Khái quát về hiện tượng thơ Bút Tre
Trường phái thơ Bút Tre là một hiện tượng văn học trong những năm cuối thế kỷ XX. Trước hết, nó xuất hiện là nhằm mục đích gây cười. Quả thật, trên văn đàn có một người ký bút danh Bút Tre, nhưng thơ Bút Tre lưu hành có nhiều câu chưa hẳn do người này sáng tác. Mà do dân gian, những con người bình thường trong xã hội tự “ứng khẩu” lưu truyền trong cộng đồng và một khi đã được đám đông chấp nhận thì nó tiếp tục truyền miệng rỉ tai đến người khác. Cứ như thế, những vần thơ Bút Tre lan tỏa và có sức sống lâu bền.
Từ nhà thơ Bút Tre đến trường phái thơ Bút Tre là điều hết sức thú vị và cần được lý giải. Nhưng trước hết thử hỏi Bút Tre là ai?
Thân thế và cuộc đời
Ông tên thật Đặng Văn Đăng, sinh ngày 23/8/1911 tại xã Đồng Lương, huyện Sông Thao (Phú Thọ).
Thiết nghĩ, khi nghiên cứu về sự nghiệp sáng tác của một tác gia, ta không thể bỏ qua thời đại lịch sử mà họ đang sống, thậm chí không thể không nhắc đến nghề nghiệp họ kiếm sống và vùng đất mà họ đã sinh ra. Địa linh thì nhân kiệt. Vị trí địa lý theo tôi cũng ít nhiều để lại dấu ấn trong tác phẩm của người sáng tác. Với trường hợp Bút Tre, ông có chịu ảnh hưởng không?
Tục ngữ Việt Nam có câu “Dọn mặt đi ăn cổ”, trước khi khẳng định thiết tưởng ta dọn lòng ta, bớt đi một nghiêm túc, nghiêm nghị hàng ngày để đến với thơ Bút Tre, đến với chuyện nói khoác “một tấc đến trời” của quê hương Bút Tre.
Chỉ xin kể một chuyện. Chuyện rằng:
Trong đêm nọ tớ đốt đuốc đi soi ếch, chỉ bắt được một con nhỏ bằng quả cau. Vứt cũng uổng, bèn cột nó vào cối xay đổ đầy thóc rồi đi ngủ. Ai ngờ chú ếch nhảy mạnh quá khiến cối quay theo, quay mãi, quay hết cả cối thóc cứ như người xay vậy! Thức giấc thấy mừng quá, tớ đi bắt thêm vài con nữa để về làm giúp chuyện nhà…
Nhà có việc, em đi chợ mua được một con dao. Em đem dao mới ra mổ gà. Em bận việc quá, quên cả rửa dao, cứ đặt con dao dính tiết trên cái dĩa, để ở chân chạn bát. Đêm khuya cả bầu đoàn thê tử nhà chuột đánh hơi đến liếm tiết gà dính trên dao. Xui cho chúng là dao bén quá, con nào đụng đến là đứt lưỡi ngay. Sáng dậy, em thấy lưỡi chuột rụng xuống đầy cả một đĩa! Con dao bén đến phát khiếp!…
Những chuyện hài hước như thế này, chắc chắn thuở ấu thời Bút Tre đã từng nghe và ông vẫn nhớ như in trong óc bởi lẽ, nó phù hợp với cái “tạng” trẻ trung, tinh nghịch, hóm hỉnh của ông. Thật vậy, dù ở cương vị công tác nào thì sáng tác của ông cũng ít nhiều mang hơi hướm lạc quan, yêu đời như thế.
Trước Cách mạng tháng Tám, Bút Tre làm nghề “gõ đầu trẻ” ở Tuyên Quang nên được dân làng gọi một cách kính trọng là “Ông giáo Đăng”. Thời gian này, ông yêu một cô gái Nùng xinh nhất trong trong vùng. Mối tình này đã tạo cho ông cảm hứng để viết thiên truyện dài Lục y lang (Chàng trai áo xanh) đăng trên báo Đông Pháp.
Quá trình công tác và hoạt động tuyên truyền
Sau cuộc “tái sinh kỳ diệu” của dân tộc, năm 1946, ông được bầu làm ủy viên thư ký của Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời xã Đồng Lương và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1947, ông làm báo Giải phóng Khu 10, phụ trách nhà in Xây dựng, rồi làm cán bộ tuyên huấn Khu 10, cán bộ Ban Tuyên huấn tỉnh ủy Phú Thọ. Năm 1952, ông làm phó trưởng ty tuyên truyền văn nghệ tỉnh Phú Thọ, rồi làm tuyên huấn Đoàn ủy Cải cách ruộng đất. Năm 1956, ông giữ chức Bí thư ở Bộ Ngoại giao. Năm 1960, ông về làm Trưởng phòng thông tin Ủy ban hành chánh tỉnh, sau đó phụ trách báo Phú Thọ của Tỉnh ủy Phú Thọ. Năm 1968, làm Phó ban tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Thọ và hai năm sau thì nghỉ hưu.
