Thông tin chung
Ánh trăng nhợt nhạt trải dài trên sông nước mênh mang.
Gió lao xao ngoài rừng tràm, rừng đước… Đâu đó vọng về tiếng hò như mơn trớn, như quyến luyến không dứt: “Hò ơ… ơ! Anh thương em, anh sắm cho em bộ áo dài màu cà, màu huyết. Anh đây nói thiệt, chẳng phải nói càn. Anh đây sắm cho em một cây kiếng vàng chạm tòng, chạm bá; một bộ cà rá chạm cửu long hườn. Anh sắm cho em áo túi đủ màu, lụa Hà Đông, lục soạn. Anh chỉ sắm cho anh một cái nón lá đáng giá hai đồng xu. Ăn cơm rồi, anh hút thuốc rê vấn lá trâm bầu. Miễn cho anh một chữ ăn nằm tình chồng nghĩa vợ, cực khổ gì anh cũng chẳng có than…”. Tiếng hò lao xao lời tình tự của đôi lứa đang yêu. Còn chẳng lẽ, mối tình đầu của mình lại kết thúc buồn bã thế này sao? Chàng trai của vùng đất mới phương Nam nén tiếng thở dài. Trên vòm trời lập lòe một vài con đom đóm bay qua. Bất chợt, lại có tiếng hò vọng lại buồn não ruột: “Hò ơ… ơ! Gió thổi liu riu, giề lục bình trôi líu ríu. Xin đừng bận bịu bớ điệu chung tình…”. Một giọt nước mắt nóng lăn dài trên má. Chàng đã khóc. Lẽ nào vì quan niệm “tam niên vô tử bất thành thê” mà mình phải “để” vợ? Nhớ ngày nào cũng trên sông nước mênh mông này, qua câu hò, mình tỏ tình với nàng, cùng thề ăn đời ở kiếp với nhau. Đêm ấy, ánh trăng cũng tái nhợt như đêm nay nhưng tiếng cười trong trẻo của nàng vang lên nghe ấm áp quá chừng! Chao ơi! Mường tượng lại giọng cười ấy, chàng tưởng chừng như ai đó lấy dao đâm vào trong trái tim mình. Chàng đau nhói trong ngực. Theo chữ tình hay theo chữ hiếu? Tâm hồn chàng rối bời. Tiếng vạc ăn sương rơi lạc lõng trên thinh không…
Đêm đã khuya. Sương thấm áo. Gió thổi qua rặng cây mắm, mù u, ô rô… những âm thanh của quê kiểng. Nhớ đến vợ mà nay mai phải xa cách, chàng cầm cây đàn trút tâm sự buồn bã của mình xuống dây Bắc với từng cung bậc “Hò lìu xang xế cống…”. Lẽ nào, người tình từng đầu ấp tay gối, chỉ vì không sinh con mà mình phải bỏ để ăn nằm với người khác? Trời xanh thăm thẳm nào chứng giám cho sự bội bạc này? Vợ chàng dù rất yêu chàng, nhưng cũng sợ lời mắng nhiếc của mẹ chồng nên đã trốn về nhà cha mẹ. Còn chàng bị mẹ canh chừng nên không đi tìm vợ được. Gạt nước mắt, chàng ngước nhìn lên vòm trời và cất tiếng hát:
Từ là từ phu trướng
Bửu kiếm sắc phong lên đàng
Vào ra luống trông tin chàng
Đêm năm canh mơ màng
Em luống trông tin nhạn
Ôi! Gan vàng quặn đau
Đường dầu xa ong bướm
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
Còn đêm luống trông tin bạn
Ngày mỏi mòn như đá vọng phu
Vọng phu vọng, luống trông tin chàng
Lòng xin chớ phụ phàng
Chàng hỡi chàng có hay
Đêm thiếp nằm luống những sầu tây
Biết bao thuở đó đây sum vầy
Duyên sắt cầm đừng lợt phai
Thiếp cũng nguyện cho chàng
Nguyện cho chàng hai chữ bình an
Mau trở lại gia đàng
Cho én nhạn hiệp đôi.
