Tiểu sử
Trần Ích Tắc 陳益稷 (1254 – 1329) là một hoàng tử thuộc triều đại nhà Trần. Ông là con trai của Trần Thái Tông, đồng thời là em cùng cha khác mẹ với Trần Thánh Tông và Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải; ngoài ra, ông cũng là chú ruột của vua Trần Nhân Tông. Mặc dù xuất thân là hoàng tử trong hoàng tộc nhà Trần, Trần Ích Tắc nổi tiếng là người có chí lớn và nuôi tham vọng chiếm đoạt ngôi. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông năm 1285, khi quân Nguyên tiến vào Đại Việt, ông đã đưa cả gia quyến ra hàng giặc và được triều đình nhà Nguyên.
Sự nghiệp chính trị
Trần Ích Tắc được phong tước hiệu là Chiêu Quốc Vương vào tháng 5 năm 1267. Đại Việt Sử ký Toàn thư có viết Ích Tắc là con thứ của Thượng hoàng [Trần Thái Tông], thông minh hiếu học, thông hiểu lịch sử, lục nghệ, văn chương nhất đời. Dù nghề vặt như đá cầu, đánh cờ, không nghề gì không thông thạo; từng mở học đường ở bên hữu phủ đệ, tập hợp văn sĩ bốn phương cho học tập, cấp cho ăn mặc, đào tạo thành tài như bọn Mạc Đĩnh Chi ở Bàng Hà, Bùi Phóng ở Hồng Châu v.v… gồm 20 người, đều được dùng cho đời…Đến 15 tuổi, thông minh hơn người, làu thông kinh sử và các thuật, vẫn còn có ý tranh đoạt ngôi trưởng đích. Ích Tắc đã từng gửi thư riêng cho khách buôn ở Vân Đồn xin quân Nguyên xuống nam.
Ngày 15 tháng 3 năm 1285, ông đem cả gia quyến ra hàng giặc, được Hốt Tất Liệt phong làm An Nam quốc vương, với ý định sau khi thắng trận sẽ đưa về cai trị Đại Việt. Song mưu đồ ấy thất bại khi quân Nguyên đại bại. Trần Ích Tắc theo quân Nguyên rút về Ngạc Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc), được giữ chức Hồ Quảng bình chương chính sự, rồi dần được thăng đến Ngân Thanh vinh lộc đại phu, Kim tử quang lộc đại phu, Nghi đồng tam tư. Ông qua đời tại Trung Quốc vào mùa hè năm 1329 (niên hiệu Thiên Lịch thứ 2, đời Nguyên Văn Tông), thọ 76 tuổi. Một năm sau, vào năm 1330, triều Nguyên truy tặng ông tước Trung Ý vương.
Do hành vi phản quốc, triều đình nhà Trần đã xóa tên ông khỏi tông thất. Sử chép rằng, sau chiến thắng trước quân Nguyên lần thứ ba (1289), khi bắt được một hòm thư biểu xin hàng, vua Trần Thánh Tông đã cho đốt hết để giữ yên lòng người trong nước. Tuy vậy, những kẻ đầu hàng giặc đều bị xử tội nặng tịch thu tài sản, đày đi xa hoặc tử hình, tước bỏ quốc tính. Riêng với Trần Ích Tắc vì là huyết thống hoàng gia, triều đình chỉ đổi tên ông thành Ả Trần 妸陳 hàm ý chê bai sự hèn nhát như đàn bà. Từ đó, các tài liệu đương thời đều gọi ông bằng danh này.
Một giai thoại đáng chú ý xảy ra năm 1292, khi vua Trần Nhân Tông cử sứ giả Nguyễn Đại Phạp sang nhà Nguyên. Khi đoàn sứ đi qua Ngạc Châu, Đại Phạp gặp Trần Ích Tắc trong tỉnh đường cùng các quan Nguyên. Nguyễn Đại Phạp kính cẩn chào tất cả mọi người, chỉ riêng Ích Tắc thì bỏ qua. Bị xúc phạm, Ích Tắc hỏi:
– “Ngươi chẳng phải là tên biên chép ở nhà Chiêu Đạo Vương sao?”
Nguyễn Đại Phạp đáp:
– “Thời thế thay đổi. Đại Phạp trước kia là người chép việc cho Chiêu Đạo Vương, nay là sứ giả. Còn Bình chương xưa vốn là con vua, mà nay lại là kẻ hàng giặc.”
Sau lần đó, Trần Ích Tắc luôn tránh mặt sứ giả Đại Việt, không dám xuất hiện tại tỉnh đường mỗi khi sứ đoàn sang triều Nguyên.
