Tên gọi: Lễ hội Cầu Ngư
Loại hình: Lễ hội truyền thống
Không gian thực hành: Các làng biển, lăng thờ Ông Nam Hải tại Khánh Hòa
Đối tượng thờ phụng: Ông Nam Hải – Cá Ông (cá voi)
Cộng đồng thực hành: Cộng đồng ngư dân ven biển Khánh Hòa
Phạm vi phân bố: Vạn Ninh, Ninh Hòa, Nha Trang, Cam Lâm, Cam Ranh
Không gian chính: Lăng Ông Nam Hải, đình làng, vùng biển và cửa biển của các cộng đồng ngư dân
Ghi danh: Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, loại hình Lễ hội truyền thống.
Lễ hội Cầu Ngư ở Khánh Hòa là lễ hội truyền thống tiêu biểu của cộng đồng cư dân ven biển, bắt nguồn từ tục thờ Cá Ông – vị thần biển được ngư dân tôn kính với các danh xưng như Đức Ông, Ông Nam Hải. Trong tâm thức dân gian, Cá Ông là loài vật linh thiêng, thường cứu giúp thuyền bè và ngư dân gặp nạn giữa biển khơi.
Khi Cá Ông chết và trôi dạt vào địa phận của một làng biển, cộng đồng tổ chức tang lễ trang trọng, mai táng, lập lăng thờ và thực hiện các nghi thức cúng tế. Sau ba năm, ngư dân cải táng, đưa ngọc cốt vào lăng, đình, vạn, đền hoặc miếu để thờ phụng. Riêng tại Khánh Hòa, người đầu tiên phát hiện Cá Ông “lụy” có trách nhiệm đưa Ông vào bờ và được coi như người con trưởng, chịu tang trong ba năm. Hằng năm, vào ngày Ông “lụy”, cộng đồng tổ chức lễ tế Ông Nam Hải, dần hình thành nên Lễ hội Cầu Ngư với hệ thống nghi lễ phong phú.
Nguồn gốc và tục thờ Cá Ông
Tục thờ Cá Ông phổ biến trong cộng đồng cư dân ven biển từ Quảng Bình trở vào, đặc biệt đậm nét tại khu vực Nam Trung Bộ. Nguồn gốc chính xác của tín ngưỡng này đến nay chưa được xác định, song trong dân gian lưu truyền nhiều truyền thuyết giải thích sự linh thiêng của Cá Ông.
Trong thần thoại Chăm, hình tượng Cá Ông gắn với Cha-Aih-Va, sau đổi tên thành Po Riyah – thần Sóng Biển, có khả năng cứu giúp những người bị đắm thuyền. Một truyền thuyết Phật giáo lại kể rằng Quan Âm Nam Hải vì thương xót những người gặp nạn trên biển đã xé áo cà sa thành nhiều mảnh, hóa thành những con cá voi và ban cho khả năng bơi nhanh để cứu người.
Dân gian còn lưu truyền câu chuyện Nguyễn Phúc Ánh trên đường chạy vào vùng biển Xiêm La gặp giông tố, được Cá Ông cứu giúp. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long sắc phong Cá Ông để ghi nhận công đức. Qua các triều vua Nguyễn, Cá Ông tiếp tục được ban sắc phong với những mỹ tự tôn quý.
Tại Khánh Hòa, tín ngưỡng thờ Ông Nam Hải phát triển sâu rộng trong các làng biển. Bên cạnh những lăng Ông độc lập, một số nơi phối thờ Cá Ông trong đình làng hoặc trong các quần thể tín ngưỡng dân gian. Lễ hội vì thế vừa mang tính chất tín ngưỡng, vừa gắn chặt với đời sống và nghề nghiệp của cộng đồng ngư dân.
Diễn trình lễ hội
Lễ hội Cầu Ngư ở Khánh Hòa thường diễn ra trong ba ngày đêm. Không gian lễ hội không chỉ giới hạn tại Lăng Ông mà mở rộng ra làng biển và biển khơi. Trong đó, những nghi thức tiêu biểu gồm Lễ Rước sắc, Lễ Nghinh Ông, Hò Bá trạo, Lễ Tỉnh sanh, Tế chánh, Thứ lễ, Tôn vương và Lễ Tống Na.
