Lễ hội Thổ Hà – Làng cổ Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh

Lễ hội Thổ Hà – Làng cổ Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh

Thông tin cơ bản

Thời gian

Lễ hội Thổ Hà được tổ chức từ ngày 20 đến ngày 22 tháng Giêng hằng năm.

Địa điểm tổ chức

Đình Thổ Hà – Làng cổ Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh

Nhân vật thờ tự

Đình thờ thành hoàng là Thái Thượng Lão Quân, còn gọi là Lão Đam hoặc Lão Tử. Đây là vị thần có gốc ở Trung Quốc, nhưng có lẽ do nghề chính của Thổ Hà thành bại đều trông ở đốt lửa nung lò chum vại, gần với sự tích Lão Quân trông lò bát quái trên thiên đình.

Kiến trúc đình Thổ Hà

Đình Thổ Hà là một công trình kiến trúc nổi tiếng của vùng Kinh Bắc, được xây dựng vào năm 1692, dưới triều vua Lê Hy Tông. Ngôi đình nằm trên khu đất rộng khoảng 3.000m² và được biết đến với nghệ thuật điêu khắc tinh xảo, mang đậm dấu ấn thời kỳ Lê. Trước đây, chính quyền Pháp từng đưa đình Thổ Hà vào danh mục của Viện Bảo tàng Bác Cổ Đông Dương. Đình thờ Thành Hoàng là Lão Tử cùng tổ nghề gốm là Đào Trí Tiến. Đây là ngôi đình cổ thứ hai của tỉnh Bắc Giang, chỉ sau đình Lỗ Hạnh (xây dựng năm 1576).

Đình Thổ Hà không chỉ là một công trình kiến trúc có quy mô lớn mà còn là không gian văn hóa – tâm linh tiêu biểu của người Việt. Toàn bộ kết cấu kiến trúc của đình vẫn được bảo tồn khá nguyên vẹn. Các mảng chạm khắc mang phong cách nghệ thuật thời Lê với những hình tượng quen thuộc như “tứ linh”, “tứ quý”, hoa lá, chim thú và con người. Đặc biệt, hình tượng rồng được thể hiện phong phú trên nhiều bộ phận như đầu dư, bẩy, kẻ, cốn, ván nong, câu đầu… với các đề tài sinh động như rồng mẹ cõng rồng con, rồng ổ, hay rồng bên thiếu nữ.

Đình gồm ba phần chính: tiền tế, đại đình và hậu cung. Nghệ thuật chạm khắc tại đây vô cùng tinh vi, thể hiện qua các kỹ thuật chạm lộng, chạm nổi, chạm kênh bong đầy tính nghệ thuật và sáng tạo.

Chính nhờ giá trị kiến trúc và nghệ thuật đặc sắc, đình Thổ Hà được giới nghiên cứu xem là “bảo tàng nghệ thuật kiến trúc cổ” của Việt Nam. Năm 1964, công trình này đã được công nhận là Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia.

Kiến trúc chùa Thổ Hà

Chùa Thổ Hà, còn gọi là Đoan Minh Tự, là một ngôi chùa cổ có lịch sử lâu đời. Hiện chưa xác định chính xác năm xây dựng, nhưng căn cứ vào các văn tự khắc trên hiện vật trong chùa cho thấy: năm Giáp Thân (1584) chùa đã có việc mua rồng đá, và đến năm Canh Thân (1610) được trùng tu lại. Điều đó chứng tỏ chùa đã được dựng nên từ rất sớm.

Trải qua thời gian và chiến tranh, chùa ngày nay không còn giữ nguyên dáng vẻ ban đầu. Gác chuông của chùa bị phá hủy trong kháng chiến năm 1946. Kiến trúc hiện tại được xây dựng lại theo kiểu “nội công ngoại quốc” với quy mô lớn, gồm: tòa tiền đường 5 gian 2 chái, thượng điện 5 gian, tòa mặt động 5 gian 2 chái, hai dãy hành lang mỗi bên 10 gian, cùng nhà Tổ 6 gian 2 chái nằm phía sau tòa Tam Bảo, ngăn cách bởi một sân gạch. Bên trong Tam Bảo có hệ thống tượng Phật, hoành phi, câu đối được sơn son thếp vàng rất trang nghiêm và đẹp mắt.