Cuộc đời Trần Ích Tắc là bi kịch của một người tài hoa nhưng bạc nhược. Từ vị hoàng tử được ca ngợi là “văn chương nhất đời” có thể dung tài giúp đời, nhưng ông đã tự tay đánh mất danh dự và lòng trung, để lại tiếng xấu là kẻ phản quốc.
Bài thơ Xuất quốc
Trong An Nam Chí Lược của Lê Tắc có đề cập đến bài thơ Xuất Quốc của Trần Ích Tắc nói về việc Trần Ích Tắc bỏ nhà Trần sang hang nhà Nguyên:
Nguyên văn chữ hán:
出國
當年扶義出南邦,
耿耿丹忠對彼蒼。
不是文公逃晉難,
庶幾微子慨殷亡。
箕裘未泯先君烈,
簡策應留後世芳。
寰海車書會同日,
故家遙記越山長”
Phiên âm:
Xuất quốc
Đương niên phù nghĩa xuất nam bang,
Cảnh cảnh đan trung đối bỉ thương.
Bất thị Văn Công đào Tấn nạn,
Thứ cơ Vi Tử khái Ân vong.
Cơ cầu vị mẫn tiên quân liệt,
Giản sách ưng lưu hậu thế phương.
Hoàn hải xa thư hội đồng nhật,
Cố gia dao ký Việt sơn trường.”
Dịch thơ:
Năm này phò nghĩa bỏ nam phương
Rực rỡ cao xanh đỏ tấm lòng
Chẳng phải Văn Công lâm nạn trốn
Gần như Vi Tử quốc vong thương
Cha ông công nghiệp còn noi bóng
Sử sách lưu thơm mãi thế thường
Bốn biển xa thư ngày một mối
Quê nhà xa nhớ núi sông trường”
Tài liệu tham khảo
- Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Văn học, 1997, Thơ văn Lý – Trần tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện khoa học xã hội Việt Nam, 1998, Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 2002, Khâm định Việt sử thông giám cương mục tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
- Ngô Thì Sĩ, 2018, Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.
- Lê Tắc, 2025, An Nam chí lược, Lê Huy Hoàng dịch, Nxb Hội Nhà Văn, Hà Nội.
- Nguyên sử, Quyển 209: Liệt truyện 96, An Nam.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh
Prince Chieu Quoc Vuong Tran Ich Tac (1254–1329)
Biography
Tran Ich Tac (陳益稷, 1254–1329) was a prince of the Tran dynasty. He was a son of Tran Thai Tong, and a half-brother of Tran Thanh Tong and Chieu Minh Dai Vuong Tran Quang Khai; he was also the paternal uncle of King Tran Nhan Tong. Although born into the royal family, Tran Ich Tac was known for his great ambitions and his desire to seize the throne. During the resistance war against the Yuan–Mongol invasion in 1285, when Yuan forces marched into Dai Viet, he surrendered together with his entire household and was received by the Yuan court.
Political career
Tran Ich Tac was granted the title Chieu Quoc Vuong in May 1267. The Dai Viet Su Ky Toan Thu records that he was the younger son of the retired emperor Tran Thai Tong, intelligent and studious, well-versed in history, the Six Arts, and literature—considered the foremost scholar of his time. Even in minor pastimes such as shuttlecock kicking and chess, he was proficient. He opened an academy on the right side of his residence, gathering scholars from various regions, providing them with food and clothing, and training many talented men such as Mac Dinh Chi of Bang Ha or Bui Phong of Hong Chau—twenty persons in total, all later employed by the state.
By the age of fifteen, he had become exceptionally intelligent, fully knowledgeable in the classics and various arts, yet he still harbored intentions of competing for the position of legitimate heir. Tran Ich Tac even sent private letters to merchants in Van Don, requesting that the Yuan army march south.
On 15 March 1285, he surrendered to the enemy with his entire family. Khubilai Khan (Kublai) appointed him King of An Nam, intending to put him on the throne after conquering Dai Viet. However, that scheme collapsed when the Yuan forces suffered a crushing defeat. Tran Ich Tac followed the retreating Yuan army to Ngac Chau (modern Hubei, China), where he held the office of Huguang Pingzhang Zhengshi and was later promoted to Yinqing Yinglu Dafu, Jinzi Guanglu Dafu, and Yitong Sansi.
He died in China in the summer of 1329 (the 2nd year of the Tianli reign of Yuan Wenzong) at the age of 76. A year later, in 1330, the Yuan court posthumously bestowed upon him the title Zhong Yi Wang.
