Đà Quốc công – Mạc Ngọc Liễn (1528 – 1594)

Đà Quốc công – Mạc Ngọc Liễn (1528 – 1594)

Thông tin cơ bản

Thông tin chung

Mạc Ngọc Liễn (1528–1594) là một đại thần, võ tướng nổi tiếng của nhà Mạc trong lịch sử Việt Nam.

Xuất thân

Mạc Ngọc Liễn, nguyên danh Nguyễn Ngọc Liễn (阮玉璉), sinh năm 1528 tại xã Dị Nậu, huyện Thạch Thất, Hà Nội, xuất thân trong gia tộc danh giá. Ông là con trai thứ hai của Thái sư Tây quốc công Nguyễn Kính, một trong những công thần khai quốc nhà Mạc. Nhờ công lao to lớn của cha và bản thân gia tộc, Ngọc Liễn cùng hai người anh em đều được ban họ vua (quốc tính), đổi thành họ Mạc, thể hiện địa vị đặc biệt trong triều. Bên cạnh đó, Mạc Ngọc Liễn còn giữ vai trò phò mã, là hôn phu của công chúa Mạc Thị Ngọc Lâm, nối kết dòng dõi tôn thất với công thần nhà Mạc.

Cuộc đời

Mạc Ngọc Liễn trưởng thành trong bối cảnh Đại Việt bị chia cắt giữa hai triều: phía Bắc là nhà Mạc, phía Nam từ Thanh Hóa là nhà Lê trung hưng.

Năm 1546, Mạc Hiến Tông băng hà, con trai là Phúc Nguyên còn nhỏ, lên nối ngôi với danh hiệu Mạc Tuyên Tông. Khiêm vương Mạc Kính Điển được Hiến Tông chọn làm phụ chính. Tuy nhiên, trong triều xuất hiện tranh chấp: Tứ Dương hầu Phạm Tử Nghi muốn lập Hoằng vương Mạc Chính Trung – con trai thứ hai của Mạc Thái Tổ làm vua nhưng Mạc Kính Điển không tán thành, kiên quyết phò Phúc Nguyên lên ngôi. Phạm Tử Nghi cùng Chính Trung khởi binh nổi loạn, và Nguyễn Ngọc Liễn cùng cha dốc sức phò tá Mạc Kính Điển, bảo vệ vua nhỏ Tuyên Tông, kéo dài trận chiến.

Nhờ công lao phò tá Tuyên Tông, năm 1549, cha con Nguyễn Ngọc Liễn trở thành công thần hàng đầu ngoài hoàng tộc, được ban họ vua Mạc. Mạc Kính Điển được phong Thái úy Tây quốc công, còn Mạc Ngọc Liễn được tấn phong Ngạn quận công.

Năm 1550, trong lúc nhà Mạc còn chưa dẹp yên được cuộc nổi loạn của Mạc Chính Trung thì lại tiếp tục xảy ra biến động lớn trong nội bộ triều đình. Thái tể Lê Bá Ly vì bất mãn đã cùng thông gia là Nguyễn Thiến đem theo gia quyến và các tướng như Nguyễn Quyện, Lê Khắc Thận chạy vào Thanh Hóa, quy thuận nhà Lê. Đến năm 1552, Nguyễn Khải Khang – cậu ruột của Ngọc Liễn cũng bỏ nhà Mạc sang hàng nhà Lê. Những vụ đào thoát liên tiếp này khiến triều Mạc bị tổn thất nặng nề cả về lực lượng lẫn tinh thần, lòng người trong nước dao động mạnh. Nhân cơ hội đó, quân Lê – Trịnh liên kết với chúa Bầu Vũ Văn Mật, mở cuộc tấn công lớn vào đất Bắc. Trước tình thế nguy cấp, Mạc Ngọc Liễn cùng cha và anh trai là Mạc Hữu Mệnh vẫn một lòng phò tá Khiêm vương Mạc Kính Điển, trực tiếp chỉ huy quân đội chống giữ. Nhờ sự kháng cự quyết liệt ấy, quân Lê – Trịnh không đạt được mục tiêu, buộc phải rút quân.

Năm 1557, Lê Bá Ly và Nguyễn Thiến qua đời. Một số tướng như Nguyễn Quyện, Nguyễn Miễn quay về hàng Mạc, nhưng Khải Khang và Lê Khắc Thận vẫn chưa trở lại. Đến tháng 9 năm 1558, nhà Mạc dùng mưu kế dụ Khải Khang về, rồi lệnh Mạc Tuyên Tông xử hình tàn khốc, xé xác Khải Khang. Trước đó, Khải Khang cũng từng được ban họ Mạc và tước Thái úy Đoan quốc công khi ở bên triều Mạc. Lê Khắc Thận đến tháng 8 năm 1572 mới quay về với nhà Mạc.

Tóm lại, thời kỳ đầu Mạc Ngọc Liễn tham gia chính sự là giai đoạn đầy biến động, với những cuộc nội loạn, sự phản phúc trong triều, và ông cùng gia tộc vẫn kiên định trung thành với Mạc Tuyên Tông, giữ vững quyền lực cho nhà Mạc trong thời kỳ đầy rủi ro.

Nam chinh

Vào tháng 1 năm 1575, Mạc Ngọc Liễn cùng Khiêm vương Mạc Kính Điển mang quân tiến đánh Nam triều tại Thanh Hóa. Trong chiến dịch này, Kính Điển phụ trách các huyện Thuỵ Nguyên và Yên Định, còn Ngọc Liễn đảm nhiệm hai huyện Đông Sơn và Lôi Dương. Đồng thời, Kính Điển phái cậu của Ngọc Liễn là Nguyễn Quyện và Hoàng quận công Mạc Đăng Lượng tấn công Nghệ An. Đến tháng 8 năm 1575, dù Quyện và Mạc Đăng Lượng giành thắng lợi trước quân Lê, Vũ Sư Thước cùng cháu của Nguyễn Khải Khang là Nguyễn Hữu Liêu lại đánh bại quân Mạc, buộc Kính Điển và Ngọc Liễn phải rút lui.

Tháng 4 năm 1576, Mạc Ngọc Liễn lại cùng Kính Điển mở cuộc tấn công Thanh Hóa lần nữa. Kính Điển đánh huyện Thuỵ Nguyên, Ngọc Liễn phụ trách Yên Định và lại chia quân cho Nguyễn Quyện cùng Mạc Đăng Lượng tiến đánh Nghệ An. Tuy nhiên, sau một thời gian giao tranh, quân Mạc không chiếm được khu vực, đành lui về.

Đến tháng 10 năm 1578, Mạc Ngọc Liễn dẫn quân đánh chúa Bầu Vũ Công Kỷ tại châu Thu Vật (Tuyên Quang) nhưng thất bại, phải rút lui. Tháng 7 năm 1580, ông cùng Nguyễn Quyện và Mạc Đăng Lượng tiếp tục tiến quân đánh phá ven biển Thanh Hóa.

Sau cái chết của Khiêm vương Kính Điển vào tháng 10 năm 1580, em út của Kính Điển là Mạc Đôn Nhượng đảm nhận chức Phụ chính vào mùa thu năm 1581. Trong bối cảnh này, Mạc Ngọc Liễn trở thành một đại thần chủ chốt của nhà Mạc và được phong Đà quốc công vào năm 1584. Tuy nhiên, do Đôn Nhượng thiếu năng lực và uy tín, quân Nam triều dần giành thế thượng phong.

