Cao Thị Khanh (1900 – 1962)

Cao Thị Khanh (1900 – 1962)

Thông tin cơ bản

Khái quát

Trong lịch sử báo chí Việt Nam trước năm 1975, có ba nhà báo nổi tiếng cùng tên Nguyễn Đức Nhuận. Trước hết là nhà báo Nguyễn Đức Nhuận (1902 – 1970) bút danh Phú Đức cộng tác thường xuyên với báo Trung lập, Công luận…; chủ trương báo Dân thanh, Điện báo… có thời “làm mưa làm gió” trên văn đàn miền Nam thập kỷ 20, 30 của thế kỷ XX với những tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình, phiêu lưu mạo hiểm như Châu về hiệp phố, Lửa lòng, Tình trường huyết lệ, Căn nhà bí mật... Thứ hai là ông Nguyễn Đức Nhuận tự Bút Trà, vừa làm báo vừa làm thơ; và thứ ba là ông Nguyễn Đức Nhuận chủ nhiệm tờ Phụ nữ tân văn (PNTV).

Theo nhà phê bình văn học Thiếu Sơn, trong sách có câu “Phú Nhuận ốc, đức nhuận thân” nên nhiều người đã chọn đặt tên cho con. Dù tên gì đi nữa, khi vào đời lập nghiệp thành công thì đàng sau sự thành công của những người đàn ông ấy, nói chung đều có bóng dáng của người phụ nữ, nhưng thật bất công khi thiên hạ không nhớ đến tên mà chỉ gọi họ theo tên của chồng.

Sự nghiệp

Trường hợp của bà Cao Thị Khanh, sinh năm 1900 tại Gò Công (Tiền Giang) là một thí dụ. Trong số các nhà quản lý có năng lực, xông xáo trên trận địa báo chí miền Nam xưa nay phải kể đến bà Nguyễn Đức Nhuận, người đã cùng chồng chủ trương tờ Phụ nữ tân văn. Đây là tờ báo thứ hai dành riêng cho nữ giới, sau tờ Nữ giới chung do nữ sĩ Sương Nguyệt Anh làm chủ bút, nó đã tạo được một sự nghiệp lừng lẫy, một dấu ấn khó phai trong lịch sử báo chí nước nhà đến nỗi nhà văn Thiếu Sơn khẳng định năm ra đời của tờ báo này “quả là một năm đáng nhớ trong lịch sử báo chí định kỳ Việt Nam”. Phụ nữ tân văn số phát hành đầu tiên ra ngày 2.5.1929 và số chót ghi ngày 21/4/1935. Trong số ra mắt ta thấy có bài “Chương trình của bổn báo” đã nói lên chủ trương:

Phấn son tô điểm sơn hà
Làm cho rõ mặt đàn bà nước Nam

Nay đọc lấy ta thấy vẫn còn có ý nghĩa thời sự:

Ngày hôm nay, Phụ nữ tân văn ra đời, là non sông thêm một tay thợ điểm tô, xã hội thêm một người lo công việc, trên trường văn trận bút thêm một đội binh đàn bà, mà trong bạn buồng khuê của các chúng ta cũng có một cơ quan để cùng nhau phấn đấu với đời đây! Tình thế phụ nữ ở trong nước ta ngày nay quyết không phải là như hồi trước, lấy khuê môn làm cửa ngục cho đàn bà, mà gánh vác non sông không phải là phần việc của con gái. Cuộc đời ngày một thấy khó khăn, mỗi việc bắt người ta phải dùng sức mạnh hay óc khôn, thì mới có cơ sanh hoạt. Chị em ta cũng vậy, không có thể nào cứ giữ hoài những tục cổ thói quen và cái tánh phong phong ỷ lại nữa. Nếu muốn sanh tồn ở đời này, thì cũng phải mưu tự lập lấy mình, phải học hành, phải tranh đua, phải tiến bộ mới đặng. Huống chi còn đối với mọi phương diện ở đời, nào gia đình, nào xã hội, nào giáo dục, nào kinh tế, mỗi việc ta đều phải có nghĩa vụ gánh vác ở trong, không có thể nào từ chối được. Nhà cửa suy hay thạnh, chồng con giỏi hay hèn, nòi giống yếu hay mạnh, đều là những việc ta phải nhận làm việc mình, chớ không có thể chỉ quy trách vào người đàn ông hết cả. Những lẽ đó khiến cho chị em bạn gái chúng ta phải lo tu thân và tiến bộ, để làm cho trọn cái thiên chức của mình và để cho theo kịp người ta mà sanh tồn là như vậy. Nó thành ra một vấn đề phụ nữ, và phải có một cơ quan để lấy chỗ bàn bạc mà làm. Vấn đề phụ nữ ở nước ta ngày nay có những gì? Phải làm sao cho đàn bà cũng có học vấn rộng rãi, trí thức mở mang, có thể hiểu biết được phận sự mình là một bà nội tướng thì mới có ích lợi cho đời được. Đó là một vấn đề giáo dục rất quan hệ, phải lao tâm khổ tứ lắm mới làm xong, mà không dám kể đâu là năm là tháng vì nó làm cái gốc cho sự tiến hóa của người ta, chẳng vun trồng cái gốc ấy cho hẳn hòi, thì không làm gì có ngành tươi lá tốt. Phải làm sao cho người đàn bà hiểu rõ cái thiên chức của mình ở trong gia đình là thiên chức rất lớn. Khuyên chồng trong lúc canh vắng đêm khuya, nuôi con những khi đầu gối tay ấp, chánh thị là công việc nặng nhọc khó khăn mà trời trao cho mình, mai sau xã hội có những người hoặc hiền, hoặc ngu, hoặc hay, hoặc dở đều là quan hệ từ trong gia đình đưa ra. Đã biết non sông tốt đẹp, là vì có những hạng anh hùng, hào kiệt, chí sĩ, danh nhơn, nhưng mà thật ra cái công điểm tô cũng ở mấy người gái khôn, dâu thảo, vợ đức, mẹ hiền nhiều lắm. Phải làm sao cho người đàn bà ai nấy đều biết trọng chức nghiệp để tự lập lấy thân, bỏ hẳn cái thói quen nhờ chồng nhờ con, nhờ cô nhờ bác, làm cho mất cả cái tinh thần hoạt động đi. Phàm ở đời, việc gì đã nhờ ở người, tức là phải lụy người, lụy người tức là phải nô lệ cho người, còn gì mà nói tự do bình đẳng. Phương chi trong xã hội còn thiếu chi nghề nghiệp, đáng lý là của đàn bà, mà bấy lâu đàn ông vẫn làm, chỉ đợi chị em mình ra thâu về, để cho họ đi kinh doanh và tranh đua những việc khác. Phải làm sao cho người đàn bà biết rằng trong nền luân lý và phong tục của ta có nhiều chỗ êm đềm cao thượng, tức là “hương hỏa” của ông cha để lại cho, hãy nên giữ gìn trân trọng. Phải sửa sang thay đổi cho hợp với thời thế, là một lẽ tất nhiên, nhưng nghĩ xem cái bổn sắc nào của mình là hay, thì phải giữ lại một cách cung kính. Chớ có nên quá tự do văn minh, ra ngoài xã hội, là người vô giáo dục. Có học theo người ta, phải tìm tới gan ruột, nào có hay chỉ cái ruột ở bề ngoài. Lại còn phải làm sao cho người đàn bà biết lịch sử để mà yêu nước, biết vệ sanh để mà nuôi con, biết luật pháp để mà giữ mình, biết cách thức để mà làm việc… Bao nhiêu cái đó đều là bước đường người ta đã qua rồi, mà chị em mình bây giờ mới đi tới, vậy phải xem trước ngó sau, lựa hay bỏ dở, nghiên cứu và tiến hành thế nào cho thích hợp với tình thế cùng là sự cần dùng của mình mới được. Công việc của Phụ nữ tân văn định làm là như vậy đó, tấc lòng son sắt dám đem để trước mặt non sông, nửa bước chông gai, vậy phải nhờ các bạn đồng chí. Các bạn yêu quí, dọc trong tập báo này, đủ thấy tâm sự và mục đích của chúng tôi ra thế nào. Nói tóm lại: Phụ nữ tân văn là một cơ quan độc lập, chuyên tâm khảo cứu những vấn đề quan hệ đến đàn bà, tức là quan hệ tới quốc gia xã hội. Phụ nữ tân văn không có đảng phái nào hết, chỉ thờ chân lý làm thần minh, tổ quốc làm tôn giáo. Phụ nữ tân văn mở cửa rộng cho khắp cả mọi người, ai có ý kiến gì hay cứ việc bàn, ai có điều gì uất ức cứ việc bày tỏ. Phụ nữ tân văn có ích cho cả đàn bà đàn ông, người lớn người nhỏ, vì trong đó có bàn bạc đủ các vấn đề, trên từ xã hội chính trị, dưới tới những chuyện thường thức gia đình. Phụ nữ tân văn ra công gắng sức, cốt vì chị em mưu một cái hạnh phúc chánh đáng, vì xã hội mưu một địa vị tương lai, nhưng mà trời mưa sức yếu, gánh nặng đường xa, vậy anh em chị em đồng chí hãy coi tập báo này là tập báo chung mà hết sức tán thành và giúp đỡ cho. Thế thì ngày hôm nay đây, tức là ngày chị em ta từ trong trướng gấm phòng khuê, đánh trống phất cờ ra để phấn đấu cho đoàn thể của mình, và phấn đấu cho cả xã hội vậy.

