Thân thế và cuộc đời
Sinh sau Nguyễn Trường Tộ khoảng 10 năm, nhưng qua sự nghiệp canh tân đất nước cuối thế kỷ XIX của Bùi Viện, ta có thể thấy được những nét tương đồng ở hai bậc vĩ nhân này. Bùi Viện sinh năm 1839 (có tài liệu ghi năm 1841 hoặc 1844), hiệu Mạnh Dực, quê ở làng Trình Phố, tổng An Hồi, huyện Trực Định – Nam Định (nay thuộc tỉnh Thái Bình). Ngay từ thuở nhỏ, ông đã nổi tiếng là thần đồng. Ở tuổi thanh thiếu niên, ông là bạn chí thân với Nguyễn Thắng (tức Tam nguyên Yên Đổ sau này). Có giai thoại kể rằng: Một hôm vào tháng mười có tiết heo may, cả hai rủ nhau đi tắm sông. Ông Nguyễn tắm xong vội vã lên trước, vì quá lạnh nên chân run cầm cập, ngoái xuống thì vẫn thấy bạn đang vẫy vùng dưới nước bèn đọc câu đối:
Quân tử náu mình rung nhịp gót,
Lúc đó, ông Bùi cũng lạnh, môi run lập cập, nhưng cũng đối ngay lại:
Trượng phu thích chí gẩy đàn môi.
Nhiều người biết chuyện cho rằng: “Mai sau trong hai người, một người sẽ là bậc hiền lương quân tử, một người sẽ là đấng trượng phu lừng lẫy võ công với đời”. Năm 1864, Bùi Viện cùng em là Bùi Phủng cùng đậu tú tài. Phải mất ba năm sau, Bùi Phủng mới đậu cử nhân, còn ông thì thi rớt. Không lấy đó làm vinh hạnh, vì tuy là anh em ruột thịt nhưng ai có phận nấy, ông làm bài thơ tự trào (Đàm Quang Thiện dịch):
Gió đầy mặt bụi há e chi,
Chưa trải phong sương đã biết gì.
Sân chúa tưởng mài ra ngọc quý,
Hang sâu hãy náu chút hương kỳ.
Tạm ngừng ngựa tuấn trên đường thẳm,
Đành đợi rồng thiêng cuốn gió phi.
Đâu phải em vinh mà anh hiển,
Lò cừ nung nấu chí nam nhi.
Chống giặc ngoại xâm
Qua năm sau (1868) ông mới đậu. Sau đó, hai anh em cùng vào Huế thi hội, nhưng cả hai đều rớt. Bùi Phủng quay về quê phụng dưỡng cha mẹ, còn ông ở lại kinh đô, theo học trường Quốc tử giám để lo chí tiến thủ. Biết Bùi Viện là người thông minh, học giỏi nhưng “học tài thi phận” là chuyện thường tình nên bảng nhãn Vũ Duy Thanh – đang giữ chức Tế tửu tại trường – mới giới thiệu ông cho tham tri bộ Lễ triều đình là Lê Tuấn. Qua trò chuyện, Lê Tuấn khâm phục ông là người có óc khoa học tiến bộ hơn người nên tìm cách cất nhắc. Bấy giờ, thực dân Pháp đã lấy sáu tỉnh miền Tây Nam Kỳ, chúng mở đường ra miền Trung, Bắc để tìm cách nuốt gọn nước ta theo kế hoạch xâm lược. Để đối phó với tình hình nguy ngập này, các võ tướng đều được điều động cấp tốc hành quân ra các chiến tuyến. Năm 1871, Lê Tuấn được lệnh ra Bắc để phối hợp với Hoàng Kế Viêm chống giặc. Trong chuyến này, Bùi Viện có đi theo để giúp về quân cơ, vì Lê Tuấn là người Trung không am hiểu địa thế phía Bắc – dù trên danh nghĩa đối với triều đình thì ông vẫn là kẻ vô danh. Dù vậy, với ông vẫn là dịp để thực hiện chí khí: “Bất tố kỳ nam, bất tố quan” (không làm người con trai khác thường thì không ra cửa ải làm gì). Giáp mặt với thực tiễn, Bùi Viện đã chứng tỏ không chỉ giỏi lý luận mà còn