Kiến trúc chùa nổi bật với tam quan, gác chuông và tiền đường chạm trổ tinh xảo, mang đề tài rồng mây, hoa lá. Tam quan nằm ngay phía sau đình làng. Trong thời kỳ kháng chiến, quả chuông lớn trong gác chuông được sử dụng để đúc vũ khí. Hiện trong chùa vẫn còn pho tượng Phật Tổ Như Lai uy nghi và tượng Phật Bà Quan Âm ngồi trên đài sen.

Từ tòa Tam Bảo, men theo hai dãy hành lang sẽ đến Động Tiên – một công trình kiến trúc đặc biệt, tái hiện hành trình của Đức Phật Thích Ca từ khi đản sinh, trưởng thành, rời bỏ kinh thành tu hành đến khi đắc đạo. Tiếp nối là khu nhà Tổ, nơi thờ các vị sư tổ và trụ trì qua các thời kỳ.

Với giá trị lịch sử và nghệ thuật đặc sắc, chùa Thổ Hà đã được công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia năm 1996.

Từ chỉ Thổ Hà

Từ chỉ làng Thổ Hà được xây dựng trên khu đất rộng khoảng 170 m², quay về hướng Tây – Nam. Ban đầu, công trình nằm cạnh chùa của làng, nhưng đến năm 1794 mới được dời đến vị trí hiện nay.

Kiến trúc của từ chỉ gồm hai phần chính: tòa Tiền từ có 5 gian và tòa Hậu cung gồm 3 gian. Bên trong, từ chỉ thờ tượng Khổng Tử và lưu giữ 8 tấm bia đá ghi tên 70 vị phủ sinh tiên hiền cùng những người đã đóng góp công sức, tiền của để xây dựng và trùng tu di tích.

Các bia đá này có niên đại khác nhau, bia sớm nhất được lập vào năm Vĩnh Trị thứ 5 (1680) và muộn nhất vào năm Tự Đức thứ 9 (1850). Với giá trị lịch sử và nghệ thuật đặc sắc, Từ chỉ Thổ Hà đã được công nhận là Di tích nghệ thuật vào năm 1994.

Lễ hội

Lễ hội làng Thổ Hà gồm hai phần chính là phần lễ và phần hội.

Trong phần lễ, điểm nổi bật nhất là lễ rước kiệu được tổ chức long trọng. Các đoàn rước xuất phát từ các xóm, thôn trong làng, quy tụ hàng trăm người – nam thanh nữ tú trong trang phục truyền thống rực rỡ. Đặc biệt, trong đoàn rước có sự xuất hiện của bộ Tam Đa Phúc – Lộc – Thọ, biểu trưng cho may mắn, thịnh vượng và trường thọ, cùng cặp Tiên đồng – Ngọc nữ do người dân hóa trang thể hiện. Dẫn đầu đoàn là đội múa lân, theo sau là đội nhạc bát nhã với trống, kèn, nhị, thanh la… tạo nên không khí sôi động, rộn ràng sắc màu và âm thanh. Sau ba ông Phúc – Lộc – Thọ là các nhân vật Tổng Cờ, Tổng Kiếm, Tổng Tiết, Tổng Chiêng, tượng trưng cho các đoàn quân.

Tiếp đó là đoàn rước kiệu Thánh, kiệu Mẫu cùng bàn thờ ngai vị, đi kèm đội múa sinh tiền. Lễ vật dâng Thánh đặc sắc nhất là một con bò thui được phủ lụa đỏ, ngoài ra còn có nhiều lễ vật do các dòng họ, gia đình, xóm làng cùng dâng tiến. Mặc dù quãng đường rước từ các xóm đến đình làng chỉ vài trăm mét, song đoàn rước phải mất khoảng hai giờ mới hoàn thành do có nhiều nghi thức truyền thống. Khi đoàn rước đến nơi, chủ tế trong trang phục cổ truyền đứng ở bậc tam cấp để đón. Sau khi ổn định đội hình, nghi lễ tế Thánh được cử hành trang nghiêm, thể hiện lòng thành kính của dân làng, cầu mong Thánh ban phúc cho một năm mới an khang, thịnh vượng, yên vui.