Quả là một chánh kiến sắc sảo và đầy nhiệt tình của người làm báo. Tòa soạn của báo Phụ nữ tân văn lúc đầu ở 42 Catinat (nay là Đồng Khởi); từ tháng 8/1931 dời đến 48 Vannier (nay Ngô Đức Kế); từ 1/1934 dời về 65 Massiges (nay Mạc Đĩnh Chi). Thành phần ban biên tập của Phụ nữ tân văn có những cây bút “sừng sỏ” sắc sảo như “quý bà quý cô”: Nguyễn Đức Nhuận, Hướng Nhựt, Phạm Vân Anh, Thu Tâm nữ giáo, Cao Thị Ngọc Môn…; “quý ông” Đào Trinh Nhất, Phan Khôi, Trịnh Đình Dư, Hồ Biểu Chánh, Trần Văn Đôn, Trịnh Đình Thảo…; các “cộng tác viên” như Đạm Phương, Phan Thị Bạch Vân (chủ nhân Nữ lưu Thư quán), Vân Đài, Nguyễn Thị Kiêm (tức nữ sĩ Manh Manh), Thiếu Sơn, Quách Tấn, Thượng Tân Thị, Tản Đà, Trần Tuấn Khải, Trần Thanh Mại, Lưu Trọng Lư… Tờ báo này đã tạo được uy tín lớn về nhiều mặt. Và cũng trong số báo ra mắt, ta thấy có bài báo “Lời tâm huyết cùng chị em đồng bào” ký tên bà Nguyễn Đức Nhuận. Bài báo này nêu rõ quan điểm, “chủ ý của người sáng lập ra tờ báo này”: “Nghĩ vì: cây có cội, nước có nguồn, dân tộc ta sở dĩ không phải là bọn “ăn góc biển, ngủ đầu rừng” như dân da đỏ ở Nam Mỹ, cùng là “tối vầy đoàn, sớm rẽ bạn” như dân da đen ở Châu Phi, chính vì chúng ta nhờ được nếp từ xưa, cội nguồn vững chắc, suốt bốn ngàn năm đã sống rất vẻ vang trên cõi đất này. Sự vẻ vang ấy đành có nhờ đất đai phì nhiêu, lịch sử tô điểm, mà nhờ hơn hết là lề lối cang thường tốt đẹp, mà ông cha ta đã để lại cho ta.

Văn minh Đông Á trời thâu sạch,
Nay lúc luân thường đảo ngược ru?

