Tiểu sử
Cư sĩ Lê Quý Quang, Pháp danh Tâm Thành, tự Thanh Tịnh sinh ngày 4 tháng 7 năm 1926 tại Cổ Thành, Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Song thân là ông Nguyễn Văn Thiết và bà Nguyễn Thị Lan, Pháp danh Tâm Tố.
Thuở thiếu thời, Cư sĩ là người hiếu học, nhưng không may thời cuộc chiến tranh Thân phụ tập kết ra Bắc, ở nhà hai mẹ con làm nghề đồ mã để sống qua ngày, nhưng là một gia đình thuần thành theo Phật nên từ nhỏ cư sĩ thường theo mẹ lên Chùa hộ trì Tam bảo.
Khi lớn lên Cư sĩ là con người đầy hiếu hạnh dù thân mẫu khuyên lập gia đình để nối dõi tông đường nhưng cư sĩ không đi theo con đường đó mà cứ thân cận Quí ôn, Quí thầy trong chốn Tòng Lâm của xứ Huế để tu tâm học đạo; sau một thời gian dài tu học thấm nhuần giáo lý nhà Phật, nên cư sĩ đã cùng với thân mẫu khăn gói lên Chùa Thiên Mụ đãnh lễ Hòa thượng Thích Đôn Hậu phát tâm xuất gia tu học và được cho Pháp danh là Tâm Thành. Trong quá trình tu tập ở chùa Thiên Mụ thì thân mẫu thường xuyên đến Chùa hộ trì Tam bảo, Cư sĩ là người con quá hiếu hạnh với mẹ cho nên đã lộ ra trên khuôn mặt, vì vậy Hòa thượng đã thấy tâm trạng đó nên đến bên đệ tử dạy rằng: “Hạnh hiếu là hạnh Phật đó con”; từ đó, Cư sĩ phải xin Hòa thượng trở về với gia đình để chăm sóc mẹ hiền.
Sau đó, Cư sĩ cùng với mẹ lên nhà Bác Lê Mộng Tùng ở Chợ Cống đường Nguyễn Công Trứ bây giờ, để lập đạo tràng tu tập, một thời gian sau đạo tràng ngày càng đông nên đã chuyển lên Từ đường Công chúa An Thường ở cùng con đường Nguyễn Công Trứ để tu tập; tại đây cũng được một thời gian thì đạo tràng càng đông đảo nên gia đình Bác Lê Mộng Tùng đã phát tâm hỷ cúng một mãnh đất nằm trên ngã ba đường Nguyễn Công Trứ và Võ Thị Sáu bây giờ, để xây dựng Niệm Phật đường đến năm 1940 thì đạo tràng đã mời Cư sĩ và thân mẫu lên thường trú ở đó tu học cho đến ngày xả báo thân.
Cư sĩ có những phẩm chất đặc biệt mà ít thấy ở nhiều người khác. Từ thuở thơ ấu cư sĩ đã giàu lòng bi mẫn, có một cảm thông sâu sắc trước những cảnh đời đen bạc đua chen, những kiếp người cùng khổ, thương đau, bệnh tật neo đơn, ít người đối hồi. Do đó, cư sĩ luôn trăn trở ray rứt, suy tư: Phải làm gì đây để chia sẻ một phần nào những bất hạnh khổ đau của con người.
Đạo Bồ đề ngày càng soi tỏ tâm tư vốn có, cư sĩ đã lên đảnh lễ Hòa thượng Thích Đôn Hậu, xin thọ tại gia Bồ tát giới, và Hòa thượng Bổn sư đã cho Pháp tự là Thanh Tịnh. Với niềm tin sâu sắc vào đạo giác ngộ, cư sĩ thấy được nguyên nhân đưa đến mọi sự khổ đau và phải rời bỏ bến mê thì phải có phương pháp diệt khổ. Cư sĩ đã phát tâm làm hạnh nguyện từ bi, độ sanh. Túc duyên và hạnh nguyện đã đi sâu vào con đường hành thiện lợi tha.
Vì thế cư sĩ đã tạo niềm tin cho mọi người cũng như chư Tôn đức trong giáo hội, và do vậy cư sĩ đã được Giáo hội bầu vào làm Ủy viên Ban Trị sự Giáo hội Tỉnh Thừa Thiên.
Ngay từ thuở ban sơ cư sĩ đã tham gia hướng dẫn nhiều đạo tràng tu tập như: Đạo tràng Pháp Hoa chùa Từ Đàm, Đạo tràng Tây Thiên tu tập bát quan trai, Chúng Bồ-tát thập thiện, Đạo tràng đồng niệm chùa Phổ Quang, Đạo tràng bát quan trai Niệm Phật đường Phú Lâu …, không những ở Thừa Thiên Huế mà cư sĩ còn đi tận các vùng quê xa xôi ở Quảng Trị thành lập và trợ duyên cho nhiều Đạo tràng tu tập bát quan trai khác.
Cuộc đời hành đạo đóng vai trò Cư sĩ, vào ngày Rằm tháng 4 năm Nhâm Ngọ (2002) đã hội đủ tất cả nhân duyên một lần nửa cư sĩ đã phát nguyện xuất gia cuối đời để gieo nhân tốt cho mình. Với chí nguyện tha thiết như vậy nên đã được Hòa thượng Thích Huệ Ấn Trú trì Chùa Phổ Quang cùng Chư Tăng trong Giáo hội Thừa Thiên Huế quang lâm chứng minh truyền trao giới pháp sadi Bồ tát, thế là ước nguyện của Cư sĩ đã được viên mãn.
Sau thời gian đó Cư sĩ đã an nhiên niệm Phật và nhẹ nhàn vĩnh biệt cuộc đời ra đi vào lúc 13 giờ ngày 16 tháng 5 năm Nhâm Ngọ (2002) hưởng thọ 74 tuổi đời.
Tang lễ của Cư sĩ đã được cử hành trọng thể và trang nghiêm dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Huệ Ấn Trú trì Chùa Phổ Quang với sự hộ niệm của chư Hòa thượng, chư Thượng tọa, Đại đức Tăng, Ni trong Giáo hội, các đạo hữu và Phật tử thuộc các Niệm Phật đường, Đạo tràng, các Gia đình Phật tử, các giới chức, đồn thể xã hội cùng tất cả bạn nghèo đã từng được gần gủi với Cư sĩ và thân bằng quyến thuộc, anh chị em trong nhóm Từ Thiện khắp mọi nơi đã trở về chia buồn, cầu nguyện, phúng điếu và tiễn đưa linh cửu của Cư sĩ đến nơi an nghỉ cuối cùng, an táng tại khuôn viên tháp địa của Tổ đình Tây Thiên, thành phố Huế.
Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 2, xuất bản 2011.