Tên di sản: Lễ hội Phài Lừa
Tên gọi khác: Hội Phài Lừa
Loại hình: Lễ hội truyền thống
Không gian thực hành: Các thôn Nà Ven, Nà Nát và phố Văn Mịch, xã Hồng Phong, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn; trọng tâm là đình Ông, đình Bà và khu vực sông Văn Mịch
Thời gian tổ chức: Ngày mùng 4 tháng Tư âm lịch, định kỳ 3 năm một lần vào năm nhuận
Đối tượng thờ phụng: Thần Rắn cùng cha mẹ nuôi của Thần Rắn
Cộng đồng thực hành: Cộng đồng người Nùng và cư dân các thôn dọc sông thuộc xã Hồng Phong; trong đó ba dòng họ Vy, Đỗ, Nông giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức và thực hành nghi lễ
Nghi thức đặc trưng: Tế Thần Rắn, rước bát hương và kiệu Thần Rắn từ đình ra bờ sông, cúng Thần Rắn tại bờ sông, rước Thần trở về đình; thi chèo bè Phài Lừa, bơi sải, lặn, lặn bắt chân vịt, múa sư tử và hát sli
Ghi danh: Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 266/QĐ-BVHTTDL ngày 30/01/2018 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Nguồn gốc và truyền thuyết Thần Rắn
Lễ hội Phài Lừa gắn với truyền thuyết về Thần Rắn và tín ngưỡng thờ Thần Sông của cộng đồng cư dân vùng sông nước xã Hồng Phong.
Theo truyền thuyết được lưu truyền tại địa phương, Thần Rắn là con nuôi của một đôi vợ chồng làm nghề đánh cá. Khi em trai của Thần bị thuồng luồng bắt, Thần Rắn đã xuống sông diệt thuồng luồng, trừ mối nguy hại và đem lại cuộc sống bình yên cho dân bản.
Ghi nhớ công ơn ấy, dân làng lập đình Ông thờ cha Thần Rắn, đình Bà thờ mẹ Thần Rắn, đồng thời dành một gian thờ nhỏ để thờ Thần Rắn. Theo lệ, cứ ba năm một lần vào năm nhuận, ngày mùng 4 tháng Tư âm lịch – thời điểm được quan niệm là Thần Rắn trở về thăm cha mẹ – cộng đồng lại tổ chức Lễ hội Phài Lừa.
Chuẩn bị lễ hội
Ngay từ đầu tháng Ba âm lịch, đại diện các thôn bản cùng các bậc cao niên thuộc ba dòng họ lâu đời Vy, Đỗ và Nông họp bàn việc tổ chức lễ hội. Đây là ba dòng họ có công xây dựng, quản lý đình và luân phiên đảm nhiệm việc tổ chức.
Ban nghi lễ có pú mo là thầy cúng chủ trì, pú hội phụ giúp thầy cúng và ba pú đình đại diện cho ba dòng họ quản lý đình. Bên cạnh đó là các trai đinh đảm nhiệm việc rước bát hương, khiêng kiệu, cầm cờ cùng những người chuẩn bị lễ vật.
Đội sư tử gồm khoảng 12–16 người, đảm nhiệm nhiều vai trò như người cầm đầu sư tử, đánh trống, đánh chiêng hoặc thanh la, cầm chũm chọe, hóa trang mặt đười ươi, mặt khỉ và biểu diễn võ thuật, đinh ba, đoản đao, gậy, nhảy bàn…
Lễ vật mang đặc trưng địa phương, trong đó đáng chú ý có xôi vang (khẩu nhuốm sa mộc) và bánh ngải (pẻng xì ngải).
Lễ tế và đón Thần Rắn về dự hội
Sáng mùng 4 tháng Tư âm lịch, các bậc cao niên cùng cư dân chín thôn dọc sông gồm Nà Ven, Khuổi Khuy, Nà Buổn, Nà Nát, Nà Háng, Nà Kít, Vằng Phja, Kim Đồng và phố Văn Mịch mang lễ vật tập trung tại đình Ông và đình Bà.
Trước bàn thờ, pú mo chỉnh đốn trang phục, thực hiện lễ tế Thần Rắn và mời Thần trở về dự hội, thăm cha mẹ nuôi cùng dân bản. Lời cầu khấn hướng tới việc khai thông sông nước, cầu cho dân bản khỏe mạnh, bình an, mùa màng bội thu, vạn vật sinh sôi và thuyền bè đầy tôm cá.