Lướt qua đôi nét như thế để thấy rằng, những sáng tác của ông trong thời gian này chủ yếu nhằm phục vụ cho công tác đang đảm nhiệm.
Sáng tác phục vụ công tác chính trị
Ta có thể kể đến những tập thơ như Rừng cọ đồi chè, Phú Thọ lớn lên, Sông Chảy, Đồng Tâm thắm thịt tươi da, Một ngày của Phú Thọ, Quê hương Phú Thọ.
Ngoài ra, ông còn có thơ in vào các tờ bướm phát hành rộng rãi xuống làng xã nhằm tuyên truyền chủ trương sách sách của Nhà nước.
Ông cũng là người có công ghi lại câu nói của Bác Hồ đã nói với Đại đoàn Quân Tiên Phong:
Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.
Khi Tổng bí thư Trường Chinh lên thăm Phú Thọ, ông báo cáo lại và được chỉ đạo phải tuyên truyền rộng rãi để giáo dục lòng yêu nước.
Năm 1957, nhân Hội đền Hùng, ông cho cắt chữ dán thành khẩu hiệu câu nói đó, dán vào vải đỏ căng ngang đường lên cổng đền cho mọi người cùng đọc. Sau đó, tranh thủ tại mọi diễn đàn, hội nghị ông đều nêu ra câu nói này để tiếp tục tuyên truyền rộng rãi.
Khi các nhà nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn đưa vào sách, có người đề nghị là bỏ chữ “lấy” trong câu nói đó để câu văn chuẩn xác hơn, nhưng ông không đồng ý, vì sự chân thực của lịch sử, ông đấu tranh để giữ cho bằng được nguyên văn câu nói của Bác.
Đặc điểm thơ Bút Tre và quan niệm sáng tác
Sở dĩ ông cán bộ tuyên truyền Đặng Văn Đăng ký bút danh Bút Tre là do yêu mến hai câu thơ của Tố Hữu:
Nhà nghèo không mực thì son
Bút tre, giấy lá nuôi con học hành
Khảo sát các tập thơ của ông, công bằng mà nói, thơ của ông dung dị, mộc mạc, hồn nhiên, thậm chí không ít câu ngây ngô đến đáng yêu. Đừng tưởng rằng, người viết những câu thơ “bình dân” ấy trình độ học vấn mới i tờ, nên chỉ viết được những câu nôm na như thế. Thật ra, Bút Tre là người giỏi ngoại ngữ, ông lại học để có thể đọc tiểu thuyết bằng nguyên bản tiếng Anh và tiếng Pháp.
Mở đầu tập thơ Một ngày ngày Phú Thọ, ông viết:
Bút Tre ghi xuống thơ mình
Cho người cảm nghĩ, cho tình nông sâu
Nôm na viết tập thơ đầu
Vận cho nhịp sống theo câu văn vần…
Mở đầu tập thơ Tia lửa làng quê:
Trăm năm ở một làng vè
Nghìn câu lục bát, mấy đề về nôm
Khi khuya sáng, lúc hồi hôm
Bà con kể lại, xóm thôn vạn lời
Bút Tre nối bước những ai
Một dòng thơ mở đường quai kể vè…
Có thể xem đây là “tuyên ngôn” của Bút Tre, ông cho rằng mình chỉ là người “kể về”, không phải nhà thơ và các sáng tác ấy chỉ là những câu “văn vần”, “vè nôm”.
Đã có nhiều “công trình” nghiên cứu về hiện tượng thơ Bút Tre, nhưng theo tôi, tiểu luận của ông Ngô Quang Nam – Nguyên Giám đốc Sở VHTT Phú Thọ là sâu sắc và công phu hơn cả. Ông Nam cùng một số thân hữu từng viết Lối thơ Bút Tre (NXB Văn hóa – 2001), Bút Tre – thơ, nghiên cứu, giới thiệu, sưu tầm (NXB Văn hóa thông tin – 1994), Giai thoại Bút Tre (Sở văn hóa thông tin Vĩnh Phú – 1989) quả là “tri âm tri kỷ” với Bút Tre.