Tình thế đã như vậy, chị em ta không lẽ chỉ than dài, thở vắn rồi lần lữa bỏ qua, chị em ta quyết phải hiệp hội nhau, xúm sít nhau trong một cơ quan chung của xã hội, gìn giữ chút “hương hỏa” tinh thần của tổ tiên để lại. Hương hỏa ấy không phải không đẹp, mà chị em ta đành xem thường! Chị em ta là kẻ tề gia nội trợ mà không chăm nom gìn giữ thì còn đợi ai bây giờ?”.

Lời kêu gọi của một người phụ nữ trí thức của thế kỷ XX, nay đọc lại thấy thật tâm huyết và bản lĩnh vững vàng. Người trước nhất đã có công nghiên cứu về tờ báo này phải kể đến Bằng Giang. Chính ông đã viết tiểu luận công phu “Phụ nữ Tân văn 1929 – 1935, một đỉnh cao của báo phụ nữ thời thuộc địa ở Sài Gòn” (Đọc Sài Gòn cố sự – NXB Văn học – 1998). Theo ông, tờ báo này đã đi từ phong trào yêu nước đến thiên tả; tích cực phấn đấu cho nữ quyền từ trong gia đình đến xã hội. Bên cạnh đó, tờ báo này cũng có nhiều sáng kiến trong hoạt động văn hóa, xã hội như thành lập “Việt Nam Phụ nữ học bổng”, tổ chức hội chợ Phụ nữ nhằm tạo quỹ giúp Hội Dục Anh v.v… Ông đã kết luận xác đáng: “Những người khai sinh và đóng góp cho sự sống nó (tức báo Phụ nữ tân văn) tuy không trực tiếp tham gia những cuộc đấu tranh nhiều lúc có đẫm máu trong mấy năm đầu thập niên 30 trên khắp mọi miền đất nước, nhưng họ đứng về phía đồng bào quật khởi. Họ chỉ có phương tiện đấu tranh là ngòi bút. Nghiêm Toản có nhận xét: “Khi cách mạng cao trào, nhiều tờ báo (như Thần chung, Tiếng dân, Phụ nữ tân văn…) đã có bài viết thiên về lập trường tranh đấu”. Chính cái chỗ đứng chính trị, cái tinh thần đấu tranh cùng nhữngđóng góp trong hoạt động xã hội và sinh hoạt văn học mà nó xứng đáng đi vào lịch sử văn học và báo chí.

Từ trước năm 1945, Dương Quảng Hàm đã phải kể đến Phụ nữ tân văn trong Việt Nam Văn học sử yếu (1943). Không phải tờ báo nào cũng có thời cực thịnh, Hoài Thanh và Hoài Chân đã không quên “thời cực thịnh” đó của Phụ nữ tân văn. Trong làng báo, có tờ thất bại, có tờ thành công hiểu theo nghĩa tích cực. Huỳnh Văn Tòng đánh giá Phụ nữ tân văn “thiên về đại chúng” để gặt hái được “thành công vẻ vang”. Với Nguyễn Văn Xuân thì: “Tờ Phụ nữ tân văn là tạp chí thành công nhất từ trước đến nay ở miền Nam, là cái thành tựu rất cao của những cố gắng của trí thức miền Nam trên con đường hiện đại hóa văn học và báo chí… Có thể nói đây là tạp chí quan trọng nhất mở màn cho thời kỳ văn học mới 1928 – 1929 – 1945, chứ không phải 1932 – 1945 cho toàn quốc như nhiều nhà văn học sử thường sắp xếp. Nếu ai hay nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam, đã từng biết giá trị tích cực của vai trò tuần báo đối với nền văn học mới, mới thấy rõ thêm điểm nhận định trên đây về vai trò Phụ nữ tân văn”. Vai trò đó, Bùi Xuân Bào đánh giá là “quan trọng” trong công trình nghiên cứu (bằng tiếng Pháp) công phu và nghiêm túc về tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. “Phụ nữ tân văn là tờ báo phụ nữ duy nhất ở Sài Gòn cung cấp cho tác giả nhiều cứ liệu có giá trị góp phần vào việc tìm hiểu thấu đáo nhiều khía cạnh ở chiều sâu của đề tài. Trong non nửa thế kỷ tính đến năm 1975, không có một tờ tuần báo phụ nữ thứ hai nào có vai trò quan trọng và thành công vẻ vang như Phụ nữ tân văn” (SĐD, trang 59 – 61).