Nghi lễ này thể hiện rõ mối quan hệ giữa tín ngưỡng Thần Rắn với môi trường sông nước và đời sống sản xuất của cộng đồng.
Rước kiệu Thần Rắn
Sau lễ tế là nghi thức rước kiệu Thần Rắn. Một trai đinh đại diện dân làng thắp hương, hành lễ trước ban thờ rồi cung kính rước bát hương Thần Rắn đặt lên kiệu.
Đi đầu đoàn rước là đội sư tử, tiếp đến là cờ hội, kiệu Thần Rắn, đại diện ba dòng họ Vy, Đỗ, Nông, sau cùng là dân làng và khách dự hội.
Đoàn xuất phát từ đình Ông tới miếu Thổ Công ở phố Văn Mịch để trình diện và xin phép Thổ Công, sau đó đi quanh chợ và phố Văn Mịch theo chiều ngược kim đồng hồ.
Trên đường đoàn rước đi qua, các gia đình chuẩn bị mâm cỗ chay nghinh đón Thần Rắn, cầu mong sức khỏe, bình an và phúc lộc. Đội sư tử thực hiện những động tác bái lạy trước mâm lễ, gửi gắm mong ước về tài lộc, may mắn và làm ăn thuận lợi.
Lễ Thần Rắn bên bờ sông
Khi đoàn rước tới bờ sông, kiệu và bàn thờ Thần Rắn được đặt trong một lều tạm tượng trưng cho đình, hướng ra khu vực Pác Lọ Đảng, nơi theo truyền thuyết người em của Thần từng bị thuồng luồng bắt và cũng là nơi Thần Rắn ra đi.
Lễ vật gồm thịt lợn, gà, xôi, rượu cùng các loại bánh truyền thống. Tại đây, pú mo thực hiện lễ tế lần thứ hai, cầu xin Thần phù hộ cho các cuộc thi, trò diễn diễn ra thuận lợi và mời Thần cùng vui hội với dân bản.
Không gian thờ cúng lúc này được chuyển từ đình ra bờ sông, gắn trực tiếp nghi lễ với dòng nước – môi trường hình thành truyền thuyết và đời sống của cộng đồng.
Chèo bè Phài Lừa
Sau phần nghi lễ là các cuộc tranh tài trên sông, trong đó nổi bật nhất là chèo bè – Phài Lừa, hoạt động tưởng nhớ việc Thần Rắn xuống sông diệt thuồng luồng.
Mỗi lượt có ba đội tranh tài. Người chèo phải quỳ gối trên bè để chèo, không được ngồi, đứng hoặc chống tay xuống bè.
Mỗi đội chèo ba vòng. Đặc biệt ở vòng cuối, khi tới trước cửa đình, các tay chèo phải lật bè ba lần nhưng người không được rơi xuống nước và đầu không được ướt. Động tác này tượng trưng cho sự vặn mình của Thần Rắn khi giao chiến với thuồng luồng.
Vì vậy, chèo bè không đơn thuần là cuộc thi sức khỏe và kỹ năng trên sông mà còn là một hình thức tái hiện truyền thuyết trong không gian lễ hội.
Những cuộc thi trên sông
Cùng với chèo bè, lễ hội còn tổ chức bơi sải (vải và), thi lặn (mửn) và lặn bắt chân vịt (mửn cặp kha pất). Các nội dung được tổ chức thành nhiều lượt với các đội đại diện cho những thôn bản tham gia tranh tài.
Những cuộc thi đòi hỏi sức khỏe, khả năng bơi lội và kỹ năng thích ứng với môi trường sông nước, qua đó phản ánh những tri thức và năng lực gắn với cuộc sống lâu đời của cư dân địa phương bên các dòng sông.
Múa sư tử và hát sli
Múa sư tử (loỏng phụ) là một thành tố nổi bật khác của lễ hội, tượng trưng cho sức mạnh, sự thịnh vượng, phát đạt, thuận lợi và hạnh phúc. Đội sư tử vừa tham gia đoàn rước vừa thực hiện các nghi thức trước những mâm lễ của người dân.
Bên bờ sông và quanh khu vực hội còn vang lên những làn điệu sli của người Nùng. Nam nữ tập trung thành từng nhóm để hát đối đáp. Có hình thức đơn sli – một nam hát với một nữ – và song sli với từ hai đôi nam nữ trở lên.