Tháng 10 năm 1587, Trịnh Tùng, chủ soái Nam triều, tiến quân bắc phạt qua đường Thiên Quan và phủ Thiên Trường. Trước tình hình đó, Mạc Ngọc Liễn được lệnh cùng Nguyễn Quyện chia quân ra cự: Ngọc Liễn đánh ra Ninh Sơn bên tả, Nguyễn Quyện tiến ra đường Chương Đức bên hữu. Quân Lê bố trí Nguyễn Hữu Liêu cầm cự với Ngọc Liễn, Hoàng Đình Ái giữ Thanh Hóa, Trịnh Tùng trực tiếp đối đầu Nguyễn Quyện. Khi nghe tin Nguyễn Quyện bại trận, Ngọc Liễn phải rút quân. Dù vậy, Trịnh Tùng cũng không thể chiếm lâu dài huyện Thạch Thất, buộc quân Nam triều phải rút về Thanh Hóa.

Đại chiến kinh thành

Cuối năm 1589, Mạc Đôn Nhượng tiến quân đánh Thanh Hóa nhưng không thành công. Trong khi đó, vua Mạc Mậu Hợp lơ là chính sự, khiến tình hình nhà Mạc ngày càng suy yếu.

Đến cuối năm 1591, Trịnh Tùng mang đại quân tiến ra Bắc. Mạc Mậu Hợp tập hợp hơn 10 vạn quân Bắc triều, phân công Mạc Ngọc Liễn trấn thủ Tây đạo, Nguyễn Quyện giữ Nam đạo, còn bản thân ông trực tiếp chỉ huy trung quân. Ngày 27 tháng 12 năm 1591, quân Mạc gặp quân Lê tại Phấn Thượng, hai bên bố trí trận hình: Ngọc Liễn giữ cánh phải, Nguyễn Quyện giữ cánh trái. Cuộc giao chiến kéo dài từ cuối năm 1591 sang đầu năm 1592, và đến ngày 3 tháng 1, quân Mạc thua trận. Mạc Mậu Hợp bỏ kinh thành chạy sang Bồ Đề, để Ngọc Liễn cùng các tướng trấn giữ lại.

Mạc Ngọc Liễn đảm nhận tuyến từ cửa Bảo Khánh tới cửa Nhật Chiêu, Trần Bách Niên và Bùi Văn Khuê giữ từ Cầu Da tới Cầu Dền, còn Nguyễn Quyện phòng thủ từ Mạc Xá sang phía Đông kinh thành. Ngày 6 tháng Giêng, hai bên lại giao chiến ác liệt. Trịnh Tùng bố trí trận tại gò tập bắn (Giảng Võ, Hà Nội) và chia đường cho các tướng tấn công. Trần Bách Niên và Bùi Văn Khuê thua trận bỏ chạy, Nguyễn Quyện không kịp tập hợp phục binh nên bị bắt và tử nạn trong ngục vào ngày 4 tháng 11 nhuận năm 1593. Mạc Ngọc Liễn phải cô thế rút khỏi thành, dẫn tới việc Thăng Long thất thủ.

Tháng 3 năm 1592, Trịnh Tùng san phẳng thành luỹ Thăng Long nhưng sau đó lại rút quân về Thanh Hóa. Mạc Mậu Hợp trở lại kinh thành, tiếp tục hưởng lạc và định sát hại tướng Bùi Văn Khuê để chiếm vợ ông này là Nguyễn Thị Niên, con gái thứ ba của Nguyễn Quyện. Văn Khuê bèn sang hàng Nam triều. Sau đó, nhiều tướng Mạc lần lượt hàng quân Lê, tình thế nhà Mạc ngày càng nguy ngập, chỉ còn trông cậy vào Mạc Ngọc Liễn.

Ngày 14 tháng 11, quân Nam triều chia hai đường thủy-lục tấn công từ Hát Giang. Mạc Ngọc Liễn bố trí chiến thuyền chống giữ, đóng cột gỗ dưới lòng sông và đắp luỹ trên bờ. Tuy nhiên, luỹ bị quân Nam triều phá, Ngọc Liễn phải bỏ thuyền rút về Tam Đảo, quân Mạc tan rã. Mạc Mậu Hợp bỏ kinh thành chạy về Kim Thành (Hải Dương). Ngày 25 tháng 11, Trịnh Tùng tiến công Kim Thành, Mạc Mậu Hợp thất bại, bỏ chạy, rồi không lâu sau bị bắt và xử tử.

Tái lập họ Mạc

Sau khi hay tin Mạc Mậu Hợp thất bại, Mạc Ngọc Liễn rút lui, tìm cách bảo vệ tông thất nhà Mạc và lập lại vương quyền. Vào tháng 3 năm 1593, ông gặp con trai của Khiêm vương Mạc Kính Điển là Mạc Kính Cung tại Văn châu, lập lên làm vua với niên hiệu Càn Thống.

Lúc này, nhân tâm phía bắc vẫn còn hướng về nhà Mạc, nên nhiều địa phương như Hải Dương, Kinh Bắc, Thái Nguyên nhanh chóng quay về phục tòng vua mới. Quân Mạc dưới sự chỉ huy của Ngọc Liễn tiến đánh, giành lại phần bờ bắc sông Hồng.

Ngày 21 tháng 3 năm 1593, Trịnh Tùng điều quân tấn công, các con của Ngọc Liễn là Lập quận công, Đông Sơn hầu và Phù Cao hầu (không rõ tên trong sử) thất trận đầu hàng nhà Lê. Tuy nhiên, đến tháng 7, họ trốn về theo Mạc, riêng Lập quận công không kịp trốn và bị giết.

Đầu năm 1594, Mạc Ngọc Liễn đưa Mạc Kính Cung chạy về An Bắc. Tháng 2 năm đó, khi Trịnh Tùng cử Hoàng Đình Ái tấn công, quân Mạc thua trận, Ngọc Liễn cùng Kính Cung buộc phải chạy sang phủ Tư Minh, nhờ đất nhà Minh làm nơi lánh nạn.

Vào tháng 5 năm 1594, Mạc Kính Cung cử Ngọc Liễn làm thái phó, dẫn quân chiếm cứ Yên Tử (Quảng Ninh) và tiến đánh Vĩnh Lại. Quân Nam triều do Nguyễn Hoàng chỉ huy phản công, quân Mạc lại thua, Ngọc Liễn chạy về Vạn Ninh, còn Kính Cung vào Long Châu.

Mạc Ngọc Liễn và di thư đầy trách nhiệm với đất nước

Tháng 7 năm 1594, Mạc Ngọc Liễn lâm bệnh nặng. Trước khi mất, ông để lại di ngôn cho vua Mạc Kính Cung:

Nay khí vận nhà Mạc đã hết, họ Lê lại trung hưng, đó là số trời. Dân ta là người vô tội mà phải gánh nạn binh đao, ai nỡ lòng nào! Chúng ta nên lánh ra nước khác, nuôi dưỡng uy lực, chịu khuất chờ thời, đợi khi mệnh trời trở lại mới hành động, chứ không thể lấy lực địch lực. Khi hai con hổ tranh nhau, tất có một con bị thương, không ích gì cho công việc. Nếu thấy quân họ đến đây, nên tránh, chớ đánh, chủ yếu là phòng thủ cẩn thận; tuyệt đối không mời quân Minh vào xứ để dân ta phải lầm than, đó là tội lớn không gì nặng bằng[1]

Ông qua đời ngày 2 tháng 7 âm lịch năm đó. Sau khi Ngọc Liễn mất, con trai ông – Đông Sơn hầu chạy sang Long Châu, tiếp tục cùng Mạc Kính Cung kháng cự nhà Lê – Trịnh. Mạc Kính Cung và các vua Mạc đời sau thực hiện đúng lời dặn của Ngọc Liễn: dựa vào sự ủng hộ của nhà Minh để giữ cát cứ tại Cao Bằng, nhưng tuyệt đối không mượn quân Minh đánh lại nhà Hậu Lê.