Tiếng hát bật ra từ lồng ngực đang đau đớn điên dại. Từng câu chữ cứ trào ra, trào ra những cảm xúc chân tình, nồng nàn nghĩa vợ tình chồng. Lúc ấy, trong tâm trí của chàng nghĩ đến điển tích “Chức cẩm hồi văn” qua tâm trạng của nàng Tô Huệ – vợ Vương Thao. Chồng của nàng đi lính đóng ở phương xa lâu ngày không về, nàng ở nhà thương nhớ chồng da diết, không biết làm sao bèn làm bài văn thêu lên gấm. Sau đó, nàng đem dâng lên nhà vua, xin cho vợ chồng cùng sum họp. Vua xem xong động lòng thương người vợ có tài, thủy chung mà cho chồng về cố hương. Tiếng hát vừa dứt, chàng cũng cảm thấy lòng mình nhẹ nhõm. Chắc chắn, lúc ấy chàng không nghĩ bản “Dạ cổ hoài lang”(Đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng) sẽ trở thành bài “Vọng cổ” thông dụng nhất trong giới cải lương, bản nhạc vua của sân khấu ca kịch.
Thân thế
Chàng thanh niên có tâm sự buồn đó là nghệ sĩ Cao Văn Lầu (thường gọi Sáu Lầu) sinh năm 1892 (có tài liệu ghi năm 1890), là con thứ sáu trong một gia đình nghèo ở xã Thuận Mỹ, Tân An (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Long An). Nhưng do sinh kế, năm ông lên bốn tuổi thì cha ông đã đưa gia đình về Cà Mau lập nghiệp và định cư ở Bạc Liêu. Do người cha mê nhạc cổ nên ngoài thời gian đi học, Sáu Lầu còn được cha cho đi học ban đêm lớp cổ nhạc ở nhà thầy Nhạc Khị – người mà giới mộ điệu thời bấy giờ tôn vinh là nghệ sĩ chơi nhạc tài tử giỏi nhất. Càng học, Sáu Lầu càng chứng tỏ mình là người sáng dạ, ai ai cũng thán phục. Có lần, Sáu Lầu điều khiển ban nhạc lễ lớn với các thầy đờn ở lục tỉnh về thi thố tài năng. Thầy Nhạc Khị nói: “Thằng Lầu xứng đáng thay mặt thầy đi thi mà không lo lắng gì cả”. Đây cũng là thời gian mà Sáu Lầu thầm thương trộm nhớ cô Hai Thân – con gái của thầy. Nhưng rồi do gia đình quá nghèo, cuộc tình duyên này không đi đến đâu cả. Buồn bã, Sáu Lầu nghỉ học. Thời gian sau, chàng đứng ra thành lập ban nhạc lễ để phục vụ bà con chòm xóm và dần dần có tiếng vang khắp lục tỉnh. Năm 1916, cô Hai Thân bước lên xe hoa về nhà chồng thì gia đình cũng đứng ra cưới vợ cho Sáu Lầu – cô Trần Thị Tấn.
Sự nghiệp
Cuộc hôn nhân này, ai cũng khen là đẹp đôi. Nhưng mãi đến ba năm sau, năm 1919 cả hai vẫn chưa có con nối dõi. Bởi vậy nên mới có chuyện bắt ông để vợ và sự ra đời của bản Dạ cổ hoài lang như đã nêu ở trên. Lạ thay, sau khi hoàn thành bản “Dạ cổ hoài lang” thì ít lâu sau vợ ông thụ thai. Có lẽ, trời đất không phụ người sống có nhân nghĩa chăng? Trước tin vui này, nhiều người đã chúc mừng ông và nói vui: “Chao ơi! Con của thầy đờn có khác, nó chờ ba nó viết xong bản nhạc nó mới chịu ra đời”. Hai người có với nhau được bảy người con – năm trai và hai gái.
Bản “Dạ cổ hoài lang” được Cao Văn Lầu đem ra đờn cho anh em nghệ sĩ nghe để họ có ý kiến đóng góp. Trong số những người này có ông Trần Xuân Thơ – thầy tuồng của gánh hát Ba Xú ở Bạc Liêu đề nghị tác giả đổi hai chữ “Dạ cổ” (tiếng trống đêm) thành chữ “Vọng cổ” (trống vọng lại) cho rộng nghĩa hơn. Thế là từ đó, nó mang tên Vọng cổ hoài lang, được mọi người yêu thích, chiếm vị trí trụ cột trong các buổi biểu diễn và dần dần thay thế cho bài Tứ Đại oán trong tỉnh Bạc Liêu. Nhà nghiên cứu Trương Bỉnh Tòng cho rằng: “Là một bài bản thuộc điệu thức Oán, gồm 20 câu, mỗi câu 2 nhịp. Giai điệu nhạc rất đặc sắc, mới nghe qua có chút gì đó của hơi Xuân (Hành vân) lại có một chút gì đó của hơi Ai (Xuân nữ), rồi từng chập lại nghe hơi Dựng (Tứ đại oán). Cả ba làn hơi Xuân, Ai và Dựng quyện lấy nhau, làm cho Dạ cổ hoài lang càng nghe càng hấp dẫn”.