Due to his treason, the Tran court expunged his name from the royal genealogy. The chronicles state that after the victory over the Yuan for the third time (1289), when a chest of letters requesting surrender was seized, King Tran Thanh Tong ordered all of them burned to keep the populace at peace. Nevertheless, those who surrendered were severely punished—property confiscated, exiled, or executed, and stripped of royal status.
As for Tran Ich Tac, because he was of royal blood, the court merely changed his name to A Tran (妸陳), implying contempt and likening him to a cowardly woman. Contemporary documents thereafter referred to him by this derogatory name.
A notable anecdote occurred in 1292 when King Tran Nhan Tong sent envoy Nguyen Dai Phap to the Yuan court. When the mission passed through Ngac Chau, Dai Phap encountered Tran Ich Tac in the provincial hall with Yuan officials. Dai Phap respectfully greeted all present except Ich Tac. Insulted, Ich Tac asked:
— “Were you not once merely a scribe in the household of Chieu Dao Vuong?”
Nguyen Dai Phap replied:
— “Times have changed. I was once a scribe to Chieu Dao Vuong, but now I serve as an envoy. As for the Pingzhang, you were once a prince, but now you are a traitor who surrendered to the enemy.”
Thereafter, Tran Ich Tac always avoided the envoys of Dai Viet and never again appeared in the provincial hall when diplomatic missions passed through.
Tran Ich Tac’s life remains a tragedy of a talented yet weak-willed man. Once praised as a prince of exceptional literary talent, capable of serving the nation, he ultimately forfeited his honor and loyalty, leaving behind a lasting reputation as a traitor.
Poem “Xuat Quoc” (Departing the Country)
In An Nam Chi Luoc by Le Tac, the poem Xuat Quoc by Tran Ich Tac is recorded, expressing his sentiments upon abandoning the Tran and fleeing to the Yuan.
Original Chinese text
出國
當年扶義出南邦,
耿耿丹忠對彼蒼。
不是文公逃晉難,
庶幾微子慨殷亡。
箕裘未泯先君烈,
簡策應留後世芳。
寰海車書會同日,
故家遙記越山長。
Romanized reading
Xuat quoc
Duong nien phu nghia xuat nam bang,
Canh canh dan trung doi bi thuong.
Bat thi Van Cong dao Tan nan,
Thu co Vi Tu khai An vong.
Ky cau vi man tien quan liet,
Gian sach ung luu hau the phuong.
Hoan hai xa thu hoi dong nhat,
Co gia dao ky Viet son truong.
Poetic translation (English)
This year, upholding righteousness, I leave the southern land,
My crimson loyalty shines beneath the azure heavens.
Not like Duke Wen fleeing hardship in Jin,
But akin to Wei Zi grieving for the fall of Yin.
My forebears’ virtues and achievements still endure,
Their names preserved in the chronicles for generations.
When all realms are united under a single order,
I shall remember my homeland beyond the distant Viet mountains.
References
- Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Văn học, 1997, Thơ văn Lý – Trần tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện khoa học xã hội Việt Nam, 1998, Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 2002, Khâm định Việt sử thông giám cương mục tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
- Ngô Thì Sĩ, 2018, Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.
- Lê Tắc, 2025, An Nam chí lược, Lê Huy Hoàng dịch, Nxb Hội Nhà Văn, Hà Nội.
- Nguyên sử, Quyển 209: Liệt truyện 96, An Nam.
Tiếng Pháp
Chieu Quoc Vuong Tran Ich Tac (1254–1329)
Biographie
Tran Ich Tac (陳益稷, 1254–1329) était un prince de la dynastie Tran. Il était fils de Tran Thai Tong et demi-frère de Tran Thanh Tong et de Chieu Minh Dai Vuong Tran Quang Khai ; il était également l’oncle paternel du roi Tran Nhan Tong. Bien qu’il fût un prince de sang royal, Tran Ich Tac était réputé pour ses grandes ambitions et son désir de s’emparer du trône. Lors de la résistance contre les Mongols-Yuan en 1285, lorsque l’armée des Yuan envahit Dai Viet, il amena toute sa famille pour se rendre aux envahisseurs et fut accueilli par la cour des Yuan.
Carrière politique
Tran Ich Tac reçut le titre de Chieu Quoc Vuong en mai 1267. Le Dai Viet Su Ky Toan Thu note qu’il était le fils cadet du Thuong Hoang (Tran Thai Tong), intelligent, studieux, érudit en histoire, en arts classiques et en littérature, surpassant son époque. Même les loisirs comme le jeu de volant ou les échecs n’avaient aucun secret pour lui. Il ouvrit une école à côté de sa résidence, rassembla des lettrés de toutes les régions, leur fournit nourriture et vêtements, et forma de nombreux talents tels que Mac Dinh Chi à Bang Ha, Bui Phong à Hong Chau… Au total une vingtaine de personnes, toutes mises au service du royaume.