Phần hội diễn ra sau đó cũng rộn ràng và giàu bản sắc không kém. Nhiều trò chơi dân gian truyền thống được tổ chức như chọi gà, bơi trải, đấu vật, chơi cờ, chèo thuyền bắt vịt…, trong đó hát quan họ là hoạt động đặc sắc nhất. Làng Thổ Hà vốn được xem là một trong những cái nôi của quan họ cổ, nên vào dịp lễ hội, các liền anh, liền chị từ trong vùng và tỉnh Bắc Ninh đều tụ hội về hát thâu đêm suốt sáng tại sân đình hay trên thuyền. Du khách có thể hòa mình vào không khí xuân rộn ràng, chiêm ngưỡng những liền anh liền chị trong trang phục truyền thống – áo mớ ba, mớ bảy, nón quai thao, khăn xếp – say sưa cất giọng trong những làn điệu trữ tình, sâu lắng.

Tài liệu tham khảo

  1. Đỗ Tuấn Khoa, 2021, Cửa võng đình Thổ Hà báu vật bên bờ sông Cầu, Tạp chí Di sản số 467 tháng 7-2021.
  2. Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa làng cổ Thổ Hà gắn với phát triển du lịch, Nxb Hà Nội, 2018.
  3. Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, Hồ sơ đề nghị quốc gia: Cụm vùng đình Thổ Hà trình Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, 2020.
  4. UBND xã Vân Hà, Vân Hà xưa và nay, 1996.
  5. Nguyễn Văn Phong, Gốm Thổ Hà Bắc Giang, Nxb Thông tấn, 2016.
  6. Sở Văn hóa Thông tin Bắc Giang, Lễ hội Bắc Giang, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2002.
  7. Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, Di sản văn hóa làng cổ Thổ Hà, Nxb Văn hóa dân tộc, 2018

Ngôn ngữ khác 

Tiếng Anh

Tho Ha Festival – Tho Ha Ancient Village, Van Ha Ward, Bac Ninh Province

Time

The Tho Ha Festival is held annually from the 20th to the 22nd day of the first lunar month.

Venue

Tho Ha Communal House – Tho Ha Ancient Village, Van Ha Ward, Bac Ninh Province

Honored Deity

The communal house venerates the village tutelary god Tai Thuong Lao Quan, also known as Lao Dam or Lao Tu (Laozi). Although this deity originates from China, it is believed that the villagers adopted him due to the local craft of firing pottery kilns—a practice associated with Lao Quan tending the Eight Trigram Furnace in the heavenly court.

Architecture

Tho Ha Communal House

Tho Ha Communal House is a renowned architectural structure of the Kinh Bac region. It was built in 1692 during the reign of King Le Hy Tong. Situated on a plot of about 3,000 m², it is famous for its exquisite carvings typical of the Le dynasty. During the French colonial period, the communal house was included in the catalog of the École Française d’Extrême-Orient (EFEO).

The communal house worships the village tutelary deity Lao Tu and Dao Tri Tien, the founding ancestor of Tho Ha’s pottery craft. It is considered the second oldest communal house in Bac Giang Province, after Lo Hanh Communal House (built in 1576).

Not only is it a grand architectural structure, but it also serves as an important cultural and spiritual space for the Vietnamese. Its architectural layout remains largely intact. Carvings here reflect the Le artistic style with motifs of the Four Sacred Creatures (dragon, phoenix, kylin, tortoise), the Four Seasons, flowers, plants, animals, and human figures.

Notably, the dragon motif appears in abundance on various structural parts such as tie beams, brackets, struts, relief panels, and main beams. Themes include the mother dragon carrying her child, dragon nests, and dragons depicted alongside maidens.

The communal house comprises three main sections:

  • the Front Hall (Tien Te),

  • the Main Sanctuary (Dai Dinh),

  • and the Rear Sanctuary (Hau Cung).