là nhà cầm quân xuất sắc. Tiếng tốt ngày một lan xa. Do đó, khi vừa lui quân về triều đình Huế, ông nhận được thư của Doãn Khuê (có tài liệu ghi Doãn Uẩn) là Doanh điền sứ tỉnh Nam Định – mời ra cộng sự mở mang bến Ninh Hải (tức Hải Phòng ngày nay). Cho dù thời gian chỉ đạo không nhiều, chỉ khoảng 10 tháng – vì cuối năm 1872 theo yêu cầu của Tổng đốc Hải Dương Phạm Phú Thứ, ông phải bàn giao công việc cho người khác để tham gia tiễu phỉ, nhưng Bùi Viện đã chứng tỏ mình là một trong những người tiên phong mở cảng Hải Phòng. Những việc làm này tới tai vua Tự Đức nên ông được khen: “Trẫm với ngươi chưa có ân nghĩa gì mà ngươi đã coi việc nước như việc nhà, không quản xa xôi khó nhọc, quỷ thần chắc ứng cho”. Qua năm 1783, tình hình nước nhà ngày càng nguy ngập hơn, thành Hà Nội, rồi mấy tỉnh trung châu mất vào tay giặc Pháp. Tâm trí vua Tự Đức rối bời như canh hẹ. Hòa hay đánh? Hòa như thế nào? Đánh thì ra sao? Một mặt, nhà vua cử người sang Pháp thương thuyết cầu hòa, một mặt cho người bí mật tiếp xúc với người Anh – để tìm thế đối trọng với giặc Pháp. Có lẽ, vua Tự Đức bấy giờ ít nhiều thấm thía những điều trần của Nguyễn Trường Tộ nên mới quyết định như thế. Nhưng ai sẽ là người chịu trách nhiệm khó khăn này?
Nhà vua nghĩ ngay đến Bùi Viện. Đầu tháng 7/1873, Bùi Viện vào cung bái mạng để lên đường. Tự Đức dặn dò:
– Không nên sơ suất lời nói để người ta biết thực trạng kém cỏi của mình, không nên quá tiết kiệm tiền bạc trong lúc giao thiệp, cốt sao giữ lấy quốc thể.
Trong giây phút chia tay, cầm ly rượu do nhà vua ban, Bùi Viện nhấp môi. Men say chếnh choáng. Nghĩ đến sứ mạng của mình, ông ứng khẩu bài thơ (bản dịch của Phan Trần Chúc):
Hổ tiếng người triều thánh
Băng miền vượt biển khơi
Vầng Hồng non Ngự đợi
Mây trắng đỉnh Côi phơi
Cương thường thân gánh vác
Sương gió bước chơi vơi
Ơn vua sóng gió lặng
Dòng thu thẳng nẻo bơi
Từ Túy Vân Sơn – một trong 20 di tích tuyệt đẹp do vua Thiệu Trị phân hạng – Bùi Viện ra cửa Thuận An, trên chiếc thuyền nhỏ với một ít đồ tặng phẩm và vàng bạc. Suốt nhiều ngay lênh đênh trên biển khơi, ông đã đến Hương Cảng – bấy giờ người Anh đang khai thác và tấp nập tàu bè các nước đến giao thương. Ông tìm mọi cách để giao thiệp với thân sĩ Hương Cảng – dĩ nhiên là bút đàm bằng chữ Hán. Thông qua họ, ông đã làm quen với một viên lãnh sự Hoa Kỳ tại đây. Điều may mắn nữa là người này có mẹ người Trung Quốc, đã từng ở Trung Quốc nên thông thạo ngôn ngữ Trung Quốc. Thành ra cuộc đàm thoại giữa hai người không cần phiên dịch. Viên lãnh sự này khâm phục Bùi Viện tuy còn trẻ, nhưng lúc nào cũng canh cánh cho số phận của Tổ quốc mình. Vì vậy, khi ông đề nghị được giới thiệu để tiếp cận với tổng thống Mỹ Ulysse Simpson Grant thì viên lãnh sự quán giúp đỡ ngay. Ông ta viết lá thư gửi gắm Bùi Viện cho người bạn thân đang làm việc trong dinh tổng thống.