Sau đó, gánh cải lương Tập Ích Ban của nghệ sĩ Tư Chơi (tức Huỳnh Thủ Trung) và nhiều nghệ sĩ khác đã có công phổ biến rộng rãi và phát triển từ nhịp đôi lên nhịp 64… Thời kỳ từ năm 1920-1926 là nhịp đôi nguyên thủy, người đầu tiên đưa Dạ cổ hoài lang lên sân khấu là Nguyễn Trọng Quyến với vở Bội phu quả báo do Phạm Công Bình sáng tác – trong đó, nhân vật Lý Ngọc Thơ đã ca nhịp đôi do Nguyễn Trọng Quyến viết; thời kỳ 1927-1935 tăng lên nhịp 4 với tác phẩm tiêu biểu là Tiếng nhạn trong sương của tác giả Tư Chơi và đầu tiên nó được sử dụng trên sân khấu cải lương qua vở Giá trị danh dự của soạn giả Năm Châu; thời kỳ 1936-1945 tăng lên nhịp 8 qua tác phẩm đầu tiên là Văng vẳng tiếng chuông chùa do nghệ sĩ Năm Nghĩa ca tại Bạc Liêu, rồi được thu dĩa phát hành rộng rãi; thời kỳ 1946-1954 tăng lên nhịp 16 với tác phẩm Tôn Tẫn giả điên do đệ nhất danh ca Út Trà Ôn thể hiện rất độc đáo; thời kỳ 1955-1964 tăng lên nhịp 32 như bản vọng cổ tiêu biểu là Đội gạo đường xa của soạn giả Kiên Giang với giọng ca của nghệ sĩ Hữu Phước; thời kỳ 1965 trở về sau này tăng lên nhịp 64, tiêu biểu như bản vọng cổ Ba Râu đi Chợ Lớn của soạn giả Viễn Châu do nghệ sĩ Văn Hường ca v.v… “Quá trình phát triển lượng đổi và chất cũng đổi, làm cho vọng cổ trở nên một tác phẩm độc đáo vừa nâng cao, vừa pha tạp, vừa mang tính bác học, vừa mang tính dân gian. Có thể nói, ai cũng ca được vọng cổ. Nhưng ca vọng cổ cho thật hay, phải phấn đấu suốt đời. Đệ nhất danh ca Út Trà Ôn đã từng nói như vậy. Trong thực tiễn sáng tạo, dễ nhận thấy điều đó. Phàm viết lời ca cho bất cứ bài bản cổ nhạc nào, người viết bị gò bó theo từng nốt nhạc. Còn lời ca của vọng cổ phóng khoáng hơn, thường là lời thơ hoặc những vần điệu hò lý. Chất văn học của kịch bản cải lương nhờ đó cũng được nâng lên. Tóm lại, từ khi có vọng cổ, cải lương càng thu hút khán giả”.
“Người Việt chúng ta ưa thích vọng cổ vì bản ca ấy thường được dùng cho tuồng cải lương trong những lớp gay cấn và cảm động nhất. Một tuồng hát mà không có ca vọng cổ hoặc ca ít quá sẽ bị bỏ rơi. Giọng ca vọng cổ được chậm rãi, rõ ràng, minh bạch và người ca có thể nhấn mạnh những điểm quan trọng để lưu ý người nghe. Đây là một giọng ca đặc biệt vừa ca vừa nói chuyện rất hạp cho những cuộc tranh luận có tính cách giải thích và van cầu mà các giọng ca khác không thể thay thế đặng”.
Những lời bình luận của các nhà chuyên môn đã khái quát được sức sống từ Dạ cổ hoài lang đến vọng cổ và cũng là cả một quá trình sáng tạo độc đáo. Trên báo Dân Quyền ra ngày 21/11/1963 xuất bản tại Sài Gòn, ông Cao Văn Lầu có cho in bức tâm thư, trong đó có đoạn: “Bây giờ bản vọng cổ từ nhịp đôi đã đổi đến nhịp 32 mỗi câu là nhờ công sửa đổi của quý vị nhạc sư, nhạc sĩ, soạn giả để trở thành đứa con tinh thần chung của quý vị. Tôi xin giao đứa con ấy cho quý vị thương nó mà giữ giùm, đừng để nó biến thành đứa con hoang mất hết căn gốc về nhịp điệu và lối ca. Tôi thú thật tôi chịu không nổi mỗi lần nghe ca sĩ dùng bản vọng cổ để giễu cợt làm mất hết tánh chất thuần túy của nó. Tôi cũng khẩn thiết ước mong quý vị nhạc sĩ, soạn giả, ca sĩ thương tôi, thương nó mà dùng bản vọng cổ cho đúng giọng, hợp cảnh, hợp tình…”.
