Khái quát
Một ngày thu xanh biếc, dạo chơi ở Thủ đô, nếu có dịp dừng chân ngay trước tượng vua Lê bên bờ hồ Hoàn Kiếm, ta sẽ thấy có tấm bia khắc năm 1929 nhằm tưởng nhớ thi hào Nguyễn Du, tác giả của Truyện Kiều bất hủ. Dù dòng xói của thời gian đã làm cho có đôi chỗ khó đọc, nét chữ mờ, nhưng ta vẫn thấy được những dòng văn khoáng đạt, sâu lắng:
Tiếng nào đã làm được văn không phải là tiếng tầm thường, người nào đã hay về văn cũng không phải là người tầm thường, đất nào đã có người hay văn lại không phải là đất tầm thường.
Tiếng ta phần nhiều căn cứ ở chữ Tàu, tư tưởng cũng hấp thụ ở văn Tàu, song vẫn tự có một thể tài riêng, một tinh thần riêng; xem những ca dao, ngạn ngữ truyền đến ngày nay nhiều câu thật thà mộc mạc mà ý vị sâu xa, chắc rằng cái mầm mống văn ta đã nẩy nở từ thời kỳ tối cổ. Đến đời Trần, ông Nguyễn Thuyên, ông Nguyễn Sĩ Cố đem lối thi phú làm bằng tiếng Nôm, văn ta một ngày một thịnh, dù học hiệu chưa giảng, khoa cử chưa dùng, song Hán học thịnh bao nhiêu thì cái kho văn liệu của tiếng ta càng giàu bấy nhiêu, cho nên các bậc tiền bối thâm về Hán học, như ông Tiều Ấn, ông Ức Trai, ông Bạch Vân Am, ông La Sơn đều nổi tiếng về quốc văn cả. Nay thử kể qua những tập văn Nôm cũ, chất phác như Trê Cóc, nghiêm chỉnh như Trinh Thử, tâm lý như Cung Oán, diễm lệ như Hoa Tiên, đều là cái lịch sử rực rỡ vẻ vang của văn chương tiếng Việt. Ai bảo rằng một giải đất con con ở dưới ánh sáng lập lòe sao Dục, Chuẩn lại không đủ tinh hoa tinh tú để chung đúc được bao nhiêu Lý, Đỗ, Hàn, Tô hay sao?
Song xét cho kỹ (…), tìm một nhà chiết trung cả chất văn, để làm tiêu biểu cho hậu học, thì Tiên điền Nguyễn tiên sinh là bậc đệ nhất vậy.
Tiên sinh húy là Du, tự là Tố Như, hiệu là Hồng Sơn Liệp Hộ, sinh năm Ất Dậu niên hiệu Cảnh Hưng thứ 26 (1765) mất ngày mồng mười tháng tám năm đầu tiên hiệu Minh Mạng (1820) con thứ bảy ông Hoàng giáp Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm, người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An. Tiên sinh vốn thiên bẩm cao, hậu về tình, hào về khí, hùng về tài, lại bác thâm về học vấn, ma chiết về cảnh ngộ, nên văn chương dung hòa, thấu lý nhập thần, không kể những tập viết bằng chữ Hán như Bắc hành thi tập, Nam trung tạp ngâm, Thanh niên tiền hậu tập, còn ngâm vịnh trứ thuật bằng quốc âm cũng nhiều, mà thứ nhất là tập Đoạn trường tân thanh (tức là Truyện Kiều) thực là một cuốn văn kiệt tác trước sau chưa có bao giờ.
