Ba Phi (1884 – 1964)

Thông tin cơ bản

Khái quát

Từ xa, tiếng cọp um nghe đến rợn người, tưởng chừng lay động cả bóng trăng xanh. Những ngọn khói đốt đồng vẫn còn nghi ngút. Ánh lửa đang sáng bập bùng trước sân nhà Tư Ứng. Bất chấp ngày mai đói no, những nông dân chân lấm tay bùn vẫn hào hứng vây quanh chàng thanh niên mới trốn về từ nước Pháp hoa lệ xa xôi… Tiếng cười vẫn không ngớt vọng lên. Không cười sao được khi “thằng chả” kể chuyện có duyên quá chừng.

 – Đêm hôm đó, lúc tôi đang xay lúa, bỗng nghe hơi cọp, liền biết “ông thầy” đang rình bên ngoài. Nhờ biết trước tôi vừa xay lúa vừa thủ thế. Quả nhiên trong chớp mắt, cọp nhào vô chụp tôi. Tôi né sang một bên. Ai ngờ, cọp lỡ đà vướng hai chân vào giằng xay, thế là nó sa đà theo cái cối đang quay. Thấy vậy, tôi hối “bà xã” xúc lúa đổ vô cối. Đợi đến lúc cọp xay hết tám giạ lúa, tôi liền hét một tiếng thật to:

“ – Cọp!”, nó hoảng quá đâm đầu chạy tuốt vô rừng!”

Những tiếng cười lại vọng lên sảng khoái. “Thằng chả” lại kể tiếp, có lần trèo lên một cây tràm lấy mật ong, rủi trật tay té bảy ngày mới tới đất! Cây cao quá xá! Khi rơi đói bụng quá, cứ ngày phải nấu cơm ăn hai bữa rồi lại… té tiếp. Mọi người cười cái rần! Lúc đang kể chuyện, chàng đâu biết, sau cánh cửa liếp, cô Trần Thị Lữ tủm tỉm một mình, thầm nhủ:

– Xạo ơi là xạo! Mỗi đêm nằm chèo queo mà cứ nói dóc là có… bà xã!

Thân thế

Cô biết chàng trai hiền lành, vui tính ấy tên là Nguyễn Long Phi sinh năm 1884 tại vùng Rạch Mũi – Cái Rắn, huyện Cái Nước (Cà Mau), nhưng thời trai trẻ sống ở Kinh Ngang (nay gọi kênh Ba Phi), ấp Rạch Lùm, xã Khánh Bình Tây (Cà Mau). Là con đầu trong gia đình có tám anh em, ba trai, năm gái nên Nguyễn Long Phi được gọi là Hai Phi. Về vùng đất Cà Mau, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức cho biết: “Thời Gia Long, những gò đất cao ráo ở ven sông Ông Đốc, sông Gành Hào, sông Bảy Háp và một vài phụ lưu mới có người khai khẩn, lập thành xóm ấp. Tuy vậy, đến đời Tự Đức, Cà Mau vẫn còn là vùng rừng đước, vẹt, tràm, không mấy ai đến lập nghiệp vì thiếu nước ngọt và ruộng quá nhiều phèn”. Những lưu dân đến khai hoang lập nghiệp thuở ấy có dòng họ của Hai Phi, họ phải chống chọi với bao bất trắc “Xuống sông sấu bắt, lên rừng cọp tha”. Tương truyền, cha mẹ của Hai Phi là những người giỏi võ nghệ. Có lần bà đi vào rừng U Minh bị bầy heo rừng tấn công, không một chút nao núng, bà chặt một cành tràm làm vũ trí chống trả lại quyết liệt. Cuối cùng con đầu đàn phải bỏ xác, bầy heo rừng còn lại hoảng sợ chạy tán loạn. Mồ hôi của lưu dân đổ xuống vùng đất:

