Tiểu sử
Cư sĩ Đặng Huy Trứ (1) chào đời ngày 19 tháng 03 năm Ất Dậu (16.05.1825) quê ở làng Thanh Lương, huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời điểm thịnh đạt của đất nước và giòng họ.
Lớn lên, ông theo Nho học, nổi tiếng là thần đồng. Lúc 18 tuổi, đi thi lần đầu ông đỗ ngay cử nhân thứ 3 tại trường thi Thừa Thiên. Được vào học tập tại Quốc tử giám ba năm, 21 tuổi (1847) đỗ kỳ thi Hội, vào thi Đình vì sơ ý dùng chữ khiếm nhã đụng chạm đến quê hương của vua triều Nguyễn, ông bị phạt đánh 100 roi cách tuột tiến sĩ lẫn cử nhân. Cuối năm này triều đình mở ân khoa mừng vua Thiệu Trị 40 tuổi, ông thi Hương trở lại và đậu thủ khoa (tức Giải Nguyên).
Sau khi đỗ đạt vẻ vang, Đặng Huy Trứ đi dạy học 8 năm. Năm 30 tuổi (1855) ông được bổ dụng vào quan trường. Éo le thay, bước ngoặt cuộc đời của Đặng Huy Trứ cũng là một khúc quanh đen tối của lịch sử dân tộc. Nước Đại Nam đối đầu với hiểm hoạ xâm lăng của thực dân Pháp !
Người thanh niên ưu tú Đặng Huy Trứ mang hết tâm tình, nhiệt huyết ra phụng sự nhân dân, nhưng đau đớn phải chứng kiến cảnh non sông dần dần rơi vào tay giặc:
Chiến thuyền Pháp tiến vào đánh phá, đổ bộ lên cửa biển Đà Nẵng (1856 – 1858). Quân Pháp tấn công thành Gia Định, Định Tường, Biên Hồ. Đại thần Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp ký hồ ước cắt ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ trao cho Pháp (1859-1861). Quân Pháp đánh chiếm 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên; Kinh lược Phan Thanh Giản uất hận uống thuốc độc tự tử (1868). * Nuốt trọn miền Nam, giặc Pháp dòm ngó chuẩn bị thôn tính đất Bắc. Năm 1873, thành Hà Nội thất thủ, danh tướng Nguyễn Tri Phương và con là Nguyễn Lâm chết theo thành. Đặng Huy Trứ theo phe kháng chiến rút về đồn Vàng (Phú Thọ).
Ngày 25.6 năm Giáp Tuất (07.8.1874) Đặng Huy Trứ nhắm mắt lìa đời đúng 49 tuổi.
Năm 1984, nhóm Trà Lĩnh thành lập, nỗ lực sưu tầm thơ văn, hành trạng của Đặng Huy Trứ để phiên dịch giới thiệu trước công luận. Năm 1993 Đại học Sư phạm Huế tổ chức Hội thảo khoa học về danh nhân Đặng Huy Trứ nhằm đánh giá những hoạt động của ông đối với giáo dục và phong trào canh tân khoảng hậu bán thế kỷ XIX.
Đặc biệt vào dịp kỷ niệm 175 năm sinh danh nhân ĐHT, Đại học Huế phối hợp với Trung tâm Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học đánh giá tồn diện sâu sắc về tư tưởng thân dân, yêu nước, tinh thần sáng tạo khoa học và nhân cách đạo đức cao đẹp của Đặng Huy Trứ. Lớp bụi thời gian hơn 100 năm bao phủ, che lấp dần được lau chùi sạch sẽ để lộ ra chân dung rạng rỡ của người xưa. Tuy nhiên cho đến nay, trong các công trình nghiên cứu, Đặng Huy Trứ được ca ngợi như là một kẻ sĩ chân chính, một bậc quân tử hấp thu được tinh hoa của Nho giáo. Người ta đã quên không chú ý đến ngọn đuốc tâm linh đã hướng dẫn cuộc đời của cư sĩ Đặng Huy Trứ, đó là giáo lý đạo Phật.
Tuy họ Đặng nhiều đời học Nho nhưng lại rất ngưỡng mộ Phật giáo. Ông nội của cư sĩ là danh sư Đặng Quang Tuấn, mở trường dạy học, đào tạo nhiều Nho sinh thành đạt, nhưng vẫn chọn nơi yên tĩnh để lập am thờ Phật. Bác ruột của cư sĩ là Lễ Trai Đặng Văn Hồ một bậc đại Nho, danh thần đầu triều Nguyễn, cũng là một Phật tử thuần thành hết lòng hộ trì Tam Bảo.