Một di thư đầy trách nhiệm! Mạc Ngọc Liễn đã sống trọn vẹn với thời đại nhà Mạc. Cha con ông phò tá hơn sáu thập niên suốt cả 5 đời vua nhưng khi sức cùng lực kiệt, nhìn rõ thời vận, ông đã rất có trách nhiệm với non sông, đất nước. Di thư sáng suốt kêu gọi thế lực nhà Mạc không “cõng rắn cắn gà nhà” (như vua Lê, vua Nguyễn sau này cầu viện quân Thanh, quân Xiêm), không cố giành ngôi báu bằng mọi giá, không đặt quyền lợi dòng họ lên trên quyền lợi dân tộc, không để dân vô tội phải mắc nạn binh đao triền miên, thêm lầm than đau khổ… đã phần nào “gỡ gạc” lại hình ảnh của một “ngụy triều”!

Dấu tích

Một làng ở xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng mang tên là làng Đà Quận, tức là đặt theo chức Đà quận công của Mạc Ngọc Liễn. Nhân dân tại đây có dựng chùa Đà Quận để tưởng nhớ ông. Hội chùa Đà Quận diễn ra vào ngày 9 tháng giêng hằng năm.

Tương truyền thuở sinh thời, khi chiến tranh còn chưa ác liệt, Mạc Ngọc Liễn cùng phu nhân Mạc Thị Ngọc Lâm đã đại tu Linh Tiên Quán (làng Cao Thượng, xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây) vào năm Giáp Thìn (1544). Đây là di tích gắn liền với tể tướng Lữ Gia nhà Triệu nước Nam Việt. Trước đây, Linh Tiên quán đã nhiều lần được sửa chữa nhưng tới lần tu sửa do ông thực hiện đã để lại cho đời sau một công trình văn hóa quy mô và bề thế bằng gỗ như ngày nay.

Ngoài ra, ông còn là người tu bổ đền Lũng ở Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) thờ Sĩ Nhiếp, người được xem là ông tổ Hán học ở Việt Nam. Đền Lũng được xây dựng quy mô to lớn từ khi Mạc Ngọc Liễn thực hiện, với 5 toà nhà liền nhau, hai bên tả hữu có lầu, phía trước là hồ nhỏ có cầu đá bắc qua, bên ngoài dựng Môn Lâu, ngoài nữa sát sông Dâu là Vọng Giang Lâu.

Thờ phụng

Mạc Ngọc Liễn được hậu thế tôn vinh không chỉ vì vai trò chính trị, quân sự mà còn vì nhân cách, lòng trung nghĩa và tấm lòng vì dân. Việc thờ phụng ông được thể hiện qua nhiều di tích, công trình văn hóa và sự ghi nhận trong sử sách. Tại Cao Bằng, làng Đà Quận ở xã Hưng Đạo, huyện Hòa An mang tên tước vị của ông, người dân dựng chùa Đà Quận tưởng nhớ và tổ chức hội chùa vào ngày 9 tháng giêng hằng năm. Tại Hà Nội, tượng ông cùng phu nhân Phúc Thành Thái trưởng công chúa Mạc Thị Ngọc Lâm được thờ tại Đạo quán Linh Tiên, nơi vợ chồng ông từng đại tu và xây dựng chùa Linh Tiên Quán năm 1544, đồng thời cúng 10 mẫu ruộng để lo đèn nhang. Họ cũng tu bổ đền Lũng ở Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh), thờ Sĩ Nhiếp, cùng nhiều công trình khác như Chùa Bảo Quang (quê hương ông), Am Động Tiên (Sài Sơn), Chùa Hưng Khánh (Tây Tựu), Chùa Thiên Niên Cổ tự, đình Trích Sài (phường Bưởi) và quán Hội Tiên (Phượng Trì), cũng như trùng tu chùa Phổ Minh (Nam Định).

Ngoài ra, ông cùng vợ còn có công xây dựng cầu, cống, đường xá cho dân, điển hình như cầu Cự Thạch ở Thạch Thất, và phát triển nghề gốm sứ ở Bát Tràng, Chu Đậu, tạo ra nhiều đồ thờ tuyệt mỹ. Mạc Ngọc Liễn được xem là một trong “ba trụ cột” chống đỡ triều Mạc, suốt đời tận trung phò tá, nhất là sau khi Mạc Kính Điển mất, trở thành chỗ dựa vững chắc cho nhà Mạc. Lời trăng trối cuối cùng của ông vào năm 1594 được đánh giá cao về tư tưởng và đạo đức, nhấn mạnh không rước quân Minh vào nước để tránh làm dân phải lầm than, “đó là tội lớn không gì nặng bằng”, thể hiện tinh thần đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Lời dặn dò này được các vua Mạc thời cát cứ Cao Bằng tuân theo, không cầu viện ngoại bang, giữ uy tín và danh dự cho triều Mạc trong mắt hậu thế. Như một chiếc mỏ neo đạo đức, lời di chúc của Mạc Ngọc Liễn bảo vệ con thuyền dân chúng khỏi cơn bão tranh giành quyền lực, đồng thời khẳng định giá trị cao cả của tinh thần nhân đạo, trách nhiệm với đất nước và dân tộc. Sự tôn vinh ông thể hiện qua di tích, đền chùa, công trình văn hóa, cùng nhân cách và đạo đức, khiến Mạc Ngọc Liễn trở thành hình tượng đại thần trung thành, biết đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, được hậu thế tưởng nhớ và kính phục.

Nhận định

Với những đóng góp quan trọng, Mạc Ngọc Liễn xứng đáng là con của danh tướng Nguyễn Kính. Hai đời cha con ông phò tá cả năm đời vua nhà Mạc, từ lúc bắt đầu tới khi kết thúc một triều đại. Sau Mạc Kính Điển, có lẽ Mạc Ngọc Liễn là chỗ dựa lớn nhất của nhà Mạc thời hậu kỳ. Mạc Ngọc Liễn một đời tận trung với nhà Mạc, dù vật đổi sao dời vẫn không lay chuyển lòng trung. Do Mạc Mậu Hợp bỏ bê chính sự, làm hỏng cơ nghiệp của cha ông, Mạc Ngọc Liễn dù tận tâm cũng không thể cứu vãn.

Các sử gia ngày nay đánh giá rất cao lời thư trăng trối của ông. Về mặt chiến thuật với họ Mạc, đó là mưu kế”tẩu vi thượng sách”, phải tránh thế mạnh của kẻ địch. Chiến thuật đó là hợp lý đối với phe yếu như tương quan lực lượng giữa Lê và Mạc thời kỳ sau. Vua tôi họ Mạc nhờ theo kế của ông đã giữ Cao Bằng trong mấy đời, gần 100 năm nữa sau khi ông mất.

Nhưng lớn lao hơn, các sử gia nhìn nhận lời trăng trối của ông là lời dặn của người có trách nhiệm với đất nước, với dân tộc. Trước đây thái thượng hoàng Mạc Đăng Dung phải chấp nhận nỗi nhục trói mình hàng nhà Minh để tránh hoạ xâm lăng của phương Bắc (mà nhà Mạc nếu đương đầu khó tránh khỏi số phận như nhà Hồ) và dường như điều đó tác động lớn tới tư tưởng của Mạc Ngọc Liễn. Ông thấm thía bài học về hậu quả đô hộ, dù chỉ 20 năm (1407-1427) của nhà Minh trước đây, quá nặng nề cho đất nước. Suốt gần 200 năm từ khi nhà Lê thành lập tới khi trung hưng (1428-1593), binh hoả liên miên, các nhân vật cao cấp của các chính quyền cai trị chỉ say sưa chiến trận và bảo vệ quyền lợi của mình; nhưng trong đó đã loé sáng lời dặn của Mạc Ngọc Liễn. Trong quãng thời gian dài đó, sau Nguyễn Trãi, tới tận khi nhà Mạc mất mới lại có một đại thần biết lo tới nỗi thống khổ của nhân dân Đại Việt về nạn binh đao và hoạ ngoại xâm, biết đặt lợi ích của nhân dân lên trên lợi ích của mình.

