Cư sĩ Ưng Bình Thúc Giạ Thị (1877–1961)

Cư sĩ Ưng Bình Thúc Giạ Thị (1877–1961)

Thông tin cơ bản

Tiểu sử

Ông sinh năm Đinh Sửu, 1877, tốt nghiệp trường Quốc học Huế, đỗ đầu kỳ thi ký lục năm 1904, đỗ Cử nhân Hán học năm Kỷ Dậu, 1909 (33 tuổi). Tham dự quan trường từ năm 1904.

Đến năm 1933 hồi hưu, thăng hàm Thượng thư. Cư sĩ là Hội viên danh dự của Hội Annam Phật học trung kỳ tại Huế. Sau đó, Ông có làm Hội trưởng hội Truyền bá Quốc-ngữ Trung kỳ năm 1939-1940, viện trưởng Viện Dân biểu Trung kỳ năm 1940-1945, thăng Hiệp Tá Đại Học Sĩ năm 1943 (67 tuổi ). Là một nhà thơ cổ điển, có nhiều tác phẩm mang đậm tư tưởng Phật giáo như :

Khuyên Học Phật

Đường danh nẻo lợi ngó đông đông,
Chen chúc nhau chi đám bụi hồng.
Kìa bóng bạch câu qua chẳng lại, 
Nọ tranh thương cẩu có rồi không ;
Dở cười dở khóc trên sân khấu,
Khi nở khi tàn mấy cụm bông.
Sao kiếp phù sinh cho khỏi lụy,
Quyển kinh câu kệ chớ nài công.

Năm 1934, 58 tuổi.

Một thi sĩ đã làm bài thơ tặng ông như sau :

Tuổi bảy mươi lăm, Phật ở đời,
Vui khi còn sống, điếu mà chơi .
Con dâng lễ cúng, hầu ban chuyện,
Bạn viết văn ai, đến chọc cười.
Xót mắt bụi trần, chưa nỡ nhắm,
Nóng lòng vận nước để chờ coi.
Hồng gia nguyên lão còn không mấy ,
Dưới đất văn chương nỏ thiếu người.

Trong khi ngọa bịnh, Ông vẫn thiết tha với bạn thơ, cho nên đã có bài “Bệnh trung ngâm”:

Lão phu đà vướng bệnh tương ty,
Mơ mộng khôn khuây bởi cớ gì ?
Đã biết nhà Nho theo chánh đạo
Thường mong cửa Phật đến qui y
Đường xa cậy có tin thanh điểu
Xuân muộn còn nghe tiếng tử qui
Duyên nợ văn chương tình hữu ái
Dễ gây thương nhớ bạn làng thi.

Các bạn làng thơ xa gần đều rất đổi băn khoăn: nào săn sóc thuốc thang, ân cần thăm hỏi, nào lập đàn tụng kinh niệm Phật để cầu an cho Ông. 

Nhà ông ở Vĩ Dạ, có chùa Ba-la-mật do Hòa thựợng Viên Thành Trú trì cũng là người hồng phái thuộc phủ Định Viễn quận Vương, là người bạn thâm giao về thơ văn. Thời làm quan chưa có dịp quy y đầu Phật thì Hòa thượng Viên Thành đã viên tịch. Đến lúc đủ cơ duyên thì Ông đến Tổ đình Báo Quốc Quy y với Hòa thượng Trí Thủ là Pháp tử của Hòa thượng Viên Thành. Từ đó ông có Pháp danh là Nguyên An.

Nhà thơ Quì Ưu Nguyễn Đôn Dư họa lại bài xướng của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị :

Mái tóc đài gương nặng tuyết ty
Phong sương dẫu nhuốm chửa can gì
Tâm hồn đau khổ nào ai biết
Dung mạo nhân từ thấy vẫn y
Mỏi gối còn đua tài thất bộ
Nhức đầu vẫn nhớ nguyện tam qui
Ơn Trời, ơn Phật phù trì Cụ
Khỏe cánh bền quai với bạn thi.

Khi bình phục, nhân được các thi hữu đặt tiệc rượu mừng, Tiên sinh có tạ lại bằng một bài thơ:

Nâng cao chén rượu của làng thi
Gây tấm yêu đương dạ kỉnh vì,
Đông đủ khéo vầy duyên hội ngộ,
Âu sầu đã ngớt bệnh tương ty;
Tai ương, Phật độ đà qua khỏi
Phước lộc, trời cho nỏ thiếu chi.
Bi, hỷ tương quan tình bạn hữu,
Tiệc trà thân ái lão xin ghi.

Những bài thơ làm gần đây nhất, phần nhiều là để tỏ lòng mộ đạo:

Nguyện Tu

Cứ loanh quoanh mãi cuộc phiền ba
Tuổi tám mươi tư cũng đã già
Chưa mến quyển kinh và quyển kệ
Vì ham câu lý với câu ca
Nếu trò ổi lỗi không xem lại
Thì chuyện luân hồi khó hiểu qua
Chữ Phật trong lòng tôi có sẵn
Rồi đây tôi cũng áo cà sa.

                                Mùa hạ Canh tý 1960.

Tiếng Chuông Lòng (bài tuyệt bút)

Tiếng chuông lòng dội buổi tan sương
Đỉnh lễ qui y trước Phật đường
Soi tỏ tâm linh nhờ đuốc tuệ
Rưới tan tục lụy sẵn cành dương
Giữ niềm bác ái không sai chậy
Thời bệnh sân si khỏi vấn vương
Tôi cũng như ai phường đạo hữu
Mong vào cửa Phật đến Tây phương.

                                            Mùa Thu Canh tý 1960.

Đầu mùa Thu năm Canh tý 1960, Tiên sinh bị bệnh kết thạch rất trầm trọng, phải vào bệnh viện Huế để mổ.
Từ đó bệnh Tiên sinh khi tăng khi giảm không chừng, rồi bỗng trở nên nguy kịch vào hồi trung tuần tháng hai âm lịch này. Tuy nhiên, Tiên sinh vẫn tỉnh táo vui vẻ, vẫn niềm nở hỏi han các thi hữu vào thăm viếng, vẫn ưng nghe cô Tôn Nữ Hỷ Khương hầu bên cạnh lần lần ngâm hết các bài thơ của ông: nhiều câu đã được Tiên sinh mỉm cười mà khen thưởng. Chiều ngày 3-4-1961, con cháu được phép đưa Tiên sinh trở về Vỹ dạ, Khi nhìn thấy ngõ tre vàng nên thơ, chốn hưu đình ấm cúng, Tiên sinh rất đổi vui sướng và mỉm cười. Thế rồi thi hữu tới thăm phải ngâm thơ, đào nương tới thăm phải ca hát, Tiên sinh vỗ tay mà khen hay. Đến 2 giờ sáng ngày 4-4-1961, tức 19 tháng 2 năm Tân sửu, nhằm ngày vía Đức Quán Thế Âm, ông lặng lẽ nhắm mắt, trút hơi thở cuối cùng, để lại một mối tiếc thương vô hạn trong giới văn nhân thi sĩ Việt Nam . 

Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 1, xuất bản 2011.

Chấm điểm
Chia sẻ
Cu si ung binh thuc gia thi1877

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)