Tiểu sử
Cư sĩ Nguyễn Hữu Ba sinh năm 1914, quê làng Đạo Đầu, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thuở nhỏ Cư sĩ học ở Huế, đến năm 8 tuổi bắt đầu học đàn. Năm 16 tuổi (1930), Cư sĩ đã hồ nhạc cổ truyền vào dĩa hát Beka của Đức phát hành rộng rãi tại Việt Nam thời đó. Năm 1932, Cư sĩ lại áp dụng hệ thống ký âm pháp Tây phương vào cổ nhạc Việt Nam được giới âm nhạc tại Huế rất tán thưởng.
Năm 1938, Cư sĩ đậu Thủ khoa về đàn nhị, được triều đình Huế tặng thưởng Huy chương Long Bội Tinh và vinh tặng Hàn Lâm viện Đãi chiếu vào năm 1950.
Sau cách mạng tháng 8-1945, Cư sĩ đã lui về sống ở Quảng Trị cho đến năm 1950 thì vào lại Huế lập Viện Tỳ Bà nhằm phục hưng nền Quốc nhạc Việt Nam. Từ năm 1960, Cư sĩ giảng dạy tại trường Quốc gia âm nhạc Sài Gòn, khoa trưởng Lý thuyết âm nhạc tại các Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, Huế.
Trong thời gian nầy Cư sĩ cùng với nhạc sĩ Bủu Bác, Lê Cao Phan cũng đã từng tham gia trong các hoạt động của An Nam Phật học hội, Tổng hội Phật giáo Việt Nam cũng như Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất… về các công tác âm nhạc Phật giáo của Giáo hội. Nhất là đến những năm 1966 Cư sĩ đã thu thanh tài liệu nhạc Huế, nhạc cung đình và nhạc Phật giáo để làm nên các đĩa nhạc Việt Nam 1 và 2 có ảnh hưởng lớn trên thế giới.
Cư sĩ Nguyễn Hữu Ba bút hiệu Đạo Tâm là một vị nhạc sư bậc thầy, một nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền Việt Nam sắc nét, Cư sĩ đã sử dụng nhuần nhuyễn 2 loại tân nhạc và cổ nhạc, tác phẩm của Cư sĩ đều có giá trị nghệ thuật sâu sắc.
Thông thạo nhạc cổ truyền, Cư sĩ Nguyễn Hữu Ba có tiếng về tiếng đàn nhị tại Huế. Thêm nữa, Cư sĩ chuyên cả độc huyền cầm và đàn tỳ bà. Chính nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba đã dùng tài nghệ trình diễn những loại đàn dân tộc này, để mưu sinh trong một thời gian ở Đất Thần Kinh.
Năm sau Hiệp Định Genève 1954, Cư sĩ vào miền Nam trở thành Giáo sư Cổ Nhạc ở trường Quốc Gia Âm Nhạc ở Sài Gòn, cho đến khi Cư sĩ quay lại miền sông Hương núi Ngự làm Giám đốc Viện Âm Nhạc Huế. Tỳ Bà Trang của Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba có tàng trữ rất nhiều cây đàn cổ nhạc Việt Nam quý giá và những tài liệu thu thanh, cũng như sách vở về âm nhạc.
Giáo sư nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba có công rất lớn trong việc bảo lưu nhạc cổ truyền dân tộc nhất là nhạc Miền Trung và Dân Ca Việt Nam.
Về nhạc Phật giáo Cư sĩ cũng đã có những sáng tác nổi tiếng, một tác phẩm vẫn còn đến nay là tác phẩm: Sám Hối: (Sáng tác giữa thập niên 40):
Nam mô Bổn sư Thích ca mâu ni Phật
Nam mô Bổn sư Thích ca mâu ni Phật
Lạy Phật từ bi cứu chúng sinh khỏi trầm luân
Lìa xa chốn mê lầm
Nam mô Bổn sư Thích ca mâu ni Phật
Nam mô Bổn sư Thích ca mâu ni Phật
Một lòng cầu xin đức Thế tôn soi đường đi
Để mau thốt luân hồi
Đường Bát chánh con nguyện theo
Lòng sâm si con xin bỏ lìa u tối
Quyết tu hành để cầu xa bến mê
Nguyện tinh tấn theo từ bi
Lòng yêu thương gieo muôn ngàn
Nhờ Phật pháp đuốc soi đường
Thốt khỏi chốn vô thường
Nam mô Bổn sư Thích ca mâu ni Phật
Nam mô Bổn sư Thích ca mâu ni Phật.
Cư sĩ mất ngày 14-7-1997, thọ 83 tuổi.
Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 2, xuất bản 2011.