Cà Mau khỉ khọt trên lưng
Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um
Ở đâu bằng xứ Lung Tràm
Chim kêu như hát bội, cá lội vàng tợ mắm nêm

thật gian nan biết chừng nào. Nhưng bọn lính làng, cường hào ác bá cũng ức hiếp, tước đoạt đất đai của những người nông dân lương thiện. Không chịu nổi sự hà khắc đó, cha mẹ Hai Phi phải tìm đến cư ngụ ở Kinh Ngang. Năm 1902, Hai Phi bị bắt đi phu và sung vào lính lê dương, đưa sang Pháp. Khoảng năm 1910, chàng đào ngũ, trốn về Việt Nam, sống ở bìa từng U Minh. Thật vậy, sau khi trốn về U Minh, Hai Phi xin làm tá điền cho cha của cô – ông hương quản Trần Văn Tế – thì nào đã có vợ con gì đâu!

Sống trong gia đình này, ai cũng mến phục Long Phi. Không chỉ giỏi võ nghệ, có sức khỏe hơn người, mỗi ngày có thể phát chừng vài chục công đất mà chàng còn là tay chơi đờn ca tài tử thuộc loại “thần sầu quỷ khốc”. Chính vì thế, con trai của ông hương quản là Tư Ứng rất khoái Long Phi. Hai người thường cặp kè với nhau như hình với bóng. Rồi một ngày kia, sau khi “chơi” vài ly “xây chừng” với bạn, Tư Ứng mới nói với Long Phi:

– Tụi mình kết nghĩa với nhau như tay với chân đã lâu, nay trở thành huynh đệ ruột thịt với nhau, được không?

Long Phi thừa biết bạn muốn mai mối mình với cô Ba Lữ – chị ruột của Tư Ứng. Sau đó, mọi sự diễn ra suôn sẻ, tất nhiên do được sự đồng ý của ông hương quản. Từ đây, Long Phi lấy thứ của vợ ghép với tên cúng cơm của mình: Ba Phi. Nhưng ông trời cũng độc địa, chẳng cho ai được hưởng vẹn toàn điều gì cả. Dù trở thành người giàu có nhưng vợ chồng Ba Phi lại không sinh được đứa con nào. Những đêm trăng xanh, ngồi trước sân nhà với cây đờn cò, ông đã kéo réo rắt âm thanh buồn não ruột… Biết nỗi khổ tâm của chồng, bà Ba Lữ an ủi:

– Thôi thì, để em đứng ra lo liệu cho anh thêm người vợ thứ đặng có người nối dõi tông đường.

Người được bà chọn là cô Huỳnh Thị Cham, là người Khơ me nên thường được gọi là Cà Cham, hai mươi bốn xuân, đang làm tá điền trong nhà. Với người vợ thứ hai, Ba Phi có được ba mặt con.

Cuộc đời và sự nghiệp

Theo nhà văn Nguyễn Trọng Tín, người đồng hương với bác Ba Phi:

Những chuyện kể của bác Ba Phi bắt đầu xuất hiện và được lưu truyền trông dân gian từ những năm đầu của thập kỷ 60. Sau phong trào Đồng khởi năm 1960, vùng Lung Tràm nằm trong khu căn cứ kháng chiến. Thời kỳ này, miền Tây Nam bộ là nguồn chủ yếu cung cấp nhân lực cho cuộc kháng chiến ở Nam bộ. Những đoàn cán bộ dân chánh, những đơn vị bộ đội trước khi lên đường chi viện cho chiến trường miền Đông, thường có thời gian dài dừng chân ở vùng căn cứ U Minh, ở kinh Lung Tràm, và nhà bác ba Phi luôn rộng cửa đón họ. Ở đây, họ được gia đình bác Ba chăm sóc chu đáo và được bác Ba “trang bị” thêm những câu chuyện vui của mình làm hành trang. Và cứ thế những câu chuyện của bác Ba Phi cứ lan tỏa đi khắp những nẻo đường kháng chiến của đất nước. Nó được người kể bổ sung thêm những chi tiết, những tình huống để ngày một thêm phong phú. Thật ra, không phải đến những năm tháng ấy bác Ba mới “sáng tác” ra những câu chuyện của mình. Nó gần như được bác sáng tác trong suốt cả cuộc đời mình. Những trải nghiệm cuộc đời được bác tích lũy lại trong những câu chuyện vui và có dịp tụ tập đông người bác lại đem chúng ra kể để “cống hiến” cho đám đông những tràng cười sảng khoái. Chuyện nào của bác Ba cũng có yếu tố cường điệu cao, thành ra người ta hay nói là nói dóc như bác Ba Phi. Thực tế trong cuộc đời, bác Ba là người rất trọng chữ tín, luôn giữ lời hứa và sống rất trung thực, khẳng khái.