À quinze ans, doté d’une intelligence exceptionnelle et maîtrisant les Classiques, il nourrissait déjà l’ambition de contester la position de l’héritier légitime. Il avait même envoyé une lettre secrète à des marchands de Van Don pour solliciter la descente des troupes Yuan vers le sud.
Le 15 mars 1285, il se rendit avec toute sa famille et fut nommé An Nam Quoc Vuong par Kublai Khan (Hubilie), qui projetait, après la victoire, de le ramener pour gouverner Dai Viet. Ce plan échoua complètement lorsque les Yuan furent vaincus. Tran Ich Tac suivit alors les troupes Yuan lors de leur retraite vers Ngac Chau (actuelle province du Hubei, Chine) et reçut le poste de Ho Quang Binh Chuong Chinh Su ; plus tard, il fut promu Ngan Thanh Vinh Loc Dai Phu, Kim Tu Quang Loc Dai Phu, puis Nghi Dong Tam Tu. Il mourut en Chine durant l’été 1329 (deuxième année de l’ère Thien Lich, règne de Yuan Wen Zong), à l’âge de 76 ans. En 1330, il fut honoré à titre posthume par les Yuan du titre de Trung Y Vuong.
Pour son acte de trahison, la dynastie Tran l’effaça de la liste des membres du clan royal. Les chroniques rapportent qu’après la troisième victoire contre les Yuan (1289), lorsqu’un coffret contenant les lettres de reddition fut capturé, le roi Tran Thanh Tong ordonna de tout brûler pour préserver la stabilité intérieure. Cependant, ceux qui avaient suivi les envahisseurs furent punis sévèrement : confiscation de biens, exil ou exécution, et perte du droit de porter le nom Tran.
Pour Tran Ich Tac, en raison de son sang royal, la cour se contenta de changer son nom en A Tran (妸陳), une appellation péjorative évoquant la lâcheté « comme une femme ». Depuis lors, les documents contemporains le désignèrent sous ce nom.
Une anecdote notable eut lieu en 1292, lorsque le roi Tran Nhan Tong envoya l’ambassadeur Nguyen Dai Phap à la cour des Yuan. Lorsque l’ambassade passa par Ngac Chau, Nguyen Dai Phap rencontra Tran Ich Tac dans le bâtiment administratif en présence des fonctionnaires Yuan. Il salua respectueusement tout le monde, sauf Ich Tac. Vexé, celui-ci demanda :
— « N’es-tu pas l’ancien scribe de Chieu Dao Vuong ? »
Nguyen Dai Phap répondit :
— « Les temps changent. Autrefois j’étais le scribe de Chieu Dao Vuong, aujourd’hui je suis ambassadeur. Quant au Binh Chuong, tu étais fils de roi, et maintenant tu es devenu un traître. »
Depuis cet épisode, Tran Ich Tac évitait toujours l’envoyé du Dai Viet et n’osait plus se montrer lorsque la délégation venait en audience chez les Yuan.
La vie de Tran Ich Tac fut la tragédie d’un homme talentueux mais faible. De prince célébré comme « maître de littérature de son époque », capable d’exercer un rôle éminent, il finit par perdre honneur et loyauté, laissant derrière lui la réputation durable d’un traître.
Poème Xuat Quoc
Texte en chinois classique
(préservé tel quel, car il s’agit du texte historique)
出國
當年扶義出南邦,
耿耿丹忠對彼蒼。
不是文公逃晉難,
庶幾微子慨殷亡。
箕裘未泯先君烈,
簡策應留後世芳。
寰海車書會同日,
故家遙記越山長。
Traduction poétique française
Cette année, pour la justice, j’ai quitté le Sud,
Le cœur rouge de fidélité tourné vers le Ciel.
Je ne suis pas comme Wen Gong fuyant le malheur du Jin,
Mais plutôt comme Vi Tu, pleurant la chute des Yin.
Les hauts faits de mes ancêtres ne sont pas encore éteints,
Les livres les transmettront, parfums pour la postérité.
Lorsque les quatre mers seront réunies sous une même écriture,
Je me souviendrai de ma patrie, montagnes et fleuves lointains.
Références
- Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Văn học, 1997, Thơ văn Lý – Trần tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện khoa học xã hội Việt Nam, 1998, Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 2002, Khâm định Việt sử thông giám cương mục tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
- Ngô Thì Sĩ, 2018, Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.