Nhà Mạc sau Thái Tổ và Thái Tông không có thêm vua giỏi, nhưng có các bầy tôi như Mạc Kính Điển, Mạc Ngọc Liễn cứu vãn hình ảnh nhà Mạc. Dù thua trận, mất quyền cai trị, nhà Mạc không cố giành lại ngôi vị bằng mọi giá. Đặt lợi ích của nhân dân Đại Việt lên trên lợi ích của mình, điều này Mạc Ngọc Liễn nói riêng và các vua Mạc (thời cát cứ Cao Bằng) nói chung đã tỏ ra cao thượng hơn vua tôi nhà Lê thắng trận lúc đó và nhà Nguyễn sau này. Các vua Lê, vua Nguyễn khi bị mất ngôi liền tức tốc chạy đi nhờ viện binh nước ngoài về diệt kẻ thù trong nước. Nhà Mạc theo lời dặn của ông đã biết cách rút lui khỏi chính trường và không để lại sự oán thán, chê trách của hậu thế.

Tác giả Trần Gia Phụng trong bài viết Những cuộc đổi họ lớn trong lịch sử có đoạn bình luận về lời trăng trối của ông:

Đây không phải lời nói suông trong cảnh trà dư tửu hậu, nhưng đây là tâm huyết của một con người sắp nằm xuống trong cơn hoạn nạn cùng cực vì mất nước. Suốt trong lịch sử Việt Nam, chúng ta thường được nghe những lời nói của Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Đặng Dung, hào hùng như vó ngựa tổ tiên, nhưng ít khi được đọc những dặn dò như Mạc Ngọc Liễn – nhân bản, đầy tình tự dân tộc không khác gì lời ru êm ái trong những câu ca dao mộc mạc.

Chú thích 

[1] Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Đức Thọ dịch và chú thích, Nxb Khoa học xã hội, tr.643.

Tham khảo

  1. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Đức Thọ dịch và chú thích, Nxb Khoa học xã hội.
  2. Trao đổi thêm về bài báo: Nhà Mạc chiếm cứ đất Cao Bằng năm nào?, Bảo tàng Lịch sử quốc gia, đăng tải ngày 09/09/2010.
  3. Di chúc của Mạc Ngọc Liễn, trên trang gov.vn, đăng tài ngày 1/5/2013.
  4. Đà Quốc công – Mạc Ngọc Liễn công thần nhà Mạc với bản di chúc nổi tiếng trong lịch sử, trên trang Mạc tộc Việt Nam, đăng tải ngày 22/01/2015.
  5. Mạc Ngọc Liễn và di thư đầy trách nhiệm với đất nước, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, đăng tải ngày 21/08/2023.
  6. Mạc Ngọc Liễn và câu nói để đời, Bình Phước Online, đăng tải ngày 28/05/2015.
  7. Nguyễn Ngọc Liễn, trên trang Họ Nguyễn Việt Nam, đăng tải ngày 12/10/2019.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh (English)

General Information

Mac Ngoc Lien (1528–1594) was a prominent statesman and general of the Mac dynasty in the history of Dai Viet.

Origin

Mac Ngoc Lien, originally named Nguyen Ngoc Lien (阮玉璉), was born in 1528 in Di Nau commune, Thach That district, Hanoi. He came from a distinguished lineage. He was the second son of Nguyen Kinh, titled Thai su Tay quoc cong, one of the founding功臣 of the Mac dynasty. Owing to the great service of his father and family, Ngoc Lien and his two brothers were granted the royal surname (quoc tinh), becoming members of the Mac family—reflecting their special status within the court.

Mac Ngoc Lien also served as royal son-in-law, being betrothed to Princess Mac Thi Ngoc Lam, thereby linking his family line with the imperial clan of the Mac.

Life

Mac Ngoc Lien matured during a period when Dai Viet was divided: the Mac dynasty ruled the north, while the restored Le dynasty (Le trung hung) controlled the southern regions from Thanh Hoa.

In 1546, upon the death of Mac Hien Tong, his young son Phuc Nguyen ascended the throne under the reign title Mac Tuyen Tong. Prince Khiem vuong Mac Kinh Dien served as regent. A succession dispute arose when Tu Duong hau Pham Tu Nghi attempted to enthrone Hoang vuong Mac Chinh Trung, the second son of Mac Thai To. Kinh Dien rejected this plan and strongly supported Phuc Nguyen. Pham Tu Nghi and Mac Chinh Trung revolted, and Nguyen Ngoc Lien, together with his father, devoted themselves to assisting Kinh Dien and protecting the young king Tuyen Tong. After prolonged conflict, they defeated Tu Nghi in 1551.

For their loyalty, in 1549, Nguyen Ngoc Lien and his father became the foremost功臣 outside the imperial clan and were granted the royal surname Mac. Mac Kinh Dien received the title Thai uy Tay quoc cong, and Mac Ngoc Lien was granted the rank Ngan quan cong.

In 1550, while the rebellion of Mac Chinh Trung had yet to be fully suppressed, another crisis arose: Thai te Le Ba Ly, dissatisfied, joined his in-law Nguyen Thien and defected to the Le court along with generals Nguyen Quyen, Le Khac Than, and their families. In 1552, Ngoc Lien’s maternal uncle Nguyen Khai Khang also defected. These losses significantly damaged Mac political stability while Le–Trinh forces advanced in alliance with Vu Van Mat (Chua Bau). Ngoc Lien, together with his father and brother Huu Menh, continued to support Mac Kinh Dien, holding off the Le–Trinh forces and forcing them to withdraw.

In August 1557, Le Ba Ly and Nguyen Thien died. Some generals such as Nguyen Quyen and Nguyen Mien returned to the Mac, but Khai Khang and Le Khac Than did not. In September 1558, the Mac enticed Khai Khang to return and executed him by brutal dismemberment under the order of King Mac Tuyen Tong. Previously, Khai Khang had been granted the royal surname and the title Thai uy Doan quoc cong. Le Khac Than did not return until August 1572.

Thus, the early political career of Mac Ngoc Lien unfolded during an era of intense instability. Despite internal rebellions and betrayals, he and his family remained steadfastly loyal to Mac Tuyen Tong and preserved the dynasty during its precarious phase.

In January 1575, Mac Ngoc Lien and Khiem vuong Mac Kinh Dien launched a major offensive against the Southern Court in Thanh Hoa. Kinh Dien commanded Thuy Nguyen and Yen Dinh, while Ngoc Lien oversaw Dong Son and Loi Duong. Kinh Dien also dispatched Nguyen Quyen and Hoang quan cong Mac Dang Luong to attack Nghe An. In August, though Quyen and Dang Luong triumphed, the Mac forces were defeated by Vu Su Thuoc and Nguyen Huu Lieu (nephew of Khai Khang), forcing Kinh Dien and Ngoc Lien to retreat.

In April 1576, they once again attacked Thanh Hoa. Kinh Dien targeted Thuy Nguyen, Ngoc Lien controlled Yen Dinh, and Nguyen Quyen with Mac Dang Luong again advanced into Nghe An. After prolonged fighting, the Mac failed to secure the region and withdrew.