Hội ta nghĩ rằng: Hán văn đã một ngày một lùi để nhường cái địa vị chính đáng cho quốc văn, thì quốc văn tất có cái tương lai rất quan hệ, rất mật thiết với nước ta, mà một bậc sở trường về quốc văn không ai bằng tiên sinh, giá trị quốc văn tôn lên cũng nhờ ngọn bút tiên sinh, nay quốc dân đương cổ vũ về quốc văn, há lại quên một bậc đã có công với quốc văn hay sao? Đã hay những bậc huân nghiệp đời trước, không phải một mình tiên sinh, song Hội ta sùng bái tiên sinh, chủ ý chuyên trọng về quốc văn, mong sau này quốc văn có một ngày hưng thịnh, mà cả tư tưởng học thuật đều bởi đó đằng tiến mãi lên, vậy thì một bậc đã có công to với quốc văn tức là có công to với nước vậy.
Tiên sinh lúc lâm chung có khẩu chiếm một câu rằng: “Bất tri tam bách dư niên hậu. Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”, dẫu danh nhân tâm sự giãi với giang sơn, lòi đồng khốc để đợi người thức giả, song nay vì tiếng vì đất mà nhớ đến người, thì bài bia này dù không dám đương được chữ “khấp” cũng gọi là chữ “truyện” hay chữ “ký” để thay một nén hương chung của quốc dân vậy.
Minh rằng:
Đất đục, trời trong, hòa tan làm mực
Nước biếc, non xanh, tả nên đầy bức
Đã sẵn tài tình, quản gì phong sắc
Hồn vẫn đi về, cảo thơm sực nức
Kiếm gác bên đền, gió mưa vẫn sắc
Bút tựa mặt hồ, trăng sao vằng vặc
Cảnh ấy bia này, nghìn thu dằng dặc
Ngày rằm tháng hai năm Kỷ Tì niên hiệu Bảo Đại thứ tư
Hội Khai trí Tiến Đức cấn chí
Canh Tuất khoa Phó bảng Ưu Thiên Bùi Kỷ bái thảo.
Bài văn ấy gọi trong ta biết bao tự hào về tiền đồ của tiếng Việt, hẳn người viết phải nặng lòng với quốc văn mới hạ bút như thế. Nhân đây cũng xin nhắc lại, áng “hùng văn thiên cổ” Bình Ngô đại cáo của nhà văn hóa, nhà chính trị thiên tài Nguyễn Trãi viết bằng chữ Hán, nay ta đọc được bản tiếng Việt uyển chuyển, hùng hồn ấy cũng chính là do thầy Bùi Kỷ dịch. Bản dịch này đã trở thành mẫu mực, không thể có bản dịch nào đi vào trí nhớ người đọc hơn nữa.
Thân thế và con đường học tập
Thầy Bùi Kỷ tên chữ là Ưu Thiên, tên hiệu là Tử Chương sinh ngày 5/1/1888 trong một gia đình khoa bảng Nho học ở làng Châu Cầu, phủ Lý Nhân (nay thuộc thị xã Phủ Lý) tỉnh Hà Nam.
Tổ tiên họ Bùi vốn gốc ở xã Triều Đông, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, Hà Đông (nay thuộc huyện Thường Tín, Hà Tây), khoảng thời cuối triều Lê chuyển đến ở Châu Cầu lập nghiệp, tới đời thứ 6 thì phát khoa: năm 1865 cả hai anh em thúc bá Bùi Văn Dị và Bùi Văn Quế đều đỗ Phó bảng; Bùi Văn Dị (1833 – 1895) làm quan đến Thượng thư, Phụ chính đại thần. Bùi Văn Quế (1837 – 1913) làm quan đến Tham tri bộ Hình thì cáo quan về quê. Con trai ông Quế là Bùi Thức (1859 – 1915) đậu Tiến sĩ Nho học (1898), không ra làm quan, ở nhà dạy học và viết sách. Ông Thức có ba con trai là Bùi Kỷ, Bùi Khải và Bùi Lương đều đỗ đạt.
