làng Thăng Long – Hà Nội, tập 2, Nxb Thanh Niên.