“Chuyện của bác Ba thực chất rất khó kể cho hay, cho hấp dẫn, vì xem ra cốt truyện của chúng thật đơn giản. Yếu tố mấu chốt là ở chỗ, thường mỗi chuyện được bác Ba sáng tác cho một hoàn cảnh, một tình huống riêng biệt, vì vậy nó cũng phải được ngẫu nhiên kể ra trong một trường hợp tương tự, mới tạo được sự hấp dẫn cho người nghe.

Sự lý giải này hợp lý. Thật vậy, cũng câu chuyện ấy, cũng tình tiết ấy, nhưng ta lại nghe nhạt thếch như nước ốc; hoặc nghe vừa nghe cười nôn cả ruột, vấn đề nằm ở chỗ là được nghe ai kể và kể trong hoàn cảnh nào. Đơn giản cũng chỉ một chữ ấy, chỉ một chữ thôi, nhưng người kể này biết “nhấn nhá” trong âm điệu thì sẽ hiệu quả hơn gấp nhiều lần. Vẫn biết như thế, nhưng nhà văn Anh Động, nhà báo Phan Anh Tuấn và nhiều người khác cũng kể lại theo cách của mình, bởi lẽ thông qua giới thiệu tiếng cười độc đáo của “ông vua nói dóc Nam bộ”, họ còn muốn đưa người đọc về với vùng đất kỳ diệu ở phương Nam của Tổ quốc! Những chuyện cười của bác Ba Phi, ta phải nghe kể thì mới sướng con ráy, nhưng thôi, ta thử đọc bằng văn bản. Chẳng hạn:

“Chiếc tàu rùa”:

Mùa khô năm đó, túng tiền xài, tui mới nghĩ ra một cách bắt rùa để chở ra chợ Sông Đốc bán. Ra dượng tư nó, tôi mượn một chiếc ghe cà vom chở chừng năm trăm giạ lúa, chống vô Lung Tràm đậu cặp mé phía dưới gió, cặm sào banh hai đầu cho thật chắc. Tui còn kéo tấm đòn dày bắt thẳng lên bờ. Làm xong, tui đi vòng phía trên gió, nổi lửa đốt một hàng dài… Mùa khô ở đây, cỏ ủ lên tới lưng quần dễ làm mồi cho lửa lắm. Lửa bắt đầu bốc ngọn, tui lội trở về chỗ đậu ghe ngồi chờ. Độ chừng hút tàn điếu thuốc, tôi đã thấy rùa bắt đầu bò xuống lai rai. Lửa phía trên gió bắt đầu vào sậy, cháy, nổ rốp rốp. Rùa bò xuống mỗi lúc một nhiều. Chúng xếp hàng một, nối đuôi nhau bò tới. Con nào cũng nghểnh cổ lên cao, mắt ngó chừng dáo dác. Một lúc, gió thổi mạnh lên, lửa cháy nà nà xuống, tốp sau hoảng hồn kéo chạy đùng đống, không còn trật tự gì nữa. Rùa vàng, rùa nắp, rùa quạ, rùa hôi, rùa dém… dồn tới từng bầy kéo xuống ghe. Giống rùa là chúa sợ lửa, chúng chạy bằng ba chân, còn một chân trước đưa lên che mặt. Con nào cũng chảy nước mắt, nước mũi choàm ngoàm. Thấy chúng tràn xuống quá sá, tui ngồi gần đầu cây đòn dày, coi con nào lớn thì cho đi, con nào nhỏ thì cứ bạt tay một cái là lọt xuống sông. Một hồi, rùa xuống đầy ghe. Tui nhổ sào, rút đòn dày, dông luôn ra chợ. Nhưng khổ nỗi số rùa nhỏ bị rớt xuống nước cứ bấu theo be ghe kết thành bè, một tay chúng vịn vào be ghe, còn ba chân cứ đạp nước, theo trớn ghe đi tới. Chiếc ghe bị rùa đẩy chạy tới ào ào. Tui thấy vậy, cười khà, ngồi phía sau kềm lái, mở gói thuốc ra hút phì phèo.