In October 1578, Mac Ngoc Lien attacked Chua Bau Vu Cong Ky in Chau Thu Vat (Tuyen Quang) but was defeated. In July 1580, he, together with Nguyen Quyen and Mac Dang Luong, raided the coastal areas of Thanh Hoa.

After the death of Khiem vuong Kinh Dien in October 1580, his younger brother Mac Don Nhuong became regent in autumn 1581. During this period, Mac Ngoc Lien emerged as one of the principal ministers of the dynasty and was granted the title Da quoc cong in 1584. However, Don Nhuong lacked competence and authority, allowing the Southern Court to gain momentum.

In October 1587, Trinh Tung, commander of the Southern Court, advanced north via Thien Quan and Thien Truong. Mac Ngoc Lien and Nguyen Quyen divided forces to counter: Ngoc Lien to the left at Ninh Son, Quyen to the right at Chuong Duc. The Le forces assigned Nguyen Huu Lieu to engage Ngoc Lien, Hoang Dinh Ai to hold Thanh Hoa, and Trinh Tung personally confronted Quyen. Hearing of Quyen’s defeat, Ngoc Lien withdrew. Nevertheless, Trinh Tung could not maintain control of Thach That and retreated to Thanh Hoa.

At the end of 1589, Mac Don Nhuong attacked Thanh Hoa unsuccessfully. Meanwhile, King Mac Mau Hop grew negligent, further weakening the dynasty.

In late 1591, Trinh Tung launched a massive campaign. Mac Mau Hop mobilized over 100,000 troops, assigning Mac Ngoc Lien to guard the western front, Nguyen Quyen the southern front, and taking command of the central force himself. On December 27, 1591, they clashed at Phan Thuong, with Ngoc Lien commanding the right wing and Quyen the left. Fighting continued into early 1592. On January 3, the Mac were defeated; Mac Mau Hop fled to Bo De, leaving Ngoc Lien and the generals to defend the capital.

Mac Ngoc Lien held the sector from Bao Khanh Gate to Nhat Chieu Gate; Tran Bach Nien and Bui Van Khue guarded Cau Da to Cau Den; Nguyen Quyen defended the eastern perimeter. On the 6th day of the first month, another intense battle occurred. Trinh Tung formed formations at the Shooting Ground (Giang Vo, Hanoi) and divided his forces. Bach Nien and Van Khue broke ranks and fled; Quyen could not rally ambush troops and was captured, dying in prison on the leap 11th month of 1593. Ngoc Lien, left without support, withdrew, and Thang Long fell.

In March 1592, Trinh Tung dismantled the fortifications of Thang Long but soon withdrew to Thanh Hoa. Mac Mau Hop returned to the capital but indulged in pleasures and plotted to kill Bui Van Khue to seize his wife Nguyen Thi Nien (third daughter of Nguyen Quyen). Van Khue defected to the Southern Court. Many Mac generals surrendered, leaving the dynasty’s fate dependent largely on Mac Ngoc Lien.

On November 14, the Southern Court launched simultaneous land-and-river assaults from Hat Giang. Mac Ngoc Lien raised defenses with warships, river stakes, and embankments. However, the fortifications were breached, forcing him to retreat to Tam Dao, and Mac forces disintegrated. Mac Mau Hop fled to Kim Thanh (Hai Duong). On November 25, Trinh Tung attacked Kim Thanh; Mau Hop was defeated, fled, captured shortly afterward, and executed.

Restoration of the Mac Clan

After learning of Mau Hop’s defeat, Mac Ngoc Lien retreated to protect the royal lineage and restore authority. In March 1593, he encountered Mac Kinh Cung (son of Khiem vuong Mac Kinh Dien) in Van chau and enthroned him under the reign title Can Thong.

Northern localities such as Hai Duong, Kinh Bac, and Thai Nguyen endorsed the new Mac ruler. Under Ngoc Lien’s command, Mac forces regained the northern bank of the Red River.

On March 21, 1593, Trinh Tung launched an offensive. Ngoc Lien’s sons—Lap quan cong, Dong Son hau, and Phu Cao hau (names not preserved)—were defeated and surrendered. In July, they escaped back to Mac territory, except Lap quan cong, who was killed.

In early 1594, Ngoc Lien escorted Mac Kinh Cung to An Bac. In February, Trinh Tung sent Hoang Dinh Ai to attack; Mac forces lost, and Ngoc Lien and Kinh Cung fled to Tu Minh in Ming territory.

In May 1594, Mac Kinh Cung appointed Ngoc Lien as Thai pho and ordered him to seize Yen Tu (Quang Ninh) and attack Vinh Lai. Nguyen Hoang led Southern Court forces in counterattack, defeating the Mac. Ngoc Lien fled to Van Ninh; Kinh Cung retreated to Long Chau.

In July 1594, Mac Ngoc Lien fell gravely ill. Before dying, he left a final testament to King Mac Kinh Cung:

The Mandate of Heaven has ended for the Mac; the Le have been restored—this is Heaven’s decree. Our people are innocent yet suffer from endless warfare; who can bear such sorrow? We should withdraw to another land, preserve our strength, endure humiliation and wait for Heaven’s Mandate to return. One must not confront strength with strength. When two tigers fight, one must be wounded—this benefits no cause. If their forces come here, avoid them; do not fight. Focus on defense. Above all, never invite Ming troops into our land and let our people suffer—that is the greatest sin (1)

He passed away on the 2nd day of the 7th lunar month, 1594. After his death, his son Dong Son hau fled to Long Chau and continued resisting together with Mac Kinh Cung. Subsequent Mac rulers followed his testament: relying on Ming protection to maintain autonomy in Cao Bang, but never requesting Ming military intervention—thus preserving the dynasty’s honor.

Veneration

Mac Ngoc Lien is honored not only for his political and military contributions but also for his integrity, loyalty, and compassion for the people. His veneration is preserved through numerous temples, shrines, and cultural monuments.

In Cao Bang, Da Quan village in Hung Dao commune, Hoa An district – named after his noble title – maintains the Da Quan Pagoda (Chua Da Quan) where villagers commemorate him with an annual festival on the 9th day of the first lunar month.

In Hanoi, statues of Mac Ngoc Lien and his wife Phuc Thanh Thai truong cong chua Mac Thi Ngoc Lam are enshrined at Dao quan Linh Tien (Dao quan Linh Tien), which they rebuilt in 1544 together with Linh Tien Quan Pagoda (Chua Linh Tien Quan) and endowed with ten mau of farmland. They also renovated Lung Temple (Den Lung) in Dau (Thuan Thanh, Bac Ninh) dedicated to Si Nhiep, and contributed to many other sites: Bao Quang Pagoda (Chua Bao Quang, his hometown), Am Dong Tien (Sai Son), Hung Khanh Pagoda (Chua Hung Khanh, Tay Tuu), Thien Nien Co Tu (Chua Thien Nien Co Tu), Trich Sai communal house (Dinh Trich Sai), and Hoi Tien Hermitage (Quan Hoi Tien), as well as restoring Pho Minh Pagoda (Chua Pho Minh, Nam Dinh).

He and his wife also contributed to bridges, roads, and public infrastructure, notably Cu Thach Bridge (Cau Cu Thach) in Thach That, and supported pottery production in Bat Trang and Chu Dau, creating exquisite ritual wares.

Mac Ngoc Lien is regarded as one of the “three pillars” of the Mac dynasty – remaining loyal throughout his life, especially after the death of Mac Kinh Dien. His final testament of 1594 is praised for its moral depth, emphasizing the refusal to invite foreign forces at the cost of the people: “the greatest sin.” This instruction was upheld by the later Mac rulers in Cao Bang, preserving the dynasty’s reputation.