Lễ Rước sắc
Lễ Rước sắc thường mở đầu lễ hội. Sắc phong Ông Nam Hải ở nhiều địa phương được lưu giữ tại Nhà Tiền hiền hoặc giao cho người có uy tín trong làng làm “Thủ sắc”. Khi mở hội, cộng đồng mới cung nghinh sắc về Lăng Ông.
Nghi lễ gồm ba phần chính: Thỉnh sắc, Rước sắc và Khai sắc. Sau khi Ban Tế lễ dâng hương xin phép Thành hoàng cùng các vị Tiền hiền, Hậu hiền, sắc phong được đặt trên Long đình và rước trang trọng về Lăng. Khi đoàn rước tới nơi, sắc được an vị trên bàn thờ và làm lễ Khai sắc, chính thức mở đầu các nghi thức của lễ hội.
Lễ Nghinh Ông
Lễ Nghinh Ông là một trong những nghi thức đặc trưng nhất của Lễ hội Cầu Ngư. Lễ thường được tổ chức vào lúc thủy triều lên, vì vậy còn được gọi là “Lễ nghinh thủy triều”, với ý nghĩa cung nghinh Ông Nam Hải từ biển khơi trở về Lăng dự lễ.
Đoàn nghinh gồm Ghe lễ, Ghe Bá trạo, Ghe dắt cùng nhiều ghe thuyền của ngư dân. Ghe lễ được trang hoàng cờ, lọng, đặt Long đình và hương án; Ban Tế lễ cùng đội nhạc thực hiện nghi thức trên ghe. Khi đoàn ra đến cửa biển, nghi lễ nghinh Ông được tiến hành.
Trên đường trở về, Ghe lễ đi giữa, hai Ghe Bá trạo đi hai bên, vừa di chuyển vừa đổi vị trí, mô phỏng cách Cá Ông bơi vào bờ tìm nơi “lụy”. Tiếng chiêng trống hòa cùng lời hát “Phụng nghinh hồi đình” của đội Bá trạo tạo nên một không gian nghi lễ đặc biệt trên biển. Khi đoàn cập bến, Long đình được rước về Lăng, tiếp đó là các nghi thức múa Siêu và Hò Bá trạo kính mừng Ông trở về với cộng đồng.
Hò Bá trạo
Hò Bá trạo là hình thức diễn xướng dân gian đặc sắc và là một nghi lễ quan trọng của Lễ hội Cầu Ngư ở Khánh Hòa. Trò diễn kết hợp hát, múa, nói và các yếu tố sân khấu dân gian, mô phỏng hình ảnh một đoàn ngư dân chèo thuyền vượt biển.
Đội Bá trạo truyền thống gồm Tổng Lái, Tổng Mũi, Tổng Thương và các Trạo phu. Tổng Lái là người cầm lái và lĩnh xướng; Tổng Mũi đứng ở đầu thuyền, giữ nhịp cho đoàn; Tổng Thương hay Tổng Khoang đảm nhiệm vai diễn mang yếu tố hài; các Trạo phu cầm mái chèo, xếp thành hai hàng tượng trưng cho những người chèo thuyền.
Một bổn tuồng Hò Bá trạo ở Khánh Hòa thường gồm bốn lớp chính: Giáo đầu, Ra khơi, Tổng Thương xem giông và Về bến. Qua diễn biến con thuyền rời bến, vượt sóng gió rồi trở về an toàn, Hò Bá trạo vừa ca ngợi công đức Ông Nam Hải, vừa thể hiện đời sống lao động, lòng quả cảm và khát vọng chinh phục biển cả của ngư dân.
Bởi vậy, Hò Bá trạo không chỉ là lời cầu mong sự che chở của Ông Nam Hải mà còn là khúc tráng ca của người dân biển, thể hiện tinh thần đoàn kết, ý chí vượt qua giông bão và ước vọng về những chuyến biển bình an, tôm cá đầy khoang.
Các nghi lễ quan trọng khác
Lễ Tỉnh sanh được thực hiện trước Tế chánh, mang ý nghĩa xin phép thần linh được sử dụng vật hiến tế. Theo tục lệ tại Khánh Hòa, lễ vật tế các nhiên thần hoặc thiên thần có tam sanh, trong đó có heo nguyên con.