Có được “bửu bối” này, ngay lập tức Bùi Viện đáp thuyền đi Hoành Tân (tức Yokohama – Nhật Bản), từ đây ông đổi tàu đi Cựu Kim Sơn (tức San Francisco) và thẳng tới Hoa Thịnh Đốn (Washington). Như vậy, ông là một trong những người Việt Nam đầu tiên đặt chân lên nước Mỹ.
Ở Mỹ
Do không thông thuộc địa hình, bất đồng ngôn ngữ nên ông phải lưu lại trên đất Mỹ hơn một năm. Cuối cùng, ông mới được tiếp kiến tổng thống U.S. Grant. Trong cuộc gặp gỡ quan trọng này, Bùi Viện trình bày tình hình đất nước mình và yêu cầu tổng thống Mỹ viện trợ để chống lại bọn Pháp xâm lược. Lúc này, Pháp cũng đang can thiệp vào Mexique nên tổng thống Mỹ cũng muốn nhân cơ hội này trả đũa lại. Sự việc sẽ diễn ra như ý muốn, nếu lúc đó Bùi Viện có cầm theo Quốc thư ủy nhiệm của nhà vua nước ta. Do sự thiếu sót trong nghi thức ngoại giao nên ông đành cáo từ và hẹn sẽ quay lại lần thứ hai. Dù vậy, với những văn minh khoa học được chứng kiến ở nước Mỹ, ông cũng khấp khởi hy vọng. Dù sử sách không ghi lại, nhưng ta có thể đoán chắc là trong dịp này, ông có tìm mua rất nhiều sách về khoa học công nghệ hoặc ghi chép lại những điều văn minh mà mắt thấy tai nghe ở xứ người.
Khi đáp tàu quay về Hoành Tân, ông có gặp lại viên lãnh sự đã giúp đỡ mình, hai người bùi ngùi làm thơ xướng họa với nhau. Về nước, tàu vừa cập bến thì được tin mẹ già mất, Bùi Viện về quê thọ tang. Trong sinh hoạt đời thường, Bùi Viện là người con chí hiếu. Lúc cha ốm, ông tự tay săn sóc từ thìa cháo đến ngụm thuốc; khi ngủ ông nằm dưới chân và để cây roi mây bên tay cha, cần gọi chỉ cầm roi vụt nhẹ, khỏi nhọc lòng cất tiếng. Với mẹ, tấm áo tự tay mẹ vá đối với ông còn quý hơn vàng, đi đâu ông cũng đem theo để tưởng như bên cạnh có mẹ. Về thọ tang, ông đã viết bài văn tế thống thiết khóc mẹ:
Khi được tới tàu vừa đỗ bến, đèo Hải Vân theo quán dịch lân la. Tin đâu như sét đánh ngang trời, nghe từ mẫu đã sân Lai vắng vẻ.
Đau đớn nhẽ! Nhà huyên nỗi hơi đồng giá ngắt, non nước bao xa cách trở, biết đâu ngọt bùi, biết đâu ấm lạnh, những ai vì săn sóc thuốc thang? Ngậm ngùi thay! Nhà thông khi tuổi hạc đã cao, công trình kể xiết mấy mươi, nào là khâm liệm, nào là tang trai, những ai giúp sắm sanh tang tế?
Và ông nhắc đến chiếc áo mẹ vá năm xưa thật cảm động:
Trong nhà cửa trước sau đầy tớ, về nhìn coi đủ mặt người. Bước giang hồ ràng buộc áo xiêm, giở đến còn vương tơ chỉ.
Trải mấy ác tà thỏ lặng, trăm năm để một tấm lòng con. Dẫu sông cạn đá mòn, muôn kiếp trả nào xong nghĩa mẹ.
Sau khi an táng mẹ xong, thấy cha già lẻ loi cùng đàn em nhỏ không người chăm sóc mà ông thì còn phải bôn ba việc nước. Sau khi suy nghĩ cân nhắc về chữ hiếu, chữ trung ông đã rước thêm mẹ kế cho cha. Sau đó, Bùi Viện lại lên đường sang Mỹ lần thứ hai, năm 1875. Nhưng thời thế bấy giờ đã thay đổi: Thực dân Pháp cùng triều đình nhà Nguyễn đã ký xong Hiệp ước 1784, công nhận sự bảo hộ của Pháp; và Pháp đã nhượng bộ Mỹ về vấn đề thuộc địa. Do đó, tổng thống Mỹ thay đổi chính sách ngoại giao và từ chối lời cầu viện như đã hứa hẹn.