The carving techniques are sophisticated, featuring openwork carving, high relief, and deep-relief carving, showcasing great craftsmanship.

Due to its exceptional architectural and artistic value, Tho Ha Communal House is regarded by researchers as a “museum of ancient architectural art” in Vietnam. In 1964, it was recognized as a National Historical and Scenic Relic.

Tho Ha Pagoda

Tho Ha Pagoda, also known as Doan Minh Tu, is an ancient pagoda with a long history. Its exact construction date is unknown, but inscriptions on relics indicate that stone dragons were purchased in 1584 (the year Giap Than) and the pagoda was renovated in 1610 (the year Canh Than), proving its very early establishment.

Due to time and war, the pagoda no longer retains its original form. Its bell tower was destroyed during the 1946 resistance war. The current architecture was rebuilt in the “inner I, outer 工” layout, consisting of:

  • a five-bay front hall with two side extensions,

  • a five-bay upper hall,

  • a five-bay façade hall with two side extensions,

  • two corridors with ten bays each,

  • and a six-bay ancestral hall behind the Triple Gem Sanctuary, separated by a brick courtyard.

Inside the Tam Bao are Buddha statues, horizontal boards, and parallel sentences, all lacquered and gilded, creating a solemn atmosphere.

The pagoda’s architecture stands out with its three-entrance gate (tam quan), bell tower, and front hall adorned with refined carvings of dragons, clouds, flowers, and foliage. The tam quan lies right behind the communal house. During wartime, the large bell in the bell tower was melted down for weapon-making. The pagoda still preserves the majestic statue of the Buddha Tathagata and the statue of Avalokitesvara seated on a lotus throne.

From the Tam Bao, visitors can follow the corridors to reach Tien Cave, a unique architectural space illustrating the life journey of Siddhartha Gautama—from birth, to enlightenment, to becoming the Buddha. Beyond it lies the ancestral hall, dedicated to generations of abbots.

In recognition of its historical and artistic value, Tho Ha Pagoda was designated a National Cultural and Historical Relic in 1996.

Tho Ha Temple (Tu Chi)

Tho Ha Village Temple was built on a plot of about 170 m², facing southwest. Originally located next to the village pagoda, it was moved to its present location in 1794.

Its architecture consists of two main buildings:

  • the Front Temple (Tien Tu) with five bays,

  • and the Rear Sanctuary (Hau Cung) with three bays.

Inside, the temple enshrines a statue of Confucius and preserves eight stone steles bearing the names of 70 local scholars as well as individuals who contributed to the construction and restoration of the site.

These steles date from various periods, with the earliest erected in the 5th year of Vinh Tri (1680) and the latest in the 9th year of Tu Duc (1850). In 1994, Tho Ha Temple was recognized as an Artistic Relic.

The Festival

The Tho Ha Village Festival consists of two main parts: the ceremonial rites and the festive activities.

Ceremonial Rites

The highlight is the grand palanquin procession. Processions depart from the village hamlets, gathering hundreds of participants — young men and women dressed in vibrant traditional costumes.

Special characters appear in the procession, including the Three Deities of Fortune – Prosperity – Longevity (Phuc – Loc – Tho) and the pair Tien Dong – Ngoc Nu, portrayed through folk masquerade. Leading the procession is the lion dance troupe, followed by the bat nha musical ensemble with drums, clarinets, fiddles, and cymbals, creating a lively and colorful atmosphere.

Behind the Three Deities are symbolic figures—Tong Co, Tong Kiem, Tong Tiet, Tong Chieng, representing various military formations.

Next comes the palanquin procession of the Saint and the Mother Goddess, along with the ancestral altar, accompanied by the sinh tien dance team. The most remarkable offering is a roasted ox covered with red silk. Other offerings are contributed by village clans, families, and hamlets.

Although the distance from the hamlets to the communal house is only a few hundred meters, the procession lasts about two hours due to numerous traditional rituals. Upon arrival, the chief officiant in traditional attire stands on the communal house steps to receive the procession. After formation is arranged, the solemn ritual of worship begins, expressing villagers’ reverence and prayers for peace, prosperity, and well-being in the new year.