Từ nhỏ thầy Bùi Kỷ được cha dạy về Nho học, ngoài ra còn tìm thầy dạy chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp. Năm 1909 lần đầu dự thi Hương, thầy đã đậu Cử nhân, năm sau vào Huế thi Hội và thi Đình, thầy đậu Phó bảng được bổ đi làm Huấn đạo, nhưng thầy từ chối, lấy cớ phải ở nhà phụng dưỡng cha và ông nội đều đang già yếu. Năm 1912, chính quyền bảo hộ chọn cử thầy sang Paris học Trường Thuộc địa (École coloniale). Nhân dịp này thầy đi nhiều nơi trong nước Pháp và các nước lân cận; thầy cũng có dịp tiếp xúc với một số người Việt yêu nước và cách mạng đang lưu ngụ ở Pháp, trong đó có chí sĩ Phan Chu Trinh. Bấy giờ các tổ chức yêu nước ở hải ngoại đã hình thành và chắc chắn có tác động đến tâm trí, chí hướng của thầy.
Do đó, hai năm sau trở về nước, dù được tòa Thống sứ Bắc Kỳ gọi lên bổ dụng nhiều lần, thầy đều từ chối. Thầy tổ chức cho gia đình mình sản xuất hàng thủ công (bông vải, tre đan) xuất khẩu ra nước ngoài nhưng thất bại.
Sau khi cha và ông nội đều qua đời, thầy bỏ sang Quảng Châu (Trung Quốc) hai năm. Về nước khi đã 30 tuổi, từ 1917 thầy ra Hà Nội dạy học tại các trường Cao đẳng Sư phạm, Cao đẳng Công chính, Cao đẳng Pháp chính theo lối ký hợp đồng từng năm chứ không vào biên chế viên chức của “Nhà nước bảo hộ”. Ngoài ra, từ năm 1932, thầy còn dạy cho hai tư thục Văn Lang và Thăng Long. Trường Thăng Long do một số tri thức tiến bộ và cách mạng như Phan Thanh, Hoàng Minh Giám, Đặng Thái Mai, Võ Nguyên Giáp… lập ra đã mời thầy Bùi Kỷ cùng trực tiếp giảng dạy.
Hoạt động giảng dạy, nghiên cứu và đóng góp cho quốc văn
Ngoài việc dạy học, thầy còn là một nhà biên khảo, cộng tác với một số báo chí ở Hà Nội như tạp chí Nam Phong, tập san của hội Khai Trí Tiến Đức, báo Trung Bắc Tân Văn… Thầy còn hăng hái tham gia các hoạt động văn hóa xã hội của giới trí thức Hà thành như kỷ niệm 105 ngày mất thi hào Nguyễn Du (1925), lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh ở Hà Nội (1926), phong trào Truyền bá chữ Quốc ngữ… Một bài thơ của thầy đăng trên báo Trung Bắc tân văn, ta thấy được thái độ “dấn thân” của thầy ở giai đoạn này, tin ở thuyết định mệnh nên cứ ung dung, nhàn tản:
Đã trót vào đời phải biết đời,
Vui lòng nếm đủ mọi nghề chơi.
Say mà mê tít còn hơn tỉnh,
Khóc chẳng ăn thua cũng phải cười.
Sá quản kêu mưa mồm chẫu chuộc,
Mà toan phơi nắng mặt đười ươi.
Vào đời đố biết bao giờ chán,
Quả phúc dây oan cũng thế thôi.
Nếu thầy Dương Quảng Hàm khi dạy trường Bưởi đã biên soạn các sách Quốc văn trích diễm, Việt văn giáo khoa thư, Việt Nam văn học sử yếu, Việt Nam thi văn hợp tuyển… nhằm phục vụ cho việc học tập của học sinh thì thầy Bùi Kỷ cũng vậy. Với quyển Quốc văn cụ thể do thầy biên soạn, nhà giáo Trần Trọng Kim viết Tựa, có đoạn:
Bùi Ưu Thiên là một nhà văn học có giá trị hiện thời ở nước ta, vả lại là dòng thi lễ khoa giáp trong mấy đời, cho nên nghề văn của ông đã tỉnh, mà học lực lại uyên bác. Ông lại có lĩnh hội được cái tinh thần Tây học, và biết sự cần dùng của người mình, bèn đem cái sở đắc của ông mà làm ra sách này, có phương pháp rõ ràng, ý tứ phân minh, và lời lẽ rất lưu loát. Đọc quyển sách của ông có nhiều thú vị và lại hiểu được rõ cái quy tắc của các lối làm văn ngày xưa. Ấy là Bùi Ưu Thiên có công giúp cho sự văn học nước ta vậy.