Thật vậy, khi tìm hiểu về một giai đoạn báo chí Việt Nam, chúng tôi nhận thấy hầu hết các nhà nghiên cứu cùng đánh giá rất cao vai trò của Phụ nữ tân văn. Chẳng hạn, nhà báo Nguyễn Ngu Í trong chuyên đề Thử nhìn lại 100 năm báo chí (1865 – 1954) đã nhận định: “Phụ nữ tân văn được hoan nghênh khắp ba kỳ, phải chăng vì nó dung hòa được sở thích của độc giả và ý muốn của người chủ báo?Nếu Nam phong là một cụ già khắc khổ, bàn những chuyện nghiêm trang, sâu rộng thì Phụ nữ tân văn quả là một cô gái con nhà nề nếp nhưng tánh tình vui vẻ, lời lẽ bình dân, ta có thể cùng cô nói chuyện trên trời dưới đất, bốn biển năm châu hay chuyện trong nhà, dưới bếp. Ông già Nam phong ta kính, đứng xa mà kính, còn cô gái Phụ nữ tân văn, ta mến ta thương, và muốn được cô làm bạn. Chủ bút là Đào Trinh Nhất. Nhưng làm cho tờ báo có uy thế đặc biệt trong làng là Phan Khôi.

Giọng văn rắn rỏi của ông Tú xứ Quảng cùng cái lý luận được gọi là “lý luận Phan Khôi” đã tạo cho ông một cá tính độc đáo. Ông đả kích đạo Nho, ông minh oan Võ Hậu, ông tấn công “học phiệt” Phạm Quỳnh, ông giới thiệu “cô dâu” Thiếu Sơn, ông gieo mầm Thơ mới, ông đóng vai ngự sử trên văn đàn, ông bút chiến với nhiều tay cự phách, ông đồ Nho trong lốt đồ ấy từng làm cách mạng, từng đọc nhiều đi nhiều này đã góp sức nhiều trong việc nâng cao giá trị của tờ báo. Người ta còn để ý đến tiểu thuyết ký tắt B.Đ: Mảnh trăng thu, Cậu tám Lọ – mà sau này mới rõ là Bửu Đình, một người tù chính trị ở Côn Đảo đã bí mật gửi về; đến ngòi bút của Manh Manh (tức Nguyễn Thị Kiêm) binh vực Thơ mới, đi diễn thuyết từ Nam ra Bắc. Sự thành công của Phụ nữ tân văn một phần lớn do ông bà chủ báo – ông bà Nguyễn Đức Nhuận – tuy ở giới bán buôn to mà biết “chiêu hiền đãi sĩ”, biết đối xử và thù lao xứng đáng đối với những người hợp tác với mình, có nhiều sáng kiến và biết tán thành sáng kiến của người khác” (báo Bách Khoa số ra ngày 15/1/1966). Nhà phê bình văn học, nhà báo Thiếu Sơn nhớ lại: “Hồi đó có cuộc khởi nghĩa Yên Bái và vụ xử án những nhà cách mạng Việt Nam Quốc dân đảng, chính độc giả ngoài Bắc lại trông đứng trông ngồi những số báo Phụ nữ tân văn từ trong Nam gửi ra để được nghe những lời nói can đảm bênh vực những người hy sinh cho giống nòi và đất nước. Những lời nói như thế không thể có được ở báo giới miền Bắc hồi bấy giờ”. Dám viết mạnh bạo như thế một phần do cơ chế báo chí ở đất thuộc địa Nam kỳ có “thoáng” hơn ngoài Bắc, nhưng cái chính vẫn là sự dũng cảm, bản lĩnh của ban biên tập.