Ra gần tới chợ Sông Đốc, tui bỗng nghe mấy người đàn bà bên kia sông la chói lói:

– Xuồng chở lúa, khẳm lắm. Tàu làm ơn tốp máy lại chút nghen!

Thật hết phương khả đảo, chỉ còn ngồi lắc đầu chịu chết. Tui khoát tay:

– Mấy bà con cảm phiền ép xuồng sát vào bờ giùm chút đi! Tui tốp máy không được.

“Con chó săn dũng cảm”:

Trời mới rạng đông, nghe con heo nái trong chuồng hộc hộc, tui biết là con heo rừng nọc chiếc vô nhảy đực heo nái mình nữa rồi. Tui chộp cây mác thong, kêu con chó Nô nhảy ra. Con chó Nô là loại chó nòi, giỏi vô cùng, nhưng lúc này nó đang có chửa gần đẻ nên cũng hơi ột ệt. Lúc tui chạy tới thì con heo nọc chiếc cũng vừa bỏ chuồng đi ra rồi. Nó to cỡ con bò, màu lông vàng hực, da lăn dầu chai, có u có nần. Vừa đi, nó vừa nghếch cái mõm như cây đàn bầu lên táp bốp bốp, nghe chẳng khác mình cầm cái mủng dừa úp lại. Hai cục bọt trắng xóa đóng hai bên mép miệng, gần chỗ cặp nanh trắng ơn, cong vút. Thấy tui với con Nô đuổi theo sát, nó quay lại, mài đít ngồi nhìn. Mũi nó khịt khịt như gà lôi kêu. Biết là gặp tay địch thủ đáng gờm, tui đứng chân chữ đinh, cầm phân hai cây mác, nhử nhử. Con nọc chiếc tưởng tôi đâm thiệt nên hất mõm qua bên. Tui lẹ làng thu lại, đâm một nhát chí tử vào nách nó. Coi như con nít chơi, con nọc chiếc liền hất trở lại một cái trông nhẹ hều làm cán mác của tui gãy làm hai. Tui chới với suýt cắm đầu, tay chỉ còn cầm khúc cán mác, đứng xơ rơ. Thấy chủ sắp lâm nguy, con Nô nhảy vô, nhưng vừa nhập vào liền bị con nọc chiếc đánh cho một cái văng bắn ra, va vào một gốc cây tràm đánh ẳng một tiếng, quỳ xuống đẻ ra một bầy con. Tám con chó mới đẻ liền nhào tới cắn bốn chân con nọc chiếc to núc ních như cái giò heo. Con Nô tuy bị thương, nhưng lại nhảy vô chính diện. Chẳng ngờ nó lại bị con nọc chiếc đánh bồi thêm một cái nữa, làm cho sọ đầu bể làm tư. Nó nằm giãy tê tê. Thấy vậy, tui nhảy lại bứt nắm cỏ thuốc, lấy dây kiền cái đầu nó lại. Con chó ngồi dậy nghỉ một lúc cho đỡ mệt, rồi lại xáp trận nữa. Lần này thì con nọc chiếc có mà chạy đường trời. Tám con chó con cắn bốn cái giò căng ra, con Nô táp dính cái đuôi kéo nhủng nhẳng, còn tui thì xách khúc cán mác còn lại nhắm ngay đầu nó bổ xuống. Quần nhau một hồi, con nọc chiếc mệt lả, há họng thở dốc. Nhanh như chớp, tui thọc cho nó một cán mác vô họng thấu tuốt ra sau đít. Lũ chó con còn sung sức nên sủa gâu gâu. Con Nô, tuy cái đầu mới bể được ràng lại, chưa ăn khớp hoàn toàn nhưng cũng cất tiếng sủa trợ chiến cho lũ con “cạch, cạch… cạch cạch…” Những câu chuyện bịa cứ như thật này khiến ta phì cười thú vị. Phải thừa nhận rằng, bác Ba Phi là người có óc tưởng tượng rất phong phú, nếu không, sẽ không thể hư cấu đến mức cường điệu, dù biết là “bịa” nhưng ngẫm đi ngẫm lại vẫn thấy… hợp lý, vẫn thích đọc thích nghe là vậy! Biết bao câu chuyện như thế đã lưu truyền trong