Cư sĩ Tâm Huệ – Nguyễn Phúc Tráng Đăng (1910–1987)

Cư sĩ Tâm Huệ – Nguyễn Phúc Tráng Đăng (1910–1987)

Thông tin cơ bản

Tiểu sử

Cư sĩ Tráng Đinh gốc người Gia Miêu ngoại trang tỉnh Thanh Hóa, tên thật là Nguyễn Phúc Tráng Đăng, tự Tráng Đinh, sinh năm 1910 tại huyện Phú Vang, nay là phường Vỹ Dạ, tỉnh Thừa Thiên. Cư sĩ vốn xuất thân dòng Vua chúa [Nguyễn Phúc Cảnh – Anh Duệ Hồng Thái tử], thuộc phòng 1, đệ nhất chánh hệ nên có bài thơ phiên hệ như sau:

Mỹ Duệ Tăng Cường Tráng
Liên Huy Phát Bội Hương
Lịnh Nghi Hàm Tốn Thuận
Vỹ Vọng Biểu Khôn Quang.

Chính vì thế mà Cư sĩ có chữ Tráng, Tráng Đăng, Tráng Đinh. Lúc nhỏ học trường Quốc học và đổ Thành Chung khoảng năm 1920 – 1930. Sau ra trường, Cư sĩ sinh hoạt trong làng báo chí thời bấy giờ. Trong thời gian này phát hành báo, Cư sĩ còn thành lập nhà xuất bản Thuận Hóa và cũng là cộng tác viên với các tờ báo ở Huế thời ấy. Trong đạo, Cư sĩ đã nhiệt tình cợng tác với các tờ Viên Âm nguyệt san, Giác Ngộ trong nhiều vai trò : khi thì Quản lý kiêm phát hành, khi thì Thủ quỷ, Phóng viên…

Thân sinh của là cụ ông Nguyễn Phúc Cường Trực, tự Căn Sanh, Pháp danh Trừng Kim, giữ chức Thái Thường Tự Khanh, người làng Vỹ Dạ thuộc Phú Vang và cụ bà Nguyễn Thị Hưu, Pháp danh Nguyên Thanh, người làng Văn Giang, Tam Giáp, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên.

Năm 1932, Cư sĩ lập gia đình với bà Trần Thị Ngọc Yến (1908 – 1986), Pháp danh Diệu Hải, người làng An Cựu và sinh hạ được bốn người con : Nguyễn Phúc Liên Phú (tức Hòa thượng Chơn Kim hiện đang Trú trì chùa Tường Vân, Đơn Dương – Lâm Đồng). Nguyễn Phúc Liên Bảo – Tiến sĩ Dược Khoa, hiện đang định cư ở Pháp. Nguyễn Phúc Liên Đàm (chết) và Nguyễn Phúc Thanh Quang (nhà Doanh Nghiệp). Các con của Cư sĩ là những người thành đạt trong xã hội và đã theo nghiệp cha, tùy theo hồn cảnh tất cả đều có chí hướng phục vụ cho Đạo Pháp, khi có cơ hội.

Công tác của Cư sĩ khi còn ở Huế được mời giữ Tập Tước Tá Quốc Lang, được chức Tam Phẩm Tế Tửu (tức Hiệu trưởng hay Giám đốc trường Quốc Tử Giám) từ năm 1932 – 1945.

Năm 1947 bọn Pháp sai lính lê dương càn quét vùng Kim Long vì nghi nơi này là nội gián cho Việt minh. Khi vào lục sốt chùa Linh Mụ, chúng bắt một số thanh niên và Hòa thượng Đôn Hậu, mà chúng nghi là Việt cộng, ra phía sau chùa tự đào hào để chúng bắn. Cũng may là Hòa thượng yếu đuối, đào chậm nên chưa kịp bắn thì Cư sĩ nghe hung tin ấy liền báo cho đức Từ Cung biết, ngài điện cho trưởng cơ quan mật thám hay và yêu cầu thả ngay Hòa thượng ra. Khi bọn chúng đến thì chưa bị bắn nên bọn chúng đã đưa Hòa thượng về nhà thương Trung ương Huế để chữa trị.

Nhận thấy thực dân Pháp, tay sai Ngô Đình Diệm ngày càng táo tợn, chém giết đồng bào, hãm hiếp phụ nữ, nên Cư sĩ đã gia nhập phong trào hòa bình thế giới trong đó có Bác sĩ Lê Khắc Quyến, Bác sĩ Phùng Hữu Phước, Tôn Thất Dương Kỵ, Nhạc sĩ Hồng Nguyên… nên cả nhóm đã bị bắt giam và sau đó cấm cả gia đình Cư sĩ không được ở Huế và tóng vào ở tại Sài Gòn từ những năm 1954 – 1955.

Từ năm 1952 đến 1963 Cư sĩ luôn luôn hộ trì các chùa, hể nghe chùa nào có khó khăn về kinh tế hay bị bọn tay sai Pháp làm khó dễ là có mặt Cư sĩ ngay.

Chính Cư sĩ, Sư bà Diệu Không, Hòa thượng Trí Thủ… là những người đầu tiên ủng hộ Hòa thượng Minh Châu và Trí Không (Trần Quang Thuận) xuất dương du học.

Năm 1946 Phủ chúa Nguyễn Phúc Cảnh – Anh Duệ Hồng Thái tử ở Vỹ Dạ bị giặc Pháp đốt phá, chính Cư sĩ đã xin cột kèo và vật liệu còn lại đem cúng chùa Từ Đàm để xây Giảng đường thời bấy giờ.

Cũng trong những năm này, ở phòng nhì mật thám Pháp có tên Mười Ba là giáo gian khét tiếng ở Huế thường hay bắt nạt các chùa và ngầm theo dõi các thầy hằng ngày, nghe vậy, Cư sĩ thường hay đối diện với tên giáo gian này để dằn mặt. Tên giáo gian này sợ Cư sĩ tâu với đức Từ Cung nên mỗi khi gặp Cư sĩ thường hay lánh mặt. Tên Mười Ba này mỗi khi ra đường gặp các thầy xách giỏ mang đãy đi làm lễ cho Phật tử là liền sốt xét và tịch thu giấy tờ nên các thầy rất sợ.

Năm 1959 Đại hội Phật giáo kỳ III và 1962 Đại hội thống nhất Phật giáo 3 miền tại chùa Từ Đàm Huế, Cư sĩ là người hộ trì và là đại biểu tham dự các kỳ đại hội này.

Năm 1963 Đại hội Phật giáo thống nhất họp tại Sài gòn, Cư sĩ được bầu vào chức vụ Phó tổng Thư ký Viện Hóa Đạo (đặc trách ngoại vụ).

Từ nằm 1965 – 1975, Cư sĩ quay sang làm kinh tế và thuê tàu Viễn Dương để buôn bán với Nhật, nhưng bị nghi ngờ nên chính quyền bây giờ không cho phép.

Những năm sau đó, 1985, cả hai ông bà vì tuổi cao sức yếu nên Hòa thượng Chơn Kim là con trai trưởng đã đưa hai Ông bà cụ thân sinh lên ở với Hòa thượng tại chùa Tường Vân, Đơn Dương và đã qua đời năm 1987, thọ 77 tuổi.

Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 2, xuất bản 2011.

Chấm điểm
Chia sẻ
Cu si tam hue nguyen phuc trang dang 1910 1987

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)