Tiểu sử
Pháp danh: Tâm Ngộ (hiệu Trúc Diệp)
Cư sĩ tên thật là Đỗ Trọng Ân, Pháp danh Tâm Ngộ, tự Chơn Thuyên, hiệu Trúc Diệp, sinh năm Tân Dậu (1921) tại thôn Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia tộc kính tín Tam bảo, lại có nhiều bậc chân tu thạc đức. Bản thân Cư sĩ : là cháu của Hòa thượng Diệu Giác (Đỗ Lương Duyên) Tăng Cang chùa Diệu Đế, em ruột của Hòa thượng Hưng Mãn (Đỗ Văn Thông – Trọng Tường) Trụ trì chùa Kim Tiên, và cũng là em ruột của Hòa thượng Trí Quảng (Đỗ Văn Dũ – Bích Đàm) Trụ trì chùa Từ Ân và chùa Quy Thiện.
Thuở thiếu thời được song thân cho vào Huế tu học tại Tổ đình Tường Vân, là đệ tử xuất gia của đức Tăng thống Thích Tịnh Khiết, đương kim Trú trì Tổ đình Tường Vân thời bấy giờ và được ngài đặt Pháp hiệu là Chơn Thuyên.
Trong thời gian tu học tại Huế, Cư sĩ là một trong những học Tăng thông minh xuất chúng, thông thạo Tây học lẫn cổ ngữ, trong thời gian này Cư sĩ đã chuyên tâm nghiên cứu triết học Đông phương, Hán Nôm, dịch kinh sách, sáng tác thơ ca Phật giáo và làm công việc Phật sự tại các chùa Tường Vân, Kim Tiên, Từ Quang, Từ Ân, Quy Thiện…
Các kinh sách đã dịch âm và dịch nghĩa gồm: Thuỷ Sám, Địa Tạng, Thiền môn Nhật tụng, Nghi thức Tang lễ, Văn Triệu thỉnh Thập nhị loại Âm linh và nhiều kinh sách khác. Việc in ấn thực hiện tại nhà in Liên Hoa và chủ yếu dành để ấn tống, cúng dường.
Sáng tác nhiều thơ ca Phật giáo với bút hiệu Trúc Diệp, đăng trên Nguyệt san Viên Âm và một số tạp chí khác.
Tập thơ tiêu biểu là Thi phẩm Bóng Hoa Đàm xuất bản năm Tân sửu (1961) là tập thơ nổi tiếng thời bấy giờ tại Huế được Tăng Ni và Phật tử đón nhận rất nhiệt tình. Cũng lúc này Cư sĩ đã trở lại cuộc sống tại gia và lập gia đình với bà Văn Thị Trợ, sinh sống tại làng Dương Xuân, xã Thuỷ Xuân, Huế và tiếp tục công việc Phật sự và hoằng dương đạo pháp, là cố vấn Phật học cho đức Từ Cung (Đoan Huy Hồng Thái Hậu).
Năm 1968 mất tại Chùa Quảng Tế trong biến cố Tết Mậu Thân do đạn lạc, bỏ lại nhiều công trình còn dang dở. Cư sĩ được gia đình an táng (1968) tại chùa Quảng Tế. Cát táng lần 1 (1969) tại chùa Quy Thiện, cát táng lần 2 (2009) tại Thiên Thai.
Sinh được 6 người con (2 trai, 4 gái), hiện tất cả đều thành đạt, có gia đình và làm việc ở các tỉnh miền Trung và Tây nguyên.
Sinh thời, quan hệ rộng rãi với các bậc Chư tôn Thiền đức như Hòa thượng Trí Quang, Nhất Hạnh, Từ Mãn, Mãn Giác (tức Thi sĩ Huyền Không), Sư bà Diệu Trí, Diệu Không, Thể Quán, Cát Tường, Diệu Tấn…
Cư sĩ mất đi là một niềm thương tiếc mất mát cho gia đình và bạn bè, trong đó có Hòa thượng Nhất Hạnh cũng là nhà thơ.
Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 2, xuất bản