dân gian? Khó ai có thể “thống kê” hết được. Những câu chuyện của bác Ba còn gợi lên trong tâm tưởng ta về tình yêu quê hương, về vùng đất cực Nam của Tổ quốc, nó làm phong phú hơn nữa trí tưởng tượng của ta khi đã đọc những tác phẩm viết về vùng đất này của các nhà văn chuyên nghiệp như Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Đoàn Giỏi, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Lê Văn Thảo… Trên vùng đất mới này, dù phải đổ máu và mồ hôi chống chọi với thiên nhiên, thú dữ, chiến tranh… để an cư lạc nghiệp, thì những tiếng cười lạc quan vẫn vang lên sảng khoái, khỏe mạnh. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà nhà văn Tô Hoài khẳng định: “Chuyện Ba Phi toàn là chuyện cười, vô lý nữa mà điển hình lạ lùng về người dân Nam bộ đầy sức sống, đầy chất lạc quan, chính cống Nam bộ, chính cống Việt Nam”. Trong hai kháng chiến của dân tộc, gia đình bác Ba Phi đã nhiều lần tiếp tế cho bộ đội và được gọi thân mật “Ông già góp vui kháng chiến”. Những câu chuyện kể trong dân gian với “thương hiệu” chuyện bác Ba Phi ngày nay vẫn còn được truyền tụng. Năm 2002, một hội thảo khoa học “Chuyện kể bác Ba Phi” được tổ chức tại Cà Mau với 36 tham luận của các học giả, nhà nghiên cứu trong cả nước. “Tựu trung mọi người đều nhất trí đánh giá chuyện kể của bác Ba Phi là một di sản văn hóa phi vật thể của Nam Bộ cần được trân trọng gìn giữ cho muôn đời sau như ta đã gìn giữ chuyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn… trước đây. Các chuyện kể của bác Ba Phi bắt nguồn từ sự phong phú, giàu có của sản vật tự nhiên vùng U Minh những ngày đầu được người dân khai phá và bác Ba Phi chỉ là một người nâng bức tranh sản vật vô cùng phong phú ấy lên tầm thẩm mỹ văn học” (Báo Tuổi trẻ chủ nhật số ra ngày 8/12/2002). Về đời riêng, dù bác Ba Phi với hai vợ chung sống trong một nhà nhưng lúc nào họ cũng giữ được hòa thuận, hạnh phúc.. Con dâu trưởng của họ là thím Hai Hải sau này có cho biết: “Cha tôi mãn phần để lại căn nhà với sáu mẫu ruộng, vườn cho con cháu. Bây giờ chỉ có đất. Còn nhà cửa, vườn tược… trong bom đạn chiến tranh đâu còn gì, chỉ còn mỗi cái đìa cá do cha tôi đào ở sau nhà vẫn còn lưu giữ được đến ngày nay… Căn nhà cũ trước kia cha tôi cất cao lắm, rộng lắm. Có lúc cả trung đội, đại đội bộ đội kéo về ngồi trong căn nhà này nghe cha tôi kể chuyện…”. Thế hệ hậu duệ của bác ba Phi cũng có tài nói dóc, hài hước như bác. Trong một truyện ngắn, nhà văn Lê Văn Thảo cho biết đã gặp “người cháu trai họ ngoại” của bác Ba Phi. Anh này trò chuyện với nhà văn:

“Năm ấy bác tôi đã già lắm rồi, chiến tranh leo thang, bom B52 rải thảm, vùng bán đảo Cà Mau tàu bay Mỹ đâm ngang dọc rẽ nước trắng xóa. Một dạo bác tôi có dịp về mũi đảo, đi quanh vùng bán đảo, xuôi sông Cái Lớn rẽ qua sông ông Trang về đất Mũi. Anh có đến sông ông Trang chưa?”