Đúng vậy, ở tập sách này ta thấy thầy trình bày rất rõ ràng các thể loại như biến thể của lục bát, song thất lục bát hoặc từ khúc, phú, tứ lục, kinh nghĩa, văn sách v.v… Ngay khi sách in ra, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đánh giá:
Quốc văn cụ thể là một quyển sách nhận xét về các lối thơ và phương pháp làm thơ văn rất có giá trị, vì nó đã có được ba điều hay là vừa gọn gàng, vừa đầy đủ, lại vừa sáng sủa nữa.
Ngoài ra, thầy còn biên soạn Việt Nam văn phạm (với Trần Trọng Kim), Tiểu học Việt Nam văn phạm giáo khoa thư (với Trần Trọng Kim, Nguyễn Quang Oánh), Hán văn trích thái diễn giảng khóa bản (với Trần Văn Giáp, 1942)… rất cần thiết cho các thế hệ học sinh thuở ấy.
Là một người thầy yêu Quốc văn do đó, thầy còn bỏ nhiều công sức để nghiên cứu các bản truyện thơ Nôm khuyết danh như Truyện Trê Cóc, Lục súc tranh công, Hoa điểu tranh công… Thầy đã có công sức đóng góp quyết định trong việc khảo cứu di sản thơ chữ Hán của thi hào Nguyễn Du, xác định giá trị Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ v.v… Các bản dịch tác phẩm chữ Hán của tác giả Việt Nam do thầy thực hiện, nổi bật là Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi đã có vị trí đáng kể trong đời sống văn học. Thầy còn thử nghiệm việc dịch một số tác phẩm Nôm cổ điển sang chữ Hán như thơ Bà Huyện Thanh Quan; Truyện Kiều – một công việc sẽ rất có ý nghĩa trên hướng giới thiệu văn học Việt Nam với độc giả Trung Quốc.
Giữa lúc thiên hạ đổ xô theo Tây học, lại có người quay về cặm cụi tìm cái hay, cái đẹp trong di sản văn hóa dân tộc đặng đính chính, chú thích tường tận nhằm giới thiệu rộng rãi thì đáng quý biết chừng nào. Một trong các công trình nghiên cứu này, đáng chú ý nhất là quyển Truyện Thúy Kiều. Thầy đã cộng tác với thầy Trần Trọng Kim để hiệu khảo, được giới nghiên cứu lẫn người đọc đánh giá cao.
Trong Nhà văn hiện đại, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan nhận định:
Trong văn giới Việt Nam, ai cũng biết Bùi Kỷ là một nhà văn chín chắn. Ông viết tuy ít nhưng bài nào ông đã viết hay sách nào ông đã biên, ông đều thận trọng, không bao giờ có sự cẩu thả. Người ta thấy tên ông đi kèm với nhà học giả Trần Trọng Kim trên nhiều cuốn sách giá trị; hai nhà văn họ Bùi và họ Trần đi cặp kè với nhau nhiều lần trên đường văn chương và khảo cứu làm cho người ta phải nhớ đến cái tên Erekmann – Chatrian trong văn giới Pháp, hai cái tên đi cặp kè và cũng nổi tiếng về văn học và sử học.
Dù thân nhau như hình với bóng, nhưng con đường chính trị của hai nhà giáo đáng kính này lại khác nhau.