- Lê Tắc, 2025, An Nam chí lược, Lê Huy Hoàng dịch, Nxb Hội Nhà Văn, Hà Nội.
- Nguyên sử, Quyển 209: Liệt truyện 96, An Nam.
Tiếng Trung
昭國王陳益稷 (Tran Ich Tac)(1254–1329)
陳益稷 (Tran Ich Tac)(1254–1329)乃陳朝王子,為陳太宗 (Tran Thai Tong) 之子,亦為陳聖宗 (Tran Thanh Tong) 及昭明大王陳光啟 (Tran Quang Khai) 之異母弟,並為陳仁宗 (Tran Nhan Tong) 之叔父。雖為皇族出身,陳益稷 (Tran Ich Tac) 以有大志著稱,且懷奪位之心。1285年元蒙入侵大越時,他率其家眷出降,為元廷所收。
政治生涯
陳益稷 (Tran Ich Tac) 於1267年五月被封為昭國王。《大越史記全書》記其為太上皇陳太宗 (Tran Thai Tong) 之庶子,聰敏好學,通六藝史籍,文章一時無雙。小技如蹴鞠、弈棋亦精熟;曾於府第右側設學堂,延四方文士授學,供其衣食,培育人才,如邦河之莫挺之 (Mac Dinh Chi)、洪州之裴放 (Bui Phong) 等二十餘人,後皆為朝廷所用。
年十五,聰敏絕倫,通曉經史諸術,仍懷爭奪嫡統之意。陳益稷 (Tran Ich Tac) 曾密書雲屯商賈,請元軍南下。
1285年三月十五日,他率家屬出降,被忽必烈 (Hoat Tat Liet) 封為安南國王,意圖戰後使其歸國統治大越。然此計因元軍大敗而不成。陳益稷 (Tran Ich Tac) 乃隨元軍退至鄂州(今湖北),任湖廣參知政事,後遞升銀青榮祿大夫、金紫光祿大夫、儀同三司等官。1329年夏(元文宗天曆二年)卒於中國,享年七十六。一年後(1330),元廷追贈忠懿王。
因其叛國行徑,陳朝革除其宗籍。史載:1289年第三次抗元勝利後,朝廷得一箱降表,陳聖宗 (Tran Thanh Tong) 命焚之,以慰國人。然而諸降敵者皆受重罰:籍沒家產、流放或處死,並奪國姓。惟陳益稷 (Tran Ich Tac) 因皇室血脈,僅改名為「妸陳 (A Tran)」,意貶其軟弱如婦人。當時文獻皆以此稱之。
1292年使節軼事
1292年,陳仁宗 (Tran Nhan Tong) 遣使阮大法 (Nguyen Dai Phap) 至元廷。至鄂州時,大法於省堂見陳益稷 (Tran Ich Tac) 與元臣同坐,向眾人行禮,唯獨不拜益稷。益稷怒問:
—「汝非昔在昭道王 (Chieu Dao Vuong) 府書吏乎?」
阮大法 (Nguyen Dai Phap) 答曰:
—「時局已變:大法昔為昭道王書吏,今為國使;公昔為帝子,今乃降虜。」
自是陳益稷 (Tran Ich Tac) 聞安南使節至,皆不敢在省堂露面。
人生評述
陳益稷 (Tran Ich Tac) 一生,是才華與怯懦並存之悲劇。原可以「文章第一」之譽濟世立功,卻因自棄名節忠義,終以叛國之惡名留世。
〈出國〉詩
據黎崱 (Le Tac)《安南志略》載,陳益稷 (Tran Ich Tac) 曾作《出國》詩,自述棄陳歸元之志。
原文:
出國
當年扶義出南邦,
耿耿丹忠對彼蒼。
不是文公逃晉難,
庶幾微子慨殷亡。
箕裘未泯先君烈,
簡策應留後世芳。
寰海車書會同日,
故家遙記越山長。
意譯:
當年扶義離南國,
赤心昭昭對蒼穹。
非如文公避晉亂,
猶似微子傷殷亡。
先君功烈猶在目,
史冊應傳後世芳。
四海車書終一統,
故園遙憶越山長。
參考文獻
- Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Văn học, 1997, Thơ văn Lý – Trần tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện khoa học xã hội Việt Nam, 1998, Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 2002, Khâm định Việt sử thông giám cương mục tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
- Ngô Thì Sĩ, 2018, Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.
- Lê Tắc, 2025, An Nam chí lược, Lê Huy Hoàng dịch, Nxb Hội Nhà Văn, Hà Nội.
- Nguyên sử, Quyển 209: Liệt truyện 96, An Nam.