“Chưa”.

“Con sông không lớn nhưng nước chảy xiết, lục bình trôi giăng giăng quanh năm nở bông tím ngát. Bác tôi đi qua đó nhìn cảnh tàubay Mỹ chạy ngang dọc, nổ súng vào các xuồng ghe, dân tình hoảng sợ, đám lính Mỹ cười ré khoái chí, bác tôi không hoảng sợ, cũng mặc cho đám lính cười ré. Bác tôi suy nghĩ. Xin nhớ cho bác tôi là người kể chuyện vui, cũng là người làm ăn chăm chỉ, biết tính toán, có đầu óc khoa học, coi trọng chuyện đất đai ruộng vườn sông nước, công việc làm ăn của bà con. Bác tôi không chịu được cảnh tàu bay Mỹ phá phách làng xóm sông nước như vậy. Phải nghĩ cách bắt trói chúng. Bác tôi quan sát con sông, ngắm nhìn lục bình trôi, đi gặp những người du kích. “Đơn giản thôi, chỉ cần nhờ đám lục bình kia”, bác tôi nói với những người du kích như vậy. Kế hoạch là như thế này: ngăn lục bình lại thành một chiếc đập, một sợi dây cáp giăng xéo kế đó, thằng tàu bay phóng vọt qua bị sợi dây cáp chặn lại kéo trôi tuột vào một con kinh cụt đào sẵn”.

“Nhưng cũng không đơn giản, đám du kích không tin. Làm sao tin bác Ba Phi? Bác tôi ở lại đó cả tháng trời kiên trì thuyết phục, lôi đám du kích ra ngoài bờ dừa sân lúa phân tích giảng giải, vẽ một sơ đồ lớn bằng tấm đệm chỉ rõ chỗ ngăn lục bình thành chiếc đập như thế nào, giăng sợi dây cáp với độ xéo ra sao để kéo chiếc tàu bay Mỹ trôi tuột đi như cá chun vào ống bương. Đám du kích trố mắt lắng nghe, ngạc nhiên vì vẻ nghiêm nghị của bác tôi, cuối cùng bị vẻ nghiêm nghị ấy thuyết phục. Lục bình được ngăn lại thành chiếc đập, một sợi dây cáp giăng xéo kế đó ngụy trang khéo léo, con kinh cụt giấu kín trong đám cành lá, bác tôi cùng đám du kích ngày đêm rình chờ. Và rồi chuyện đến phải đến, một buổi sáng có chiếc tàu bay Mỹ trờ tới nhìn thấy chiếc đập lục bình dày kịt. Cái gì thế này? A, chỉ là lục bình, thứ cây cỏ bèo bọt! Hãy coi máy móc Mỹ đây! Chiếc tàu bay Mỹ lùi lại lấy trớn, cười ha hả, rồ máy lấy hết tốc lực phóng vọt qua chiếc đập một cách nhẹ tênh. Và cũng nhẹ tênh như thế, chiếc tàu bay Mỹ đáp xuống không biết có ma quỉ nào níu kéo cứ thế trôi tuột đi đâm sầm vào trong một hang hốc lau sậy dày bịt không thể nào hiểu được…”.