Thân phụ của Cư sĩ Đặng Huy Trứ là Dịch Trai Đặng Văn Trọng nối nghiệp nhà mở trường dạy học, thân mẫu là Trần Thị Minh xuất thân trong một vọng tộc ở làng Tân Sa (Phú Vang, Thừa Thiên). Cả Gia đình Cư sĩ đều xin Quy y với Hòa thượng Tánh Thiên – Nhất Định, Đặng Huy Trứ được ban Pháp danh là Hải Đức. Lúc mới học Nho, Đặng Huy Trứ đã thắc mắc hỏi cha: “Tiên Nho đều bài bác đạo Phật, sao nhà ta lại hâm mộ đến thế ?” Cha ông ôn tồn giải thích truyền thống tốt đẹp của tam giáo, rồi nghiêm khắc dạy bảo … “Nay đang lúc vãng chiều xế bóng, phong tục suy đồi phẩm chất biến đổi, quan tàn bạo, lại tham ô, con cháu ngỗ ngược, nhà giàu keo kiệt, nhà buôn gian giảo, côn đồ hung ác, kiện tụng điêu toa, bọn đầu sỏ trộm cướp giết chóc bừa bãi chất chứa bao tội ác, gây oan nghiệt đầy rẫy khắp nơi trong trời đất. Ai mà biết sợ nhân quả , hồi tâm theo Phật ra khỏi bến mê đến bờ giác ngộ, thế thì đạo Phật giúp cho đạo Nho ích lợi không phải nhỏ… ông cha ta kính cẩn phụng thờ là nghĩ đến tấm lòng Bồ Đề, chân thành ngay thẳng, mến mộ lòng từ bi, tin theo lời khuyên làm điều thiện của Phật. Đâu phải xu nịnh Phật để cầu phước?… Bọn các con mới học được mấy trang sách, liếm nước dãi của Hàn Xương Lê(2) đã vội cho những lời bàn luận dám bài bác Phật là hùng hồn là cao siêu. Những ý kiến đó ta không khi nào chấp thuận”. Nhờ được sự uốn nắn, hun đúc của cha mẹ trong niềm tín ngưỡng chân chính nên cư sĩ đã sớm tin Phật, lấy lời dạy của Phật ứng dụng trong suốt cuộc đời mình.
Lúc còn bạch diện thư sinh, nghe tiếng chuông mai của chùa làng Thanh Lương, cư sĩ cảm tác:
Quạ kêu gà gáy năm canh,
Chợt nghe xa tiếng chuông ngân đổ hồi.
Thanh hư từ cửa Phật đài,
Mộng đời khua tỉnh mấy thôi chày kình.
Lọt song như gọi thư sinh,
Xuống thôn rộn rã lay mình nông phu.
Bác xưa công đức góp chùa,
Tiếng vàng vọng mãi ngân đưa muôn đời.
Nguyễn Xuân Bách dịch
Bước đầu làm quan ở Quảng Nam (1857), một hôm đi ngang chùa Di Đà nhìn thấy cảnh chùa suy tàn đổ nát, cư sĩ ngậm ngùi xúc cảm:
Chùa cổ tiêu điều giữa cỏ gai,
Tương truyền cung điện Phạn Vương đây.
Mình vàng tượng Phật như than cả,
Cột vẽ xà xoi đã mọt đầy.
Cây cổ giữa trời sao đẩu chống,
Phướn màu tung ngọn gió đông bay.
Mõ chiều chuông sớm không người quản,
Nghiêng ngã tối ngày một lão say.
Khương Hữu Dụng dịch
Năm Ất sửu (1865), cư sĩ phụng mệnh vua Tự Đức, phải cạo đầu tết đuôi sam giả dạng người Thanh đi qua Quảng Đông dò xét tình hình các nước phương Tây. Ông không chịu làm việc này một cách bình thường mà đến chùa Phước Lâm Hội An lạy Phật xin thế phát theo nghi thức Phật giáo. Cư sĩ đã làm thơ ghi lại tâm nguyện của mình:
Gượng bỏ mũ trâm vào lễ Phật,
Vương thần tâm sự, lão Tăng hay.
Muốn nhờ pháp khí nơi Tam Bảo,
Chẳng để trần đao đụng mảy may.