Với những ý kiến trên, ta thấy Phụ nữ tân văn đã dõng dạc gióng một tiếng chuông về các vấn đề chính trị, xã hội, văn hóa… để đánh thức quốc dân khiến nhà cầm quyền lo sợ phải đình bản tờ báo. Để lại một dấu ấn rực rỡ như thế, tất nhiên là công lao của người trí thức trực tiếp chiến đấu trên mặt báo, nhưng ta không thể quên được vai trò của nội tướng Cao Thị Khanh. Tục ngữ Việt Nam ta có câu “Một người lo hơn kho người làm” có thể áp dụng trong trường hợp này chăng? Nếu bà Khanh không giỏi việc “bếp núc” sau mặt báo như quán xuyến việc kinh doanh in ấn, thu vén tính toán từ khâu phát hành đến nhuận bút v.v… Và quan trọng hơn cả là không có bản lĩnh và tri thức để chia sẻ với ban biên tập về thái độ chính trị và lựa chọn thế đứng của người cầm bút thì liệu Phụ nữ tân văn có thể thực thi được khát vọng của mình không? Khi tìm hiểu các chuyên mục trong báo Phụ nữ tân văn, tôi ngờ rằng bà Cao Thị Khanh là người trực tiếp phụ trách các mục như Phụ nữ hướng truyền, phụ nữ vệ sanh, Gia chánh… hoặc ít ra bà là người rất ủng hộ. Bên cạnh đó, bà còn là người tích cực hoạt động xã hội. Bà đã cố vấn cho Ban trị sự của Hội Dục Anh, được phép hoạt động theo Nghị định ký ngày 7/11/1931 của Thống đốc Nam kỳ. Để giúp Hội có quỹ mở Viện Dục Anh, bà cùng ban biên tập Phụ nữ tân văn tổ chức Hội chợ phụ nữ.

Có thể ghi nhận đây là một trong những sáng kiến sớm nhất của phụ nữ Sài Gòn trong việc tổ chức hội chợ gây quỹ từ thiện. Hội chợ của Phụ nữ tân văn tổ chức trên đường Lareynière (nay Trương Định, Q.3) từ ngày 4 đến 7/5/1932, đáng chú ý là trong những ngày này còn có những buổi diễn thuyết các vấn đề liên quan đến phụ nữ như bà Ngọc Thanh: “Đàn bà và việc dục anh”; bà Nguyễn Thị Kiêm: “Nữ lưu và văn học”; Bùi Thị Út: “Nữ lưu đối với thể dục”; bà Phan Thị Gia: “Phụ nữ giải phóng” và đặc biệt có “nữ tướng” Phan Thị Chẩn, 36 tuổi, người Giồng Luông (Bến Tre) tuyên bố… thí võ với các đấng mày râu! Xem ra chương trình cũng phong phú lắm chứ. Vẫn biết mọi sự so sánh đều khập khiễng, nhưng nếu nhìn vào các hội chợ tổ chức ở cuối thế kỷ XX sang đầu thế kỷ XXI ta thấy chương trình nghèo nàn hơn nhiều.

Bởi lẽ, trong các hội chợ ấy, chỉ đơn thuần là mua bán, khuyến mãi và… ca nhạc phụ trợ mà thôi, chứ ít có hội chợ nào có sáng kiến đưa người lên diễn thuyết về một vấn đề nào đó nhằm nâng cao nhận thức của quần chúng như Phụ nữ tân văn đã làm. Ngoài ra, Phụ nữ tân văn còn tổ chức những chương trình xã hội khác, nhưng nhân vật nòng cốt vẫn không ai khác hơn là bà Cao Thị Khanh. Có thể kể đến những sáng kiến vẫn còn có ý nghĩa thời sự như kêu gọi đồng bào tinh thần “lá lành đùm lá rách” là lập những cơ sở nấu ăn bình dân dành cho người nghèo “lỡ chân hụt bữa”; lập Nữ lưu học hội “để cho chị em nào cần học, cần tiêu khiển, cần học tập nhiều món công nghệ hay đều có thể họp lại một nơi”; lập Hội cựu học sanh nữ học đường; phát phần thưởng văn học và đức hạnh.