Trần Trọng Kim và những đóng góp trong lĩnh vực giáo dục
Thiết tưởng nhân đây ta cũng nên biết đôi nét về nhà giáo Trần Trọng Kim – một trong những người đã có đóng góp quan trọng trong thế kỷ XX về lãnh vực giáo dục của nước nhà.
Thầy hiệu Lệ Thần, sinh năm 1883 ở làng Kiều Lĩnh, huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh). Thuở nhỏ, thầy đã được học chữ Hán, chữ Pháp và nổi tiếng thông minh hơn người, nhờ vậy thầy được vào học trường Thông ngôn (École des Interprètes). Năm 1903, thầy tốt nghiệp hạng ưu, được bổ nhiệm làm quan tại Ninh Bình. Năm 1906, khi phái bộ Việt Nam sang Pháp dự hội chợ Marseille, cùng với ông Nguyễn Văn Vĩnh, thầy được theo sang. Trong thời gian này, thầy đã xin vào học khoa Sư phạm trường Thuộc địa (École Coloniale) và tốt nghiệp năm 1911.
Trở về nước, thầy bắt đầu bước vào nghề dạy học, được chính phủ Nam triều và bảo hộ mời vào dạy trường Hậu bổ, trường Bảo hộ và trường Sư phạm. Trong tháng năm này thầy bắt đầu biên soạn các sách phục vụ cho việc dạy học như Sơ học luân lý, Sư phạm khoa yếu lược…
Một trong những đóng góp đáng chú ý nhất của thầy Trần Trọng Kim là năm 1919 cùng ông Schneider chủ trương tờ Học báo. Có thể ghi nhận đây là tờ báo chuyên về giáo dục đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam. Thời kỳ này thầy đã biên soạn quyển sách nổi tiếng Việt Nam sử lược. Năm 1921, thầy lại được bổ nhiệm làm thanh tra tiểu học các trường Bắc kỳ. Năm 1924, với uy tín của mình, thầy được mời làm trưởng ban soạn thảo sách giáo khoa – cùng làm việc còn có những nhà giáo tiếng tăm như Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận. Cho đến nay bộ sách Quốc văn giáo khoa thư do các thầy biên soạn và được Nha học chính Đông Pháp xuất bản vẫn được xem là mẫu mực. Thậm chí đến nay nhiều người vẫn còn nhớ từng bài văn đã viết trong sách này. Như thế mới biết văn phong và nội dung trong bộ sách giáo khoa này được biên soạn phù hợp và thiết thực với người học. Năm 1939, thầy lại được bổ nhiệm làm giám đốc các trường Nam tiểu học tại Hà Nội. Những đóng góp của thầy Trần Trọng Kim vào lãnh vực giáo dục nước nhà không phải là nhỏ.
Đóng góp cho giáo dục
Một trong những đóng góp đáng chú ý nhất của thầy Trần Trọng Kim là năm 1919 cùng ông Schneider chủ trương tờ Học báo. Có thể ghi nhận đây là tờ báo chuyên về giáo dục đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam. Thời kỳ này thầy đã biên soạn quyển sách nổi tiếng Việt Nam sử lược. Năm 1921, thầy lại được bổ nhiệm làm thanh tra tiểu học các trường Bắc kỳ. Năm 1924, với uy tín của mình, thầy được mời làm trưởng ban soạn thảo sách giáo khoa – cùng làm việc còn có những nhà giáo tiếng tăm như Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận. Cho đến nay bộ sách Quốc văn giáo khoa thư do các thầy biên soạn và được Nha học chính Đông Pháp xuất bản vẫn được xem là mẫu mực. Thậm chí đến nay nhiều người vẫn còn nhớ từng bài văn đã viết trong sách này. Như thế mới biết văn phong và nội dung trong bộ sách giáo khoa này được biên soạn phù hợp và thiết thực với người học. Năm 1939, thầy lại được bổ nhiệm làm giám đốc các trường Nam tiểu học tại Hà Nội. Những đóng góp của thầy Trần Trọng Kim vào lãnh vực giáo dục nước nhà không phải là nhỏ.