Nay xin trích lại để chúng ta cùng thấy sự đóng góp của Bút Tre trong nền thơ Việt Nam hiện đại. Ông Nam tạm gọi “thi pháp” hay cách gọi dân gian là lối, lối thơ Bút Tre:
Lối 1: Lối vắt dòng gẫy câu
Lối 2: Lối viết tắt hay còn gọi là lối chặt từ
Lối 3: Lối để lửng từ, dùng một từ cuối của câu sáu trên để người đọc phải tự gieo vần ở câu tám dưới
Lối 4: Lối hoan hô
Lối 5: Lối thêm tiếp từ ở vị trí thứ 7 câu 8 trong thể lục bát để thành câu có 9 từ
Lối 6: Lối lục bát thông thường nhưng bất thình lình thêm vào thất ngôn vào, tạm gọi là lối lục bát ngẫu hứng song thất
Lối 7: Lối biến âm để tạo vần (còn gọi là cưỡng thanh ép vần)
Tôi mới sơ tính nguyên trường phái Bút Tre, cụ sáng tạo ra đã có đến 7 lối kể trên. Ở vùng cụ, dân gian sáng tác ra lối hát xoan cũng là một lối độc đáo. Lối này có đến chục quả cách, nghĩa các kiểu khác nhau (giai điệu nhịp phách lối khác nhau)… Ai bảo đó không phải là một sự sáng tạo? Có sự sáng tạo và có nhiều người theo ắt đó là phải là một trường phái.
Có điều các tác giả nhại thơ Bút Tre thật, thường không nghiên cứu sâu mà chỉ chú ý đến một hoặc hai lối của cụ, rồi cứ thế phát triển đến mức in cả tập thơ, nhưng bài nào cũng chỉ lặp đi lặp lại một lối thì thật nhàm tẻ…
Thơ Bút Tre thật không có tục hoặc “đố tục giảng thanh” như Hồ Xuân Hương, nhưng khi Bút Tre dân gian thường pha yếu tố tục để tăng tính hài hước vui nhộn. Phải chăng đó là cái “hơn” hay nói khác đi là cái “hậu sinh khả úy” của Bút Tre trẻ?
Đề tài ca ngợi lãnh tụ và quê hương
Khi viết về lãnh tụ, ông đã ca ngợi chân thành, chân thành đến mức:
Thương con, Bác đến thăm nhà
Vẫn lời nói ấm, vẫn là tiếng Thanh
Chòm râu vừa bạc vừa thanh
Trông người Bác đẹp hơn tranh của người
Ông còn ca ngợi:
Toàn cầu chấn động nghe tên
Nổi danh Đại tướng Võ Nguyên nước nhà
Khi diễn tả máy bay đưa Thủ tướng Phạm Văn Đồng về thăm Vĩnh Phú, ông viết:
Tầng cao hiện bóng chim bay
Liệng mừng thành phố cánh này đang chao
Còn về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh:
Ý Đảng đã nhuần trong hợp tác,
Lòng dân còn hẹn với Trung ương.
Lấy ngay truyền thống nuôi truyền thống,
Cờ đỏ sông Lô thắm mái trường.
và:
Bác yêu các chị các anh
Nối tình của Bác, Anh Thanh lại về
Nước sông lộng mát bờ đê
Tình người tắm gội đồng quê nhiều lần…
Tình yêu của Bút Tre dành cho quê hương rất đáng trân trọng, ông viết bằng cả tấm lòng của một người gắn bó với mảnh đất ấy:
Con đường chè! Con đường chè!
Đường son, đất đỏ, chạy trong tre
Đồi nương bát úp ngồi lổm ngổm
Bụi đỏ mù bay dãi nắng hè
Đánh giá về thơ Bút Tre
Điều may mắn lẫn “bất hạnh” của Bút Tre ở chỗ: thơ do ông viết ra thì ít người nhớ, nhưng cái kiểu làm thơ như ông thì nhiều người đã bắt chước theo. Nói như thế, không phải chúng tôi phủ nhận chất lượng sáng tác của ông, bởi trong các tập thơ của ông có không ít câu thơ thật lạ, nó đạt đến “trình độ” ngộ nghĩnh một cách chân thật, không phải nhà thơ chuyên nghiệp nào cũng có thể viết được.
Công bằng mà nói, thơ thật Bút Tre không mấy bạn đọc nhớ đến, ngoài những câu quá nổi tiếng đã trích dẫn như trên.
Sinh thời Bút Tre đã không ít lần bị “dọn vườn” (nghĩa là nhà phê bình chọn những câu ngớ ngẩn, cách viết sai cú pháp để phê phán), nhưng ông vẫn cười khì. Bởi lẽ, ông làm thơ (nói đúng hơn là ông làm vè) không vì “lưu danh thiên cổ” mà nhằm tuyên truyền chủ trương, chính sách của Nhà nước. Càng “phê” thì ông càng được bạn đọc biết đến.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 10 – Danh nhân chính trị, Nxb Trẻ.