Những việc làm tích cực này, nay nhìn lại ta càng khâm phục cho sự năng nổ của bà chủ nhiệm Phụ nữ tân văn cùng các cộng sự của bà. Không dừng lại đó, Phụ nữ tân văn còn có kế hoạch thực hiện những sáng kiến khác như thành lập Viện tế bần cho người cùng khổ, Hợp tác xã cho người tiêu thụ, Phụ nữ ấn thơ quán, nhưng rất tiếc nhà cầm quyền đã “đánh hơi” được ý nghĩa xã hội của nó nên nhanh chóng rút giấy phép Phụ nữ tân văn – cơ quan yểm trợ đắc lực về tuyên truyền và tài chính. Trên Phụ nữ tân văn số 126 (4/7/1932) trong bài Nữ quốc dân, bà Cao Thị Khanh trình bày quan điểm rõ ràng: “Ngày nay phong hội đã đổi mới rồi, tầm con mắt của kẻ khuê các nên đem ra xa rộng hơn gia đình mới phải. Ừ thì học là cốt sau này làm vợ phải đạo, làm mẹ cho xứng đáng, song cái mục đích thứ nhứt là phải làm dân của nước. Dân của nước là một phần tử trong xã hội, có nghĩa vụ và có quyền lợi, phải lo lắng cho nước mình. Chẳng phải như thế là đủ, chị em ta phải cổ động cho hết thảy phụ nữ đều có tư cách dân của nước”.

Bà đã sống và thực hiện đúng theo những suy nghĩ của mình. Về cuộc đời riêng của bà, cho đến nay không có nhiều tài liệu để giúp ta hình dung rõ hơn nữa. Duy chỉ có nhà văn Thiếu Sơn trong tập sách “Những văn nhân, chính khách một thời” cho biết một vài chi tiết: “Bà Nguyễn Đức Nhuận chết ở bên Pháp cách đây hơn 30 năm. Ông Nguyễn Đức Nhuận năm 1968 đã ra người thiên cổ”. Tra cứu trong Từ điển Thành phố Sài Gòn-Hồ Chí Minh (NXB Trẻ – 2001) ở mục “Cao Thị Khanh” ta được biết cụ thể bà “mất tháng 5/1962 tại Pháp”. Nhà báo Thiếu Sơn còn cho biết: “Phụ nữ tân văn cũng có thể tự hào là đã góp phần giác ngộ cho đồng bào thấy rõ số phận của mình mà kiên định lập trường dân tộc và cách mạng. Trong số những người được Phụ nữ tân văn giác ngộ lại có con đầu lòng của ông bà Nguyễn Đức Nhuận là anh Nguyễn Đức Vĩnh. Ngay từ giờ phút đầu tiên, anh Vĩnh đã gia nhập Thanh niên Tiền phong rồi rút luôn ra khu để kháng chiến. Anh hăng say chiến đấu và đã hy sinh ở Thủ Dầu Một dưới làn đạn của quân thù ngay từ năm 1945. Anh đã sống vinh quang, đã chết xứng đáng để thực hiện những lời nói của cho mẹ anh trên Phụ nữ tân văn”.

Nhìn trên văn đàn và báo chí của thập niên 1930, ta thấy những cây bút nữ lập luận sắc bén như thế không nhiều, chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay như các bà Đạm Phương, Trần Thị Như Mân, Phan Thị Nga, Nguyễn Thị Kiêm, Phan Thị Bạch Vân, Cao Thị Khanh… Hầu hết các bài viết của họ đều đăng trên các báo chí thời đó, nay không mấy ai còn biết đến. Thế nhưng, chúng tôi tin rằng nay mai sẽ có những nhà nghiên cứu vì tinh thần dân tộc mà vào thư viện trong và ngoài nước lật từng trang báo ố vàng, phủ từng lớp bụi thời gian để sưu tập và công bố đầy đủ các bài viết này. Nếu được như thế thì diện mạo văn học và báo chí với sự đóng góp của các bậc nữ lưu Việt Nam mới hiện ra rõ nét hơn trong tâm thức thế hệ sau. Với trường hợp bà Cao Thị Khanh, chúng tôi tin rằng, không ít những bài viết của bà vẫn còn ý nghĩa thời sự, hoặc ít ra các bài viết ấy cũng cho ta biết được nguyện vọng, ước mơ và bản lĩnh của một phụ nữ Việt Nam khi xông pha trên trường văn trận bút.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 8 – Các vị nữ danh nhân Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Cao Thị Khanh

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)