Biến động chính trị và chính phủ Trần Trọng Kim
Thầy Trần Trọng Kim nghỉ hưu năm 1942 và tiếp tục chú tâm vào việc viết sách. Nhưng bấy giờ tình hình chính trị đã có nhiều biến động. Chỉ dăm năm sau, ngày 9.3.1945 Nhật đã nhảy vào Đông Dương, tước khí giới của thực dân Pháp. Nhiều trí thức yêu nước đã ảo tưởng về quân đội Nhật, họ nghĩ rằng có thể dựa vào Nhật để đuổi Pháp ra khỏi đất nước. Trong khi đó, Đảng Cộng sản Đông Dương đã thấy cái họa của Nhật Bản và xác định lại kẻ thù chính, nếu trước đây đề ra câu khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật – Pháp” thì nay thay bằng “Đánh đuổi phát – xít Nhật” và chủ trương “Phát động một cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa”.
Lâu nay, hầu hết các sách viết rằng, trong thời điểm này, thầy Trần Trọng Kim cùng cụ Dương Bá Trạc (anh ruột thầy Dương Quảng Hàm) đi Thái Lan rồi sang Chiêu Nam (tức Singapore) bàn bạc và vận động Nhật giúp đỡ. Thật ra, ở thời điểm này không gì thầy mà người Nhật đã lợi dụng uy tín của nhiều trí thức để lôi kéo đi theo chúng. Với thầy Trần Trọng Kim, chúng lân la tìm đến làm quen bàn chuyện văn chương, dọa rằng Pháp đang tìm cách bắt, vậy thầy nên tìm cách lánh đi. Chúng đã lừa được thầy và đưa vào trong một khách sạn của Nhật. Trong hồi ký Một cơn gió bụi, thầy kể:
“5 giờ chiều hôm ấy, thấy Hiến binh Nhật đem ông Dương Bá Trạc cũng vào đấy… Tôi cười bảo: “Sao bác lại vào đây”. Ông Dương nói: “Mình đi ngoài đường định lui về quê, thì bọn Hiến binh Nhật mời lên xe đưa vào đây. Nghe đâu ở ngoài phố họ bắt lung tung cả, chưa biết là những ai” (NXB Vĩnh Sơn – Sài Gòn 1969).
Cụ Dương Bá Trạc mất ở nước ngoài, còn thầy sau khi về nước được cử làm Thủ tướng trong chính phủ bù nhìn thân Nhật.
Hoạt động văn hóa, báo chí và phong trào xã hội
Ngoài việc dạy học, thầy còn là một nhà biên khảo, cộng tác với một số báo chí ở Hà Nội như tạp chí Nam Phong, tập san của hội Khai Trí Tiến Đức, báo Trung Bắc Tân Văn… Thầy còn hăng hái tham gia các hoạt động văn hóa xã hội của giới trí thức Hà thành như kỷ niệm 105 ngày mất thi hào Nguyễn Du (1925), lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh ở Hà Nội (1926), phong trào Truyền bá chữ Quốc ngữ… Một bài thơ của thầy đăng trên báo Trung Bắc tân văn, ta thấy được thái độ “dấn thân” của thầy ở giai đoạn này, tin ở thuyết định mệnh nên cứ ung dung, nhàn tản:
Đã trót vào đời phải biết đời,
Vui lòng nếm đủ mọi nghề chơi.
Say mà mê tít còn hơn tỉnh,
Khóc chẳng ăn thua cũng phải cười.
Sá quản kêu mưa mồm chẫu chuộc,
Mà toan phơi nắng mặt đười ươi.
Vào đời đố biết bao giờ chán,
Quả phúc dây oan cũng thế thôi.