His veneration today—through temples, inscriptions, and cultural memory – reflects his enduring image as a loyal statesman who placed national welfare above personal or dynastic gain.

Notes

  1. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Đức Thọ dịch và chú thích, Nxb Khoa học xã hội, tr.643.

References

  1. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Đức Thọ dịch và chú thích, Nxb Khoa học xã hội.
  2. Trao đổi thêm về bài báo: Nhà Mạc chiếm cứ đất Cao Bằng năm nào?, Bảo tàng Lịch sử quốc gia, đăng tải ngày 09/09/2010.
  3. Di chúc của Mạc Ngọc Liễn, trên trang gov.vn, đăng tài ngày 1/5/2013.
  4. Đà Quốc công – Mạc Ngọc Liễn công thần nhà Mạc với bản di chúc nổi tiếng trong lịch sử, trên trang Mạc tộc Việt Nam, đăng tải ngày 22/01/2015.
  5. Mạc Ngọc Liễn và di thư đầy trách nhiệm với đất nước, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, đăng tải ngày 21/08/2023.
  6. Mạc Ngọc Liễn và câu nói để đời, Bình Phước Online, đăng tải ngày 28/05/2015.
  7. Nguyễn Ngọc Liễn, trên trang Họ Nguyễn Việt Nam, đăng tải ngày 12/10/2019.

Tiếng Trung (中文)

基本信息

莫玉璉(1528–1594)是越南莫朝著名的大臣与武将。

出身

莫玉璉,原名阮玉璉(阮玉璉),1528年生于河内市石室县异里社,出身名门望族。他是西国公太师阮敬的次子,阮敬为莫朝开国功臣之一。由于其父及家族的功勋,玉璉与兄长均获封王姓(国姓)莫氏,以示朝廷特殊地位。此外,莫玉璉曾任驸马,为莫氏公主莫氏玉林的未婚夫,将皇室与功臣家族联结。

生平

莫玉璉成长于大越南北、南两朝分治时期:北方为莫朝,南方由承天化为中心复兴的黎朝掌控。

1546年,莫献宗去世,子福元年幼即位,称莫宣宗。谦王莫敬典被献宗任为辅政。然而朝内出现争议:四阳侯范子宜欲立弘王莫正中,即莫太祖次子,但莫敬典不赞同,坚持辅佐福元即位。范子宜及正中起兵叛乱,阮玉璉与父亲全力辅佐莫敬典,保护幼帝宣宗,战事持续直至1551年击败子宜。

因辅佐宣宗有功,1549年,阮玉璉父子成为非皇室首席功臣,获赐莫姓。莫敬典封为西国太尉公,莫玉璉授予巘郡公。

1550年,在尚未平定莫正中之乱时,朝廷又遇变乱:宰相黎伯黎不满,联合亲家阮宣,率家族及将军阮权、黎克慎投向黎朝。1552年,玉璉的叔父阮凯康亦归顺黎朝。此举使莫朝在人员与人心上受损,而黎、郑联军配合武浦吴文密进攻,玉璉与父兄仍坚守辅佐莫敬典,指挥军士抵御,使黎、郑军无法攻入而退。

1557年8月,黎伯黎及阮宣去世,一些将领如阮权、阮冕归顺莫朝,但凯康与黎克慎尚未归来。1558年9月,莫朝用计诱凯康归来,由莫宣宗处以残酷刑罚,拆尸示众。此前凯康亦获赐莫姓,封端国太尉公。黎克慎至1572年8月才归顺莫朝。

总之,莫玉璉早期参与政事之时,正值朝内外动荡:内乱、叛变频繁,而他与家族坚定辅佐莫宣宗,维护莫朝权力。

1575年1月,莫玉璉随谦王莫敬典率军进攻南朝承天。此次战役中,敬典负责瑞原与安定两县,玉璉主管东山与雷阳两县。同时,敬典派玉璉之侄阮权及黄郡公莫登亮进攻乂安。1575年8月,虽权与登亮胜于黎军,武师铄及侄子阮凯康之子阮 hữu liệu击败莫军,敬典与玉璉被迫撤退。

1576年4月,玉璉再随敬典进攻承天。敬典攻瑞原,玉璉主管安定,并派阮权与莫登亮进攻乂安。然而交战一段时间,莫军未能占据区域,只能撤退。

1578年10月,莫玉璉率军进攻武浦吴公纪于秋物州(宣光),失败撤退。1580年7月,他与阮权、莫登亮继续攻打承天沿海。

1580年10月,谦王敬典去世,其弟莫敦让于1581年秋任辅政。在此背景下,莫玉璉成为莫朝关键大臣,1584年封达国公。然而,由于敦让能力与威望不足,南朝逐渐占上风。

1587年10月,南朝统帅郑松北伐,经天关与天长府。莫玉璉受命与阮权分军应战:玉璉出左击宁山,阮权出右攻章德路。黎军派阮 对抗玉璉,黄廷艾守承天,郑松亲对阮权。阮权败北,玉璉被迫撤退。尽管如此,郑松仍未能长久占据石室县,南军退回承天。

1589年底,莫敦让进攻承天未果。莫茂合疏于政事,使莫朝日益衰弱。

1591年底,郑松率大军北上,莫茂合集合北军十余万,分配玉璉守西道,阮权守南道,自己指挥中军。1591年12月27日,莫军在奋上遭遇黎军,玉璉守右翼,阮权守左翼。战事延续至1592年初,1月3日,莫军败。莫茂合弃都逃往布德,玉璉与诸将留守。

玉璉防线自宝庆门至日照门,陈百年与裴文葵守从桥到桥,阮权守莫舍至东城。1月6日,两军再战。郑松布阵于讲武冈并分路进攻,陈百年、裴文葵败逃,阮权未能集结伏兵,被捕入狱,闰11月4日遇害。玉璉孤立撤城,导致昇龙失陷。

1592年3月,郑松平毁昇龙城,后退回承天。莫茂合回都享乐,并图杀裴文葵以夺其妻阮氏妍,裴文葵归顺南朝。随后,多数莫将投向黎军,莫朝形势危急,仅能依靠莫玉璉。

1592年11月14日,南军分水陆两路进攻河江。玉璉布战船防守,河中立木柱,岸上筑垒。但垒被南军破坏,玉璉弃船退三岛,莫军溃散。莫茂合逃至金城(海阳),11月25日郑松进攻金城,莫茂合败逃,不久被擒处死。

复立莫氏王权

莫茂合失败后,莫玉璉退守,保护莫氏宗室,重建王权。1593年3月,他在文州迎接谦王莫敬典之子莫敬恭,立为王,年号乾统。

北方民心仍归莫氏,多地如海阳、京北、太原迅速归顺。玉璉指挥莫军收复红河以北地区。

1593年3月21日,郑松派军攻打,玉璉之子立郡公、东山侯与浮高侯首战败降黎朝,但至7月逃归莫氏,仅立郡公未逃被杀。

1594年初,莫玉璉护莫敬恭至安北。2月,郑松派黄廷艾进攻,莫军败,玉璉与敬恭被迫逃至思明府,借明国土地避难。

1594年5月,莫敬恭任玉璉为太傅,守燕子(广宁)并进攻永来。南军由阮晃指挥反击,莫军再败,玉璉退至万宁,敬恭入龙州。

1594年7月,莫玉璉重病,在临终前遗言于莫敬恭:

“今莫家气运已尽,黎朝复兴,此乃天命。我民无辜遭兵祸,岂忍心乎!当避居他国,养势耐时,待天命回转再行事,不可以力敌力。两虎相争,必有一伤,不利大事。若敌军至,应避之,不可战,重在防守小心;绝不可引明兵入境,使我民受苦,此为至重之罪。”