Festive Activities

The festival’s entertainment segment is equally vibrant, featuring traditional folk games such as:

  • cockfighting,

  • boat racing,

  • wrestling,

  • chess,

  • rowing to catch ducks, etc.

The most distinctive activity is Quan ho folk singing. Tho Ha is considered one of the cradles of ancient Quan ho, so during the festival, lien anh and lien chi from the village and across Bac Ninh gather to sing overnight at the communal yard or on boats. Visitors can immerse themselves in the springtime atmosphere, watching singers in traditional attire—mo ba, mo bay tunics, non quai thao hats, and khan xep headscarves—performing lyrical, soulful melodies.

References

  1. Đỗ Tuấn Khoa, 2021, Cửa võng đình Thổ Hà báu vật bên bờ sông Cầu, Tạp chí Di sản số 467 tháng 7-2021.
  2. Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa làng cổ Thổ Hà gắn với phát triển du lịch, Nxb Hà Nội, 2018.
  3. Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, Hồ sơ đề nghị quốc gia: Cụm vùng đình Thổ Hà trình Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, 2020.
  4. UBND xã Vân Hà, Vân Hà xưa và nay, 1996.
  5. Nguyễn Văn Phong, Gốm Thổ Hà Bắc Giang, Nxb Thông tấn, 2016.
  6. Sở Văn hóa Thông tin Bắc Giang, Lễ hội Bắc Giang, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2002.
  7. Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, Di sản văn hóa làng cổ Thổ Hà, Nxb Văn hóa dân tộc, 2018

Tiếng Pháp

Fête de Tho Ha – Village ancien de Tho Ha, quartier Van Ha, province de Bac Ninh

Période

La fête de Tho Ha a lieu chaque année du 20 au 22 du premier mois lunaire.

Lieu

Temple communal de Tho Ha – Village ancien de Tho Ha, quartier Van Ha, province de Bac Ninh.

Divinité honorée

Le temple communal vénère le génie tutélaire Thai Thuong Lao Quan, également appelé Lao Dam ou Lao Tu (Laozi). Cette divinité d’origine chinoise est associée au métier traditionnel de Tho Ha, où la réussite dépendait du feu utilisé pour la cuisson des jarres et des poteries, rappelant la légende de Lao Quan gardant le four du bagua au Ciel.

Architecture

Temple communal de Tho Ha

Le temple communal de Tho Ha est l’un des ouvrages architecturaux les plus remarquables de la région de Kinh Bac. Il a été construit en 1692, sous le règne du roi Le Hy Tong. Situé sur une parcelle d’environ 3 000 m², il est réputé pour ses sculptures raffinées caractéristiques de l’art de l’époque des Le postérieurs.

Sous la période coloniale, l’administration française avait inscrit le temple dans la liste du Musée de l’École française d’Extrême-Orient. Le temple vénère le génie tutélaire Lao Tu ainsi que Dao Tri Tien, l’ancêtre du métier de la poterie. Il s’agit du deuxième temple communal le plus ancien de la province de Bac Giang, après celui de Lo Hanh (construit en 1576).

Le temple n’est pas seulement un édifice de grande ampleur : il représente également un espace culturel et spirituel majeur des Vietnamiens. L’ensemble de sa structure architecturale est remarquablement conservé. Les panneaux sculptés reflètent le style artistique des Le, avec des motifs familiers tels que les “quatre animaux sacrés”, les “quatre saisons”, fleurs, oiseaux, animaux et personnages.

Le dragon est particulièrement présent, sculpté sur de nombreux éléments : consoles, poutres, linteaux, panneaux, avec des scènes vivantes comme la mère dragon portant son petit, le nid de dragons ou encore le dragon aux côtés d’une jeune femme.

Le temple se compose de trois parties principales : le Tien Te (salle avant), le Dai Dinh (salle principale) et le Hau Cung (sanctuaire). L’art de la sculpture y atteint un niveau exceptionnel grâce aux techniques du relief profond, du relief ajouré et du modelé creux, illustrant une grande créativité.