Cho dù thất bại trong ngoại giao, nhưng Bùi Viện là người có nhiều đóng góp lớn trong việc canh tân đất nước. Ngày 12/4 năm Bính Tý (1876) có một sự kiện bi hài diễn ra mà qua đó, Bùi Viện sẽ trở thành người cải tổ hải quân dưới thời Tự Đức. Ngày tháng đó, bá quan văn võ dùng thuyền ngự ra cửa Thuận An quan sát dân tình. Từ ngoài khơi xa có chín chiếc thuyền chậm rãi đi vào. Đó là thuyền của Nhakinh lược Bắc Kỳ chở hàng hóa và binh lính đổi phiên vào Huế. Bỗng lúc đó cũng có hai chiếc tàu sơn đen của bọn cướp biển Tàu Ô lướt sóng phăng phăng. Chúng chĩa súng bắn vào thuyền của ta, nhưng không vấp phải một sự chống cự nào cả, vì không được trang bị gì, tàu ta chỉ biết giương buồm trốn chạy. Trước tình thế đó, súng thần công của ta nhả đạn chi viện, nhưng đạn không tới được tàu giặc! Sau khi cướp xong, chúng thong dong giong buồm tếch thẳng ra khơi. Chứng kiến cảnh thảm hại này, Bùi Viện có đặt bài vè chế giễu:
Tàu ô hai chiếc thẳng dong
Ào ào súng nổ rồi cùng hét vang
Tung hoành chạy dọc, chạy ngang
Quan quân chẳng thấy, thấy toàn tàu ô
Chúng cười, chúng hét líu lo
Đứa đâm, đứa chém, đứa xô xuống tàu
Các quan thực sự trình tâu
Lệnh vua ngự ở trên lầu truyền cho:
Bao nhiêu đội ngũ thần cơ
Ai mà bắn được Tàu Ô lúc này
Vua ban phước lộc cao dày
Mọi người tuân lệnh nạp ngay súng liền
Bắn thì phát thẳng, phát xiên
Phát thì chẳng trúng nhằm thuyền Tàu Ô!
Rồi ông than trách các triều thần:
Nghĩ đời mà ngán cho đời
Làm tôi ăn uổng lộc trời lắm ru
Nghênh ngang võng võng, dù dù
…
Tham sinh úy tử một bề như nhau
Ăn thì nhằm trước nhằm sau
Đến khi có giặc trụt đầu, trụt đuôi
Cũng xưng là đấng làm tôi
Cớ sao chẳng biết hổ ngươi trong mình?
– “Triều đình tuy dụng công khuyến khích mà nghề buôn của người Việt Nam vẫn không phát đạt, cớ chính vì các thuyền bè công, tư thường bị giặc biển cướp phá ngoài khơi. Trị bệnh tất nhiên phải trị từ gốc, nghĩa là trước lo trừ giặc thì sau mới có hy vọng cho việc thông thương được thêm phát đạt. Tại các nước Châu Âu, người ta lo việc bảo vệ đường giao thông trước, rồi mới khuếch trương việc buôn bán sau”. Từ đó ông trình bày một vấn đề quan trọng: “Hồi tháng hai năm nay, hạ thần đã đi kinh lý khắp miền duyên hải, trực tiếp với một phần lớn nhà buôn có thuyền xuôi ngược ngoài khơi. Theo lời họ khai với hạ thần thì mỗi chuyến bằng lòng nộp cho công quỹ hằng năm, một trăm phương thóc và ba mươi quan tiền để triều đình bảo vệ cho họ khỏi bị tàn hại vì giặc biển.
Triều đình nên lợi dụng ngay cơ hội này mà tổ chức một đội hải quân, trước hết trông nom cho các nhà buôn giao thông được thuận tiện, như vậy mới có thương nghiệp mở mang, sau chúng ta dần dần luyện tập cho thủy thủ các quân thuyền về mặt thủy chiến để sau này có một đội hải quân hùng tráng, sẽ có ngày dùng đến.