Hát sli tạo không gian giao lưu giữa nam nữ thanh niên, giúp họ kết bạn, tìm hiểu nhau, đồng thời tăng thêm không khí vui tươi và gắn kết cộng đồng trong ngày hội.
Nghi thức kết thúc lễ hội
Khi các trò thi và diễn xướng kết thúc, pú mo cùng đại diện ba dòng họ Nông, Đỗ, Vy và đội sư tử thực hiện nghi thức đưa bát hương Thần Rắn trở lại đình Ông, đình Bà.
Tại đình, các vị đại diện báo cáo kết quả tổ chức lễ hội và làm lễ tiễn Thần Rắn. Lễ hội khép lại bằng bài múa bái lạy của đội sư tử, hoàn tất chu trình từ đón Thần, rước Thần ra sông, cùng Thần vui hội đến tiễn Thần trở về.
Giá trị của Lễ hội Phài Lừa
Giá trị tín ngưỡng: Lễ hội bảo lưu tín ngưỡng thờ Thần Rắn, Thần Sông, thể hiện niềm tin của cộng đồng vào sự che chở của các lực lượng thiêng gắn với môi trường sông nước.
Giá trị văn hóa sông nước: Các nghi thức rước Thần ra bờ sông cùng chèo bè, bơi, lặn và lặn bắt chân vịt phản ánh rõ môi trường sống, kinh nghiệm và đời sống văn hóa của cộng đồng cư dân gắn bó lâu đời với sông nước.
Giá trị nông nghiệp: Lễ hội chứa đựng những lớp nghi lễ cầu mưa, cầu nước, cầu mùa, thể hiện mong ước mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, vật nuôi sinh sôi và cuộc sống no đủ.
Giá trị diễn xướng: Chèo bè Phài Lừa với nghi thức lật bè ba lần, múa sư tử và hát sli tạo nên hệ thống trò diễn đặc sắc, trong đó truyền thuyết, tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng được thể hiện bằng những hình thức diễn xướng cụ thể.
Giá trị văn hóa tộc người: Những thuật ngữ nghi lễ, lễ vật, hát sli, múa sư tử và phương thức tổ chức lễ hội lưu giữ nhiều nét văn hóa đặc trưng của cộng đồng người Nùng tại địa phương.
Giá trị cộng đồng: Sự tham gia của chín thôn dọc sông, ba dòng họ Vy, Đỗ, Nông cùng các bậc cao niên, trai đinh, đội sư tử và người dân cho thấy lễ hội là một sinh hoạt chung có khả năng liên kết các thôn bản và dòng họ.
Giá trị giáo dục truyền thống: Truyền thuyết Thần Rắn diệt thuồng luồng cùng việc tưởng nhớ những người có công lập bản, lập làng thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, đồng thời đề cao lòng dũng cảm và tinh thần vượt qua những khắc nghiệt của thiên nhiên.
Giá trị trao truyền: Việc các dòng họ luân phiên tổ chức, các bậc cao niên tham gia nghi lễ và thế hệ trẻ trực tiếp rước kiệu, chèo bè, bơi lặn, múa sư tử, hát sli giúp tri thức và tập quán của lễ hội tiếp tục được thực hành và truyền lại.
Lễ hội Phài Lừa là một sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng đặc sắc của cộng đồng cư dân vùng sông nước xã Hồng Phong, nơi truyền thuyết Thần Rắn hòa quyện với tín ngưỡng Thần Sông, nghi lễ cầu nước và những hình thức sinh hoạt truyền thống của người Nùng. Từ đoàn rước đưa Thần Rắn từ đình ra bờ sông đến cuộc thi chèo bè với động tác lật bè ba lần mô phỏng Thần Rắn vặn mình diệt thuồng luồng, mỗi nghi thức và trò diễn đều gắn chặt với ký ức, môi trường sống và ước vọng của cộng đồng. Qua lễ hội, người dân gửi gắm mong muốn sông nước hiền hòa, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, thuyền bè đầy tôm cá, mọi nhà khỏe mạnh và bình an. Với những giá trị tiêu biểu đó, Lễ hội Phài Lừa được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 266/QĐ-BVHTTDL ngày 30/01/2018.
Nguồn ảnh: Sưu tầm