En raison de sa valeur historique et artistique exceptionnelle, le temple communal de Tho Ha est considéré par les chercheurs comme un “musée de l’architecture ancienne vietnamienne”. En 1964, il a été reconnu vestige historique et paysage national.

Pagode de Tho Ha

La pagode de Tho Ha, également appelée Doan Minh Tu, est l’une des pagodes anciennes de la région. Bien que la date exacte de sa construction reste inconnue, les inscriptions retrouvées sur ses objets indiquent que des sculptures de dragons en pierre furent acquises en 1584, et que la pagode fut restaurée en 1610, ce qui prouve son existence très ancienne.

Avec le temps et les guerres, la pagode a perdu son apparence d’origine. Le clocher a été détruit en 1946 pendant la résistance. L’architecture actuelle, de grande envergure, est construite selon le style “noi cong ngoai quoc” (plan en forme de 工 – intérieur et 国 – extérieur), comprenant :

  • une salle avant de 5 travées et 2 ailes,

  • un sanctuaire supérieur de 5 travées,

  • un bâtiment arrière de 5 travées et 2 ailes,

  • deux couloirs latéraux de 10 travées chacun,

  • une maison des Patriarches de 6 travées et 2 ailes derrière la salle du Tam Bao, séparée par une cour pavée.

À l’intérieur du Tam Bao se trouvent des statues du Bouddha, des panneaux et sentences parallèles dorés, d’une grande solennité.

L’architecture de la pagode se distingue par son porte principale (tam quan), son clocher et sa salle avant, décorés de sculptures de dragons, nuages et motifs floraux. Le grand bourdon du clocher fut fondu pour fabriquer des armes durant la guerre. La pagode conserve encore une statue majestueuse du Bouddha Shakyamuni et une statue de la Bodhisattva Avalokiteshvara assise sur un lotus.

Depuis le Tam Bao, un passage bordé de deux couloirs mène à la grotte Tien, ouvrage architectural unique retraçant la vie de Shakyamuni : naissance, jeunesse, renoncement, ascèse et illumination. Suit la maison des Patriarches, dédiée aux maîtres et abbés successifs.

En 1996, la pagode de Tho Ha a été reconnue vestige historique et culturel national.

Temple confucéen (Tu chi) de Tho Ha

Le Tu chi du village de Tho Ha est bâti sur un terrain d’environ 170 m², orienté sud-ouest. À l’origine situé à côté de la pagode, il fut déplacé à son emplacement actuel en 1794.

Le bâtiment comprend deux parties :

  • le Tien Tu (maison avant) avec 5 travées,

  • le Hau Cung (sanctuaire) avec 3 travées.

Le temple abrite une statue de Confucius et conserve 8 stèles portant les noms de 70 érudits et bienfaiteurs ayant contribué à la construction et aux restaurations du site.

Les stèles datent de périodes différentes : la plus ancienne remonte à la 5ᵉ année de Vinh Tri (1680), et la plus récente à la 9ᵉ année de Tu Duc (1850). Grâce à sa valeur historique remarquable, le Tu chi de Tho Ha a été reconnu vestige artistique en 1994.

La Fête

La fête du village de Tho Ha comporte deux parties : la cérémonie rituelle et les festivités populaires.

La cérémonie

L’élément le plus marquant est la procession des palanquins, organisée solennellement. Les cortèges partent des hameaux du village, rassemblant des centaines d’habitants en costumes traditionnels éclatants. Figurent dans la procession les divinités symboliques Phuc – Loc – Tho (bonheur – prospérité – longévité) et le couple Tien dong – Ngoc nu, interprétés par les villageois. En tête défile une troupe de danse du lion, suivie d’un orchestre de musique rituelle.

Viennent ensuite Tong Co, Tong Kiem, Tong Tiet et Tong Chieng, symbolisant les troupes militaires.

La procession comprend également les palanquins du Saint et de la Déesse-Mère, accompagnés d’une troupe de danse Sinh tien. L’offrande la plus impressionnante est un bœuf rôti entier recouvert d’un tissu rouge, ainsi que de nombreuses offrandes des lignages, familles et hameaux.