他于农历7月2日去世。玉璉死后,其子东山侯逃至龙州,继续与莫敬恭抵抗黎、郑。莫敬恭及后世莫王遵守玉璉遗言:依靠明国支持守高平,但绝不借明兵攻黎朝。

祭祀

莫玉璉因其政治、军事、品德及忠义精神受到后世敬仰。祭祀体现在诸多遗址、文化建筑及史书记载中。高平兴道社“达郡村”以其爵位命名,建达郡寺,每年正月初九举行庙会。河内灵仙道观供奉其与夫人福成太长公主莫氏玉林像,为夫妻所建或重修灵仙观(1544年),并捐十亩田以供香火。他们亦修缮苴庐岭庙(顺城北宁),及宝光寺(家乡)、阿洞仙、兴庆寺(西修)、千年古寺、Trich Sai祠堂(Phuong Buoi)、会仙观(Phuong Tri),并重修普明寺(南定)。

此外,他与夫人修桥、修渠、修路,如石石桥(石室),发展瓷器业于八庄、朱豆,制造精美礼器。莫玉璉被视为莫朝“三大支柱”之一,终生忠心辅佐,尤其莫敬典去世后,成为莫朝坚固后盾。其1594年遗言被高度评价:反对引明兵入境,以免民受苦,“此为至重之罪”,体现民族利益至上精神。后世莫王守高平遵行,不借外援,维护莫朝声誉。其品德与精神如道德锚,护民如船免于风暴,使莫玉璉成为忠臣、爱国、仁德典范,后世景仰。

注释

  1. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Đức Thọ dịch và chú thích, Nxb Khoa học xã hội, tr.643.

参考文献

  1. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Đức Thọ dịch và chú thích, Nxb Khoa học xã hội.
  2. Trao đổi thêm về bài báo: Nhà Mạc chiếm cứ đất Cao Bằng năm nào?, Bảo tàng Lịch sử quốc gia, đăng tải ngày 09/09/2010.
  3. Di chúc của Mạc Ngọc Liễn, trên trang gov.vn, đăng tài ngày 1/5/2013.
  4. Đà Quốc công – Mạc Ngọc Liễn công thần nhà Mạc với bản di chúc nổi tiếng trong lịch sử, trên trang Mạc tộc Việt Nam, đăng tải ngày 22/01/2015.
  5. Mạc Ngọc Liễn và di thư đầy trách nhiệm với đất nước, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, đăng tải ngày 21/08/2023.
  6. Mạc Ngọc Liễn và câu nói để đời, Bình Phước Online, đăng tải ngày 28/05/2015.
  7. Nguyễn Ngọc Liễn, trên trang Họ Nguyễn Việt Nam, đăng tải ngày 12/10/2019.

Tiếng Pháp (Français’)

Informations generales

Mac Ngoc Lien (1528–1594) fut un grand dignitaire et general celebre de la dynastie Mac dans l’histoire du Viet Nam.

Origines

Mac Ngoc Lien, dont le nom de naissance etait Nguyen Ngoc Lien, ne en 1528 dans la commune de Di Nau, district de Thach That (Ha Noi), appartenait a une famille prestigieuse. Il etait le deuxieme fils de Nguyen Kinh, titule Thai su Tay quoc cong, l’un des merites fondateurs de la dynastie Mac. Grace aux services eminents de son pere et de son lignage, Ngoc Lien et ses deux freres recurent le privilege d’adopter le nom dynastique Mac, ce qui leur conferait un statut particulier a la cour. De plus, Mac Ngoc Lien devint gendre imperial en epousant la princesse Mac Thi Ngoc Lam, consolidant ainsi le lien entre la maison royale et les merites fondateurs.

Vie e

Mac Ngoc Lien grandit dans le contexte de la division du Dai Viet entre deux regimes : au nord, la dynastie Mac ; au sud, a partir de Thanh Hoa, la dynastie Le restaurée (Le trung hung).

En 1546, apres la mort de Mac Hien Tong, son fils Mac Phuc Nguyen – encore jeune – monta sur le trone sous le nom de Mac Tuyen Tong. Mac Kinh Dien, prince Khiem vuong, fut designe comme regent. Cependant, des dissensions apparurent : Pham Tu Nghi, marquis Tu Duong hau, voulait porter au trone Mac Chinh Trung, fils cadet de Mac Thai To, mais Mac Kinh Dien s’y opposa fermement et soutint Phuc Nguyen. Pham Tu Nghi et Chinh Trung entrerent en rebellion. Nguyen Ngoc Lien et son pere soutinrent Mac Kinh Dien et protegerent Tuyen Tong. Le conflit dura plusieurs annees jusqu’a la defaite de Tu Nghi en 1551.

Pour leurs services, en 1549, Nguyen Ngoc Lien et son pere furent reconnus comme merites eminents hors lignage royal et recurent le nom dynastique Mac. Mac Kinh Dien fut nomme Thai uy Tay quoc cong, et Mac Ngoc Lien obtint le titre de Ngan quan cong.

En 1550, alors que la rebellion de Mac Chinh Trung n’etait pas encore resolue, la dynastie Mac fit face a une nouvelle defection : Le Ba Ly, Thai te, ainsi que son allie Nguyen Thien, partirent avec leurs familles et les generaux Nguyen Quyen et Le Khac Than pour rallier la dynastie Le a Thanh Hoa. En 1552, l’oncle maternel de Ngoc Lien, Nguyen Khai Khang, fit de meme. Ces desertions fragiliserent la maison Mac. Pendant ce temps, les armees Le–Trinh, avec l’appui du chef Vu Van Mat (seigneur Bau), attaquerent. Ngoc Lien, son pere et son frere Huu Menh defendaient inlassablement Mac Kinh Dien, obligeant l’armee adverse a se retirer.

En 1557, apres la mort de Le Ba Ly et Nguyen Thien, certains generaux tels que Nguyen Quyen et Nguyen Mien revinrent sous la banniere Mac, mais Khai Khang et Le Khac Than refuserent. En septembre 1558, la cour Mac utilisa une ruse pour faire revenir Khai Khang, puis Mac Tuyen Tong ordonna son execution, un chatiment terrible. Le Khac Than ne revint qu’en 1572.

Ainsi, les premieres annees de la carriere de Mac Ngoc Lien furent marquees par les rebellions, les retournements d’alliance et les crises internes ; mais lui et sa famille demeurerent fidelement attaches a Mac Tuyen Tong et contribuerent a maintenir la puissance de la dynastie.

En janvier 1575, il accompagna Mac Kinh Dien dans une grande offensive contre la dynastie Le a Thanh Hoa : Kinh Dien attaqua Thuy Nguyen et Yen Dinh, tandis que Ngoc Lien prit la responsabilite de Dong Son et Loi Duong. Parallelement, Nguyen Quyen et Mac Dang Luong attaquaient Nghe An. Malgre certaines victoires preliminaires, les forces Mac furent batues en aout et durent se retirer.

En avril 1576, une nouvelle campagne fut lancee a Thanh Hoa, sans succes. En octobre 1578, Ngoc Lien attaqua Vu Cong Ky (chef des Bau) a Thu Vat (Tuyen Quang), puis encore en 1580 les regions cotières de Thanh Hoa.

Apres la mort de Mac Kinh Dien en octobre 1580, Mac Don Nhuong, son jeune frere, devint regent. A partir de 1584, Mac Ngoc Lien fut eleve au rang de Da quoc cong. Cependant, Don Nhuong manquait de competence, laissant la dynastie Le–Trinh reprendre l’avantage.