Giúp chúa Đông, Đồi, Nam, Bắc đó,
Ơn cha thân, thể, tóc, da này.
Bồ-đề toả bóng che từng bước,
Rằng Hạ, rằng Di há quản vay”.
Ngô Linh Ngọc dịch
Ngồi nhiệm vụ giúp dân, giúp nước phải đương đầu với bao gian hiểm, khó khăn của thời cuộc, cư sĩ vẫn quan tâm đến sự hưng thịnh, suy vong của tôn giáo mà ông quy ngưỡng. Cư sĩ cực lực bài trừ thói mê tín dị đoan, thờ cúng tà ma nhảm nhí. Ông nghiêm khắc tố cáo, trừng trị nếp sống truỵ lạc, biếng nhác của bọn người trốn vào chùa chiền giả dạng tu hành. Nhân thấy việc lạc quyên xằng bậy, cư sĩ làm bài thơ 96 câu (Trường thiên ngũ ngôn) bày tỏ quan điểm và kêu gọi quần chúng phân biệt chánh tà.
Mở đầu ông viết:
Người khôn nhất muôn lồi,
Sang hèn cùng đạo lý
Khác lồi thú, lồi muông,
Cơ bản vì liêm sĩ.
Chối, nhận hay lấy, cho
Sao yên nếu bỏ nghĩa.
Người theo Phật vì sao,
Lại đi khuyến giáo nhĩ ?
…..
Nam mô ngồi miệng họ,
Hoa nguyệt chứa đầy lòng.
Đại từ cúi khấn khứa,
Lừa người lấy cơm ăn,
Dối người lấy áo mặc.
Tam Bảo gửi mình vào,
Quy y chắc gì thật.
Không cách nào kiếm ăn
Phổ khuyến đành quay quắt.
Liêm sĩ chúng làm ngơ,
Làm suy đồi đạo Phật…
Cuối bài thơ cư sĩ kêu gọi:
Nghe tôi ngâm thơ này,
Lòng người ấy là Phật.
Chớ nên ngờ lời tôi,
Bồ-đề muốn chứng thực,
Làm thiện vì lòng nhân,
Đừng để chúng mê hoặc,
Thức giả khỏi chê cười.
Trong tác phẩm “Từ Thụ Yếu Quy”, cư sĩ soạn tập để hướng dẫn cho người làm quan cái gì phải từ chối và cái gì được nhận lãnh. Ông đã dẫn chứng theo sách vở và kinh nghiệm bản thân để nêu ra thuyết nhân quả báo ứng nhằm khuyến khích người làm quan tu dưỡng đạo đức. Điều thứ 10, cư sĩ viết:
“Nhân ngôi chùa công nào đó thiếu người trông coi, các nhà sư mang các vật phẩm đến cầu xin ta cho họ được Trú trì ở đó. Như thế giới hạnh của họ đã phạm điều trong sạch. Ta nên quát vào mặt họ, khước từ, đánh trượng cho đau đuổi về hồn tục. Nếu coi đó là miếng ăn, miếng uống nhỏ nhặt, khinh suất mà nhận và cho họ toại nguyện thì đạo sẽ suy vi. Thứ hối lộ ấy không thể nhận”.
Những điều sơ lược dẫn trên cho thấy Cư sĩ Đặng Huy Trứ thực sự lĩnh hội truyền thống “cư Nho mộ Thích”(3) của quê hương và gia tộc để phát huy nên phẩm cách đạo đức cao đẹp, xứng đáng được liệt vào hàng danh nhân Phật giáo Việt Nam.
Chú thích:
- Bài và ảnh của Trần Đình Sơn, đăng trong Tản mạn Phú Xuân –NXB Trẻ 2001.
- Hàn Xương Lê tức đại văn gia Hàn Dũ (768- 824). Ông dâng biểu lên Vua Đường Hiến tông bài xích đạo Phật , vì thế bị đày đi làm Thứ sử ở đất Triều châu ( Quảng Đông).
- Cư Nho mộ Thích. Chữ của Minh Vương Nguyễn Phúc Chu ( Hưng Long, thiên Túng Đạo Nhơn) viết trong bài bia ký trùng tu chùa Thiên Mụ năm 1714. Nghĩa: học theo cương thường, lễ nghĩa của đạo Nho để điều hành xã hội, cai trị nhân dân. Tin theo giáo lý đức Phật để tu tâm dưỡng tính cầu sự giải thoát.
Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 1, xuất bản 2011.