Nếu triều đình chấp thuận những đề nghị của hạ thần thì lập tức có thể tổ chức được một thủy đội, trong đó có một ngàn người mà bảy trăm là dân chài lưới ở bến Trà Lý và ba trăm khác là những người Tàu rất thiện chiến về mặt thủy, để làm những tên lính đắc lực. Chiến thuyền và khí giới thì nhà nước cung cấp cho họ. Đội hải quân này sẽ đi tuần tra khắp miền duyên hải của nước ta. Đồng thời họ phải làm ba việc: vận tải lương tiền nhà nước, bảo hộ các nhà buôn và trừ diệt những giặc biển đang hoành hành ở Đông Hải”. Trong bản điều trần này, Bùi Viện còn cho biết, ông sẵn sàng nhận chức huấn luyện cho đội “Tuần dương quân” và sẽ trình bày chi tiết từng vấn đề cụ thể nếu dự án này được triều đình chấp thuận. Khi dâng lên, vua tôi nhà Nguyễn hầu như không đồng tình, vua Tự Đức châu phê lạnh lùng: “Nói lớn mà không làm được là có tội”. Không hiểu sao, qua ngày sau vua lại phê tiếp: “Ngươi nên tự cáng đáng lấy việc này”. Sau đó, phong cho ông chức Tuần tải nha Chánh quản đốc. Với chức vụ được giao phó, ông đã trình bày việc xây dựng thủy đội. Theo kế hoạch của ông, “Tuần dương quân” gồm hai đoàn. Thứ nhất là Thanh đoàn, mặc áo xanh, đội mũ vải – bao gồm những tên cướp biển thiện chiến trong nghề mà ông đã quy phục được, “Phàm người hào kiệt, tất phải hiểu lẽ phải trái mà quyết định việc làm”. Để có được đoàn này, ông xin triều đình có chính sách khoan dung đối với những tướng, quân giặc chịu quy hàng. Bên cạnh đó, ông ra các bản thông báo dán ở bến đò, cửa biển kêu gọi họ hợp tác với mình: “Nay bản chức phụng chỉ triều đình, liệu lý việc tuần tải, đặt đồn mở bến, thật muốn cùng một vài bậc thức giả đem ý kiến trên đây hiểu dụ những tay thủ lĩnh, chứ chẳng cùng anh em chuốc oán, gây thù. Mong rằng anh em hãy bỏ lối nhỏ mà theo đường lớn để cùng giúp nước yên dân. Nếu việc vận tải được thong dong thì suốt từ miền Bắc đến miền Nam thuyền buồm nhan nhản, hàng hóa lưu thông, những mối lợi như cá biển, gỗ rừng, các nhà buôn cùng các anh em cùng hưởng. Như vậy chẳng những anh em lập được danh mà lại có lợi nữa. Không thế thì tức là các anh em có ý làm cừu địch với triều đình, sau này nhà nước sẽ có phen ra tay tuần tiễu thì danh mệnh tất sẽ không còn vẹn toàn”. Phải là người có tài đức, mưu lược thì mới có thể thu phục và sử dụng được đám “lục lâm thảo khấu” này. Bùi Viện đã làm được điều đó. Mục đích của ông là “lấy độc trị độc”. Thứ hai là Trung dũng đoàn, mặc áo nẹp đỏ, đội nón – gồm những thủy thủ người Việt giỏi nghề đi biển. Đáng chú ý là trên 100 năm, Bùi Viện đã nghĩ ra biện pháp mà ngày nay ta thường gọi là “nhà nước và nhân dân cùng làm”. “Phàm những người có tài trí có đức hạnh và muốn lập công danh, đều có thể tự xuất của nhà ra, chiêu mộ quân thủy dũng dùng vào việc vận tải và tiễu trừ giặc biển. Những người đó phải kê khai danh sách những lính mà mìnhmộ được và lấy chữ xác nhận của hương lý và chữ ký cam kết của các thân thuộc làm bằng. Nhà tuần tải sẽ xét hư thực rồi thu dụng lập thành đội ngũ, để bẩm báo về bộ cấp bằng và liệu việc sai phái”. Nhờ những biện pháp tích cực này, chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã xây dựng một đội tuần dương hùng hậu gồm hơn 200 chiến thuyền lớn và 2.000 thủy quân được huấn luyện thiện chiến. Cho dù là Thanh đoàn hay Trung Dũng đoàn thì cũng phải tuân theo một quân lệnh thống nhất. Ông đã đặt ra 12 điều lệnh khen thưởng, kỷ luật phân minh và xây dựng kế dụng binh huấn luyện cho “Tuần dương quân”. Thậm chí, vốn là nhà nho yêu thơ, Bùi Viện còn viết “Quân luật có vần” bằng thơ song thất lục bát để tướng sĩ học mau thuộc mau nhớ:
Anh em trong toán mộ binh
Cứ coi ước thúc tập tành cho hay
Phải nhớ lúc sáng ngày quét rửa
Rồi lại đem nghề võ tập rèn
Súng, gươm bao chuốt cho liền
Người nào việc ấy chớ phiền bảo răn
Từ lúc ngủ khi ăn thong thả
Riêng đồ binh cứ giữ trong tay
…
Khi mua khi bán ra vào
Của dân chớ có tơ hào chi chi
Phàm cờ bạc, rượu chè cấm chỉ
“Tuần dương quan” dưới quyền chỉ huy tối cao của Bùi Viện đã hoạt động có hiệu quả, tiểu trừ được bọn cướp biển (lừng lẫy nhất là trận tháng 5/1878), đã bảo đảm an ninh cho thương thuyền vận tải hàng hóa, nhờ vậy thương mại trên biển dần dần ổn định và phát triển. Người đương thời hết lời khen ngợi, chẳng hạn, thượng Thư bộ Lại Nguyễn Tư Giản cho rằng:
Tài ba lỗi lạc như trời xanh, mặt trời trắng;
Trụ đầu sóng gió như đứng trên vực sâu, tuyết mỏng.
hoặc ngự sử Đỗ Huy Diễn khẳng định:
Hai tay ngang dọc xoay trời lại,
Muôn dặm xông pha dẹp biển yên.
Qua đời
Bên cạnh đó, ông còn là người có sáng kiến thành lập Nha thương chính nhằm chứa hàng hóa và giao thương buôn bán với nước ngoài – trên sông Vị, cửa Cấm và tại Thanh Hóa, Nghệ An, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam… Những hành động tích cực này đã thể hiện rõ tư duy đổi mới trong hoạt động kinh tế của Bùi Viện. Công việc đang tiến hành tốt đẹp thì đột ngột ngày 1/11 năm Mậu Dần (1878) Bùi Viện qua đời! Có thể ông bị đầu độc chăng?
Cái chết của Bùi Viện đã gây thương tiếc cho mọi người. Sự nghiệp cải cách đất nước của Bùi Viện quả đáng kể. Trước hết, ông không như Nguyễn Trường Tộ được du học ở nước ngoài, cũng không như Nguyễn Lộ Trạch được tiếp thu nhiều nguồn thông tin vì là con rể của Trần Tiễn Thành. Giáo sư Vũ Ngọc Khánh cho rằng: “Cần đặt ông vào đúng vị trí trong quá trình vận động duy tân cả đất nước ta. Ông quả thực là một tài năng xuất sắc. Nghĩ được, làm được và cũng đã tạo được một số điều kiện để làm. Khác với Nguyễn Trường Tộ, là người có chương trình kế hoạch rõ ràng, to tát. Nhưng chính cái tầm chiến lược này của ông Nguyễn đã làm cho những kẻ bảo thủ, lạc hậu không chấp nhận được ông (không kể có nhiều nguyên nhân khác gây nên những nghi ngờ, kỳ thị). Bùi Viện trái lại là con người hành động. Và có lẽ là những hành động này rất mới, nhưng lại rất thiết thực, không đụng chạm trực tiếp đến cơ sở ý thức hệ của kẻ cầm quyền, nên ông được hoan nghênh, và đã thành công ở từng mặt nhất định. Tự Đức dành cho ông sự tín nhiệm đặc biệt, có lẽ chính là vì lẽ đó”. Sự thương tiếc ông đã thể hiện qua nhiều câu đối như (tạm dịch):
Làm việc chưa ai làm, dọc đất ngang trời trơ chí lớn;
Không người làm bạn cũ, ôm đàn mở sách nhớ tình xưa.
(Tam Nguyên Yên Đổ)
Kiếp sau chưa dứt tình nhà, nước;
Chí lớn đành trao cạnh biển, non.
(Nguyễn Tư Giản)
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 7 – Những nhà cải cách Việt Nam, Nxb Trẻ.