En octobre 1587, Trinh Tung marcha vers le nord par Thien Quan et Thien Truong. Ngoc Lien fut envoye a Ninh Son, tandis que Nguyen Quyen defenda Chương Duc. L’armee Le, commandee par Nguyen Huu Lieu et Hoang Dinh Ai, repoussa les Mac, contraignant Ngoc Lien a se retirer.

A la fin de 1589, une nouvelle offensive de Mac Don Nhuong a Thanh Hoa echoua. Pendant ce temps, le roi Mac Mau Hop negligait les affaires de l’Etat, aggravant la situation.

Fin 1591, Trinh Tung marcha de nouveau vers le nord. Mac Mau Hop mobilisa plus de 100 000 hommes et assigna Mac Ngoc Lien au front occidental. La bataille de Phan Thuong eut lieu le 27 decembre 1591. Ngoc Lien commandait l’aile droite. La bataille dura jusqu’au 3 janvier 1592, date a laquelle les Mac furent vaincus. Mac Mau Hop abandonna la capitale, laissant la defense a Ngoc Lien.

Mac Ngoc Lien occupait la ligne de Bao Khanh a Nhat Chieu ; Tran Bach Nien et Bui Van Khue tenaient Cau Da a Cau Den ; Nguyen Quyen defenda la partie est. Le 6 janvier, la bataille reprit ; les forces Mac furent dispersées. Thang Long tomba.

En mars 1592, Trinh Tung detruisit les fortifications, puis se retira a Thanh Hoa. Mac Mau Hop revint, mais chercha ensuite a tuer Bui Van Khue pour prendre sa femme, Nguyen Thi Nien, fille de Nguyen Quyen. Bui Van Khue fit defection. De nombreux generaux Mac firent de meme. La dynastie etait au bord de l’effondrement.

Le 14 novembre, une grande offensive Le–Trinh attaqua par terre et eau depuis Hat Giang. Mac Ngoc Lien entreprit diverses defenses (bateaux, pieux, levées), mais dut battre en retraite vers Tam Dao. La dynastie Mac fut dispersee. Mac Mau Hop fuit vers Kim Thanh, fut vaincu puis capture et execute.

Restauration de la dynastie Mac

Apres la defaite de Mac Mau Hop, Mac Ngoc Lien tenta de sauver la famille royale. En mars 1593, il rencontra Mac Kinh Cung, fils de Mac Kinh Dien, et le proclama roi sous l’ere Can Thong.

La population du nord etait encore favorable aux Mac. Plusieurs regions (Hai Duong, Kinh Bac, Thai Nguyen) rallierent rapidement la nouvelle cour. L’armee Mac reconquit la rive nord du fleuve Rouge.

Le 21 mars 1593, une nouvelle offensive Trinh fit defection des trois fils de Ngoc Lien (Lap quan cong, Dong Son hau, Phu Cao hau). En juillet, deux revinrent, mais Lap quan cong fut tue.

Debut 1594, Mac Ngoc Lien accompagna Mac Kinh Cung vers An Bac. En fevrier, Trinh Tung envoya Hoang Dinh Ai attaquer ; les Mac furent defaits. Ngoc Lien et Kinh Cung prirent refuge dans le territoire chinois de Tu Minh.

En mai 1594, Mac Kinh Cung nomma Ngoc Lien Thai pho et l’envoya occuper Yen Tu et attaquer Vinh Lai. Nguyen Hoang contre-attaqua et vainquit les Mac. Ngoc Lien se retira a Van Ninh ; Kinh Cung a Long Chau.

En juillet 1594, Mac Ngoc Lien tomba gravement malade. Il laissa a Mac Kinh Cung un testament celebre :

 A present, la fortune des Mac est epuisee ; la dynastie Le est restauree, c’est le decret du Ciel. Notre peuple est innocent, il ne doit pas souffrir des guerres. Il faut nous retirer dans un autre pays, renforcer nos forces et attendre le moment opportun. Ne combattez pas de front. Lorsque deux tigres luttent, l’un sera blesse — cela ne profitera a personne. Si les troupes de Le–Trinh viennent, evitez-les et defendez-vous seulement. Et surtout : ne faites jamais entrer les troupes des Ming dans notre pays, car ce serait condamner notre peuple a la souffrance — c’est la faute la plus grave qui soit (1) 

Il mourut le 2 juillet lunaire de la meme annee. Son fils Dong Son hau rejoignit Long Chau et poursuivit avec Mac Kinh Cung la resistance. Les souverains Mac suivants suivirent fidèlement ses recommandations : s’appuyer sur la protection des Ming pour subsister a Cao Bang, mais ne jamais les inviter a envahir le Dai Viet.

Culte 

Mac Ngoc Lien est honore non seulement pour son role politique et militaire, mais aussi pour son integrite, sa fidelite et sa compassion envers le peuple. De nombreux lieux de culte perpetuent sa memoire. A Cao Bang, le village Da Quan (commune Hung Dao, district Hoa An) porte son titre ; on y a bati la pagode Da Quan, ou a lieu une fete annuelle le 9e jour du premier mois. A Ha Noi, sa statue et celle de son epouse, Mac Thi Ngoc Lam, sont veneratees au Dao quan Linh Tien, temple qu’ils reconstruisirent en 1544, y offrant dix arpents de rizières pour l’entretien du culte. Ils restaurerent egalement le sanctuaire Lung a Dau (Thuan Thanh, Bac Ninh), dedie a Si Nhiep, ainsi que de nombreuses autres oeuvres : la pagode Bao Quang (son village natal), Am Dong Tien (Sai Son), pagode Hung Khanh (Tay Tuu), Thiên Nien co tu, dinh Trich Sai et quan Hoi Tien, ainsi que la pagode Pho Minh (Nam Dinh).

Le couple finança egalement des ponts, routes et infrastructures, notamment le pont Cu Thach (Thach That), et contribua au developpement de la ceramique a Bat Trang et Chu Dau.

Mac Ngoc Lien est considere comme l’un des « trois piliers » qui soutinrent la dynastie Mac, surtout apres la mort de Mac Kinh Dien. Son testament de 1594 est celebre pour sa clairvoyance et son humanisme, interdisant de faire intervenir les Ming — « faute plus grave qu’aucune autre » — afin d’eviter au peuple les malheurs de la guerre civile. Cette recommandation, scrupuleusement suivie par les derniers rois Mac, demeure un symbole de sagesse politique et d’amour du pays, faisant de Mac Ngoc Lien une figure respectée et exemplaire.

Notes

  1. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Đức Thọ dịch và chú thích, Nxb Khoa học xã hội, tr.643.

References

  1. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Đức Thọ dịch và chú thích, Nxb Khoa học xã hội.
  2. Trao đổi thêm về bài báo: Nhà Mạc chiếm cứ đất Cao Bằng năm nào?, Bảo tàng Lịch sử quốc gia, đăng tải ngày 09/09/2010.
  3. Di chúc của Mạc Ngọc Liễn, trên trang gov.vn, đăng tài ngày 1/5/2013.
  4. Đà Quốc công – Mạc Ngọc Liễn công thần nhà Mạc với bản di chúc nổi tiếng trong lịch sử, trên trang Mạc tộc Việt Nam, đăng tải ngày 22/01/2015.
  5. Mạc Ngọc Liễn và di thư đầy trách nhiệm với đất nước, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, đăng tải ngày 21/08/2023.
  6. Mạc Ngọc Liễn và câu nói để đời, Bình Phước Online, đăng tải ngày 28/05/2015.
  7. Nguyễn Ngọc Liễn, trên trang Họ Nguyễn Việt Nam, đăng tải ngày 12/10/2019.
Chấm điểm
Chia sẻ
32

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)