Bi kịch chính trị của Trần Trọng Kim
Bi kịch chính trị của thầy là ở chỗ này. Dù làm Thủ tướng là một công việc bất đắc dĩ, nhưng ta phải công bằng nhìn nhận trong chính phủ Trần Trọng Kim còn có những nhân vật lỗi lạc như Phan Anh (Bộ trưởng Thanh niên), Hoàng Xuân Hãn (Bộ trưởng giáo dục và Mỹ thuật), Trịnh Đình Thảo (Bộ trưởng Tư pháp)… Lúc này trên trường quốc tế, quân Nhật đã bị quân Đồng Minh đánh quî; trong nước cao trào chống Nhật do Việt Minh lãnh đạo đã lên cao, nhằm giành chính quyền về tay nhân dân. Nội các Trần Trọng Kim bị giải tán nhanh chóng trong cơn lốc thời cuộc. Rời khỏi con đường chính trị, thầy quay trở lại con đường nghiên cứu, biên khảo. Trong hồi ký Một cơn gió bụi viết năm 1949, thầy chua chát nhận ra:
Người Nhật tuy dùng khẩu hiệu “đồng minh cộng nhục” và lấy danh nghĩa “giải phóng các dân tộc bị hà hiếp”, nhưng thâm ý là muốn thu hết quyền lợi về mình. Bởi vậy chính sách của họ đầy rẫy sự trái ngược, nói một đàng làm một nẻo. Cái chính sách ấy là chính sách rất bá đạo ngày nay. Dùng lời nhân nghĩa để nhử người ta vào tròng của mình mà thống trị cho dễ, chứ sự thực chỉ vì cái lợi mà thôi, không có gì là danh nghĩa cả.
Điều đáng tiếc nhất là thầy nhận ra điều này đã muộn màng. Tuy thế, ta có thể hiểu hơn nữa bước đường chính trị của thầy, đáng thương hơn đáng trách. Thầy mất tại Đà Lạt ngày 2/12/1953.
Hoạt động sau Cách mạng tháng Tám
Trong khi đó, vào thời điểm sóng gió nhất, ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thầy Bùi Kỷ đã đến với chính quyền của nhân dân. Thầy là một trong số những nhân sĩ trí thức được Chính phủ Hồ Chí Minh trọng vọng. Trong kháng chiến chống Pháp, thầy được mời tham gia Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu 3 (LK3), làm chủ tịch Hội Liên Việt (LK3), Hội trưởng Hội giúp binh sĩ tị nạn LK3. Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử thầy làm Phó ban lãnh đạo thanh toán nạn mù chữ, sau làm Trưởng ban Bình dân học vụ toàn quốc, được chính phủ tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất. Năm 1945 hòa bình lập lại, thầy là Uỷ viên Chủ tịch đoàn Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy viên Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới, Hội trưởng Hội Việt – Trung hữu nghị.
Những năm cuối đời
Dù tuổi cao sức yếu, nhưng tấm lòng yêu quốc văn vẫn còn nguyên vẹn như thuở nào, thầy vẫn tiếp tục say mê công việc khảo cứu. Tập Tam quốc chí diễn nghĩa, in năm 1959 là tập sách cuối cùng do thầy hiệu đính. Phần sáng tác thơ của thầy được tập hợp thành tập Ưu Thiên đồ mặc, chưa in thành sách, chỉ đăng báo ít bài, nay hầu như đã thất lạc, có lẽ là nơi thể hiện rõ nhất tâm tình tác giả. Thầy mất năm 1960 tại Hà Nội.
Tưởng niệm
Học trò của thầy là Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân có viết vần thơ tưởng nhớ:
Ở trường Cao đẳng dạy văn ta,
Cụ Kỷ là gương sáng thứ ba.
Phó bảng nhưng khinh vòng hoạn lộ,
Mong truyền vốn quý của ông cha.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 9 – Danh nhân sư phạm, Nxb Trẻ.