Bien que la distance entre les hameaux et le temple communal soit courte, la procession dure environ deux heures en raison des nombreuses étapes rituelles. À l’arrivée, le maître de cérémonie en habit traditionnel accueille les cortèges. Une fois les formations stabilisées, la cérémonie d’offrande au Saint est célébrée avec solennité, exprimant les vœux d’une année paisible, prospère et harmonieuse.

Les festivités

Après la cérémonie, les festivités sont tout aussi animées, avec des jeux traditionnels : combats de coqs, courses de bateaux, lutte, échecs, navigation pour attraper des canards…

Le moment le plus attendu est le chant Quan ho. Tho Ha est l’un des berceaux du quan ho ancien ; à l’occasion de la fête, les chanteurs et chanteuses de la région se réunissent pour chanter toute la nuit sur la cour du temple ou dans les barques. Les visiteurs peuvent admirer les lien anh et lien chi en costumes traditionnels – ao mo ba, mo bay, non quai thao, khan xep  interprétant des mélodies douces et lyriques.

Références

  1. Đỗ Tuấn Khoa, 2021, Cửa võng đình Thổ Hà báu vật bên bờ sông Cầu, Tạp chí Di sản số 467 tháng 7-2021.
  2. Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa làng cổ Thổ Hà gắn với phát triển du lịch, Nxb Hà Nội, 2018.
  3. Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, Hồ sơ đề nghị quốc gia: Cụm vùng đình Thổ Hà trình Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, 2020.
  4. UBND xã Vân Hà, Vân Hà xưa và nay, 1996.
  5. Nguyễn Văn Phong, Gốm Thổ Hà Bắc Giang, Nxb Thông tấn, 2016.
  6. Sở Văn hóa Thông tin Bắc Giang, Lễ hội Bắc Giang, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2002.
  7. Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, Di sản văn hóa làng cổ Thổ Hà, Nxb Văn hóa dân tộc, 2018

Ngôn ngữ khác 

Tiếng Trung

土河節——北寧省雲河坊土河古村

時間

土河節每年農曆正月二十日至二十二日舉行。

舉辦地點

土河亭——北寧省雲河坊土河古村。

祭祀人物

土河亭奉祀村之城隍 太上老君,又稱 老聃 或 老子。此神祇源於中國,但由於土河居民世代以陶業為主,其成敗皆依賴燒火煅窯,與傳說中老君在天庭看守八卦爐之事頗為契合。

建築

土河亭

土河亭是京北地區著名的古建築之一,建於 1692 年,時屬 黎熙宗(Le Hy Tong)朝。亭院佔地約 3,000 平方公尺,以其精湛的雕刻藝術而聞名,具有明顯後黎時期的藝術風格。

殖民時期,法國政府曾將土河亭列入 法國遠東學院博物館名錄。亭中除奉祀老子外,亦祭祀陶業始祖 陶智進(DAO TRI TIEN)。此亭為北江省第二古老之亭,僅次於建於 1576 年的魯杏亭。

土河亭不僅規模宏大,更是越南人重要的文化與信仰空間。亭之整體建築保存完好,雕刻圖案採後黎風格,包括“四靈”、“四季”、花鳥、禽獸與人物形象。

其中龍的表現尤其豐富,分佈於撐拱、瓜栱、科梁、欄板、前樑等部位,並呈現「母龍負子」、「龍巢」、「龍與少女」等富動感的題材。

亭分三部分:前殿、正亭、大殿與後宮。其雕刻技法精巧,採用鏤空、浮雕、透雕等多種高超工藝,極具藝術價值。

因其卓越的藝術與建築價值,土河亭被學界稱為越南的 “古建築藝術博物館”。1964 年被認定為 國家級歷史與名勝古蹟。

土河寺

土河寺又名 端明寺(Doan Minh Tu),歷史悠久。雖無確切建造年代,但寺中石碑記載:

  • 1584 年(甲申) 曾購置石雕龍,
  • 1610 年(庚申) 寺院曾修繕,

    顯示寺院建立甚早。

經歲月與戰爭洗禮,寺貌不再如昔。1946 年抗戰時寺之鐘樓被毀。現存建築依「內工外國」格局重建,規模宏大,包括:

  • 五間兩廂的前殿,
  • 五間的上殿,
  • 五間兩廂的後殿,
  • 兩側各十間的遊廊,
  • 位於三寶殿後、以磚院相隔之六間兩廂祖屋。

三寶殿內供奉佛像、匾聯、對聯,皆施金漆,莊嚴華美。

寺院建築以 山門(三關)、鐘樓 和 前殿 最具特色,雕飾龍雲、花草等圖案。抗戰時,大鐘被熔鑄為武器。寺中仍保存威儀肅穆的 釋迦牟尼佛像及坐蓮台上的 觀音菩薩像。

自三寶殿沿兩側遊廊可至 仙洞(Dong Tien)——一特別建築,重現釋迦牟尼從誕生、出家修行至成道的歷程。其後為 祖殿,供奉歷代祖師與住持。

土河寺於 1996 年 被認定為 國家級歷史文化遺跡。

土河祠(Tu chi)

土河祠建於佔地約 170 平方公尺之地,朝向西南。原位於寺旁,1794 年移至現址。

祠包括兩部分:

  • 前祠(Tien Tu) 5 間,
  • 後宮(Hau Cung) 3 間。

祠內供奉 孔子,並保存 八通石碑,記載 70 位府生、先賢及對建祠、修祠有功人士。

石碑年代不一,最早為 永治五年(1680),最晚為 嗣德九年(1850)。因其歷史與藝術價值,土河祠於 1994 年 被認定為 藝術類遺跡。

節會

土河節包括兩部分:儀式與民俗遊樂。

儀式

最重要者為 盛大的擡轎巡遊。隊伍自村各鄉、坊出發,數百人盛裝參與。巡遊隊中有象徵吉祥的 福–祿–壽 三神(Tam Da)及 仙童–玉女(Tien dong – Ngoc nu),由村民扮演。

隊伍前有舞獅,後隨八音雅樂,敲鑼擊鼓、管弦齊鳴,場面熱鬧。

其後為 總旗、總劍、總節、總鉦 等人物,象徵古代軍陣。

再後是 聖轎、母轎與神位案,並伴以 生錢舞隊。最具特色的供品是 整頭紅布覆蓋的烤牛,此外尚有各宗族、各家戶、各坊村所進獻之祭品。

雖然巡遊路程僅數百米,但因儀式繁複,需時約兩小時。

抵達亭前後,由身着古禮服的主祭於臺階迎接。隊伍排定後舉行 祭聖大典,祈願新年平安、興旺、和樂。

民俗活動

儀式後為熱鬧的民間盛會,包括:

  • 鬥雞
  • 划船
  • 摔跤
  • 下棋
  • 撐船捉鴨

其中最具特色者為 官賀(Quan ho)對唱。土河乃古官賀之一大源頭,因此節會之時,四方 令兄、令姐皆來會集,通宵於亭前或舟上對唱。

遊客可欣賞身穿 三襲七襲襦裙、掛帶斗笠、盤巾 的歌者,唱出綿柔深情的官賀曲調。

參考資料

  1. Đỗ Tuấn Khoa, 2021, Cửa võng đình Thổ Hà báu vật bên bờ sông Cầu, Tạp chí Di sản số 467 tháng 7-2021.
  2. Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa làng cổ Thổ Hà gắn với phát triển du lịch, Nxb Hà Nội, 2018.
  3. Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, Hồ sơ đề nghị quốc gia: Cụm vùng đình Thổ Hà trình Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, 2020.
  4. UBND xã Vân Hà, Vân Hà xưa và nay, 1996.
  5. Nguyễn Văn Phong, Gốm Thổ Hà Bắc Giang, Nxb Thông tấn, 2016.
  6. Sở Văn hóa Thông tin Bắc Giang, Lễ hội Bắc Giang, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2002.
  7. Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, Di sản văn hóa làng cổ Thổ Hà, Nxb Văn hóa dân tộc, 2018

Ngôn ngữ khác 

Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện chốn thiêng (6)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)