Tế chánh là nghi lễ quan trọng và thiêng liêng nhất của lễ hội, được tiến hành sau Lễ Nghinh Ông và phần trình diễn Bá trạo. Cộng đồng thành kính dâng lễ lên Ông Nam Hải, cầu mong được phù hộ trong những chuyến ra khơi, cuộc sống bình an và nghề biển thuận lợi.
Thứ lễ và Tôn vương gắn với nghệ thuật hát bội. Theo lệ, một số làng định kỳ mời đoàn hát bội về biểu diễn trước án thờ Ông, trước để cúng thần, sau phục vụ cộng đồng. Hình thức này tại Khánh Hòa còn được gọi là “hát án”. Các vở diễn thường lựa chọn những tích truyện đề cao lòng trung nghĩa và khí tiết. Tôn vương là nghi thức quan trọng kết thúc phần hát cúng, mang ý nghĩa chúc phúc và gửi gắm mong ước về cuộc sống tốt đẹp.
Lễ Tống Na là nghi thức cúng các cô hồn, vong linh trên biển. Sau lễ, một phần lễ vật được đặt trên chiếc ghe mô hình bằng nan, đưa ra biển thả xuống nước, mang ý nghĩa tiễn các vong hồn trở về biển khơi. Sau khi hoàn tất, đoàn trở lại Lăng Ông làm lễ hoàn mãn, kết thúc chuỗi nghi thức của lễ hội.
Giá trị tiêu biểu
Lễ hội Cầu Ngư phản ánh sâu sắc đời sống tín ngưỡng và nghề nghiệp của cư dân ven biển Khánh Hòa. Tín ngưỡng thờ Ông Nam Hải xuất phát từ môi trường sống gắn với biển, nơi con người thường xuyên phải đối diện với sóng gió và những hiểm nguy khó lường. Việc thờ phụng Cá Ông vừa thể hiện lòng tri ân đối với vị thần được tin là cứu giúp người gặp nạn, vừa gửi gắm mong ước về những chuyến biển thuận lợi, cuộc sống no đủ và bình an.
Lễ hội đồng thời là ngày hội lớn của cộng đồng làng biển. Đây là dịp những người làm nghề biển cùng trở về sum họp, tham gia tế lễ, vui chơi và củng cố mối quan hệ cộng đồng. Không gian lễ hội nối liền Lăng Ông, làng biển và biển khơi, thể hiện mối quan hệ đặc biệt giữa con người với môi trường sinh tồn của mình.
Một giá trị nổi bật khác của lễ hội là khả năng bảo lưu nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống của vùng Nam Trung Bộ. Hò Bá trạo, hát bội, múa Siêu cùng hệ thống âm nhạc, nghi lễ và các hình thức diễn xướng dân gian cùng tồn tại trong một chỉnh thể lễ hội. Đặc biệt, Hò Bá trạo vừa mang tính nghi lễ, vừa tái hiện sinh động hoạt động lao động trên biển, trở thành một trong những dấu ấn đặc trưng nhất của Lễ hội Cầu Ngư Khánh Hòa.
Qua nhiều thế hệ, lễ hội đã trở thành nơi trao truyền tín ngưỡng, phong tục, nghệ thuật và kinh nghiệm văn hóa của cộng đồng cư dân biển; góp phần giáo dục lòng hướng về cội nguồn, tình yêu quê hương, tinh thần đoàn kết và ý chí vượt qua những khắc nghiệt của biển cả.
Theo tư liệu kiểm kê, Khánh Hòa có 50 địa điểm thờ Ông Nam Hải, phân bố tại các cộng đồng ven biển thuộc Vạn Ninh, Ninh Hòa, Nha Trang, Cam Ranh và Cam Lâm. Mặc dù có những giai đoạn việc tổ chức lễ hội bị hạn chế, các nghi thức tế tự cơ bản vẫn được cộng đồng gìn giữ và truyền lại. Ngày nay, Lễ hội Cầu Ngư tiếp tục hiện diện trong đời sống của cư dân ven biển Khánh Hòa. Từ nghi thức Nghinh Ông giữa biển khơi, tiếng hò Bá trạo, những cuộc tế lễ tại Lăng Ông đến các sinh hoạt nghệ thuật truyền thống, lễ hội thể hiện sự gắn bó lâu đời giữa cộng đồng với biển, đồng thời góp phần tạo nên bản sắc văn hóa đặc trưng của vùng duyên hải Khánh Hòa.
Nguồn ảnh: Sưu tầm