“Bác tôi bắt được năm bảy chiếc tàu bay Mỹ bằng cách như vậy, không tốn một phát súng, dễ như đổ lọp bắt cá, đám lính Mỹ bị bắt trói rồi ngẩn ngơ không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Nhưng bắt chúng dễ, thả chúng không dễ. Phải thả chúng như thế nào cho chúng thấy mình nhân từ cũng khiến chúng hoảng hồn kinh sợ. Bác tôi lại nghĩ ra một cách. Một buổi sáng biển lặng trời êm, cả dân chúng vùng duyên hải phía tây nhìn thấy một chiếc bè được kết lại bằng năm bảy chiếc tàu bay Mỹ nổ máy rì rì chạy đâm thẳng ra biển Đông về hướng hạm đội Bảy, đám lính Mỹ trên bè bị trói thẳng đứng sắp thành hàng không thiếu thằng nào. Một cảnh tượng chưa từng thấy bao giờ, đám lính Mỹ trên hạm đội Bảy trố mắt nhìn: chưa có trận nào bọn tàu bay Mỹ ra đi trở về đủ số như vậy với đám lính Mỹ bị trói thẳng đứng thành hàng như vậy”.

“Đó là công việc cuối cùng của bác tôi, hoàn toàn thiết thực, như anh có thể hình dung, chính xác như một nhà khoa học. Năm sau bác tôi qua đời”.

Di sản

Thật là một chuyện hay của bác Ba Phi, tôi vội chép lại ngay, hình dung không chỉ cung cấp cho văn học một tư liệu quí, cả điện ảnh có được những hình ảnh hoành tráng để làm phim: cảnh chiếc tàu bay Mỹ phóng vọt qua chiếc đập bằng lục bình nở bông tím ngát, cảnh chiếc bè kết bằng tàu bay Mỹ chạy rì rì đâm thẳng ra ngoài Biển Đông chỗ hạm đội Bảy… Nhưng trang ghi chép của tôi gặp trục trặc nhỏ: sau đó có dịp về sông Ông Trang, tôi không thấy có dề lục bình nào cả, hỏi ra mới biết nước mặn làm gì có lục bình, và lục bình trôi cũng không khi nào trổ bông. Rồi hỏi thêm cũng không nghe nói có chuyện bắt tàu bay Mỹ nào ở đây hồi chiến tranh. Vậy là sao? Hay cũng dòng máu ấy, anh cháu bác Ba Phi lầm lì này tài hoa bịa chuyện vẫn được di truyền từ ông bác? Ngày xưa bác anh đã bắt cọp xay lúa, cho ghe chạy bằng rùa, giờ tới anh nói chuyện với cá, kết bè bằng tàu bay Mỹ cho chạy rì rì ra ngoài Biển Đông? Hay tất cả đều có dòng máu ấy, vùng quê đất rộng người thưa, cuộc sống quạnh hiu nhọc nhằn ai cũng có chút năng khiếu bịa chuyện làm vui cho mình và cho mọi người…

Sinh thời bác Ba Phi cũng vậy thôi…”

Tôn vinh

Hiện nay, ngôi mộ của bác Ba Phi vẫn còn nằm dưới vườn dừa mát rượi đầu kinh Lung Tràm – hai bên là hai ngôi mộ của hai người vợ. Những câu chuyện hấp dẫn của ông đã là nguồn cảm hứng để các nhà văn hậu thế viết lại thành sách. Bác Ba Phi mất ngày 3/11/1964, hiện phần mộ an táng tại đất nhà ở kinh Lung Tràm, ấp Đường Ranh, xã Khánh Hải, huyện Trần Văn Thời (Cà Mau). Năm 2005 tại trụ sở văn hóa xã Khánh Hải và tại nhà của bác Ba Phi là nơi sinh hoạt của câu lạc bộ mang tên “Bác Ba Phi” do anh Nguyễn Hữu Nghĩa – đội trưởng đội thông tin văn nghệ huyện Trần Văn Thời – làm chủ nhiệm, quy tụ những người có khiếu kể chuyện khôi hài, trong đó có nhiều cháu nội, cháu ngoại của bác Ba Phi. Nội dung sinh hoạt của CLB là kể – nghe các giai thoại, những truyện kể theo nguyên tác của bác Ba Phi và các sáng tác mới theo kiểu “con cháu bác Ba Phi kể chuyện”, “hậu bác Ba Phi”…

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 4 – Danh nhân văn hóa Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Ba Phi

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)