Ngoài bản Dạ cổ hoài lang, Cao Văn Lầu còn viết những tác phẩm khác như Minh Hoàng thưởng nguyệt, Giọt mưa đêm nhưng lại không mấy người nhớ đến. Ông mất năm 1976, thọ ngoài 80 xuân. Trong đời thường, Cao Văn Lầu là người yêu nước, có nhiều đóng góp cho cách mạng. Để ghi nhớ công lao của người đi tiên phong, hiện nay tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bạc Liêu đều có những con đường được mang tên Cao Văn Lầu. Từ năm 1989, Tỉnh ủy Minh Hải (cũ) đã tổ chức Hội thảo khoa học về 70 năm ra đời bản Dạ cổ hoài lang và năm 1992 lại tiếp tục kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông làm đậm thêm ý nghĩa của bản vọng cổ. Đánh giá về bản Dạ cổ hoài lang, GS.TS Trần Văn Khê khẳng định: “Trong cổ nhạc Việt Nam chưa có bài nào, bản nào được như bài Dạ cổ hoài lang, biến thành “vọng cổ”, từ một sáng tác cá nhân đã thành một sáng tác tập thể, sanh ra từ đầu thế kỷ, lớn lên, sống mạnh, phát triển không ngừng, biến hóa thiên hình vạn trạng, mà sẽ còn sống mãi trong lòng người Việt trong nước và rải rác khắp năm châu”
Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển cho rằng: “Vai trò của Dạ cổ hoài lang trong âm nhạc truyền thống và dân ca của dân tộc rất lớn: nó là cái nền của điệu vọng cổ mà ta được nghe trong các chương trình cải lương; hơi Xuân, hơi Ai của điệu hát chi phối các điệu Nam Xuân, Nam Ai, nhiều bài bản khác của nhạc tài tử Nam Bộ, dân ca và các điệu lý của đồng bằng sông Cửu Long. Dạ cổ hoài lang là nhạc nền của âm nhạc truyền thống, nhạc tài tử và dân ca Nam Bộ.
Xét về mặt ca từ, có thể gọi ca từ của Dạ cổ hoài lang rất đẹp. Cái đẹp ấy được xây dựng trên những từ ngữ thật cổ kính: phu tướng, bảo kiếm, sắc phong, luống trông, gan vàng quặn đau, ong bướm, nghĩa tào khang, sầu tây, tin nhạn, én nhạn hiệp đôi. Cái đẹp ấy nằm trong chất thơ theo sát từng đoạn nhạc, câu nhạc: sắc phong lên đàn, luống trông tin chàng, năm canh mơ màng; có hay, sầu tây, sum vầy, lợt phai…
Chắc hẳn khi sáng tác Dạ cổ hoài lang, cố nghệ sĩ Cao Văn Lầu đã nghiên cứu rất kỹ yếu tố văn chương và yếu tố cấu tứ của Chinh phụ ngâm khúc.
Ngay cả khái niệm “Dạ cổ” (tiếng trống đêm khuya) cũng đã nhắc ta nhớ lại câu thơ trong Chinh phụ ngâm khúc: “Trống Tràng thành lung lay bóng nguyệt” (Cổ bề thanh động Tràng thành nguyệt).
Cả ca từ và cấu tứ của Dạ cổ hoài lang cho ta thấy được đây là tâm sự của một nguời vợ, người tiết phụ phương Nam nhớ thương chồng, mong ngóng chồng về. Chất nhân bản, nhân đạo của tác phẩm là khát vọng về cuộc sống lứa đôi đoàn tụ… Dạ cổ hoài lang là một tác phẩm ai nhi bất thương, thán nhi bất oán (có buồn mà không đau thương, có thở than mà không oán trách) tiêu biểu cho phong cách nhạc truyền thống, nhạc tài tử và dân ca của đồng bằng Nam Bộ.”
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 2 – Những người Việt Nam đi tiên phong, Nxb Trẻ.