Đặng Minh Khiêm (1456 – 1522)

Đặng Minh Khiêm (1456 – 1522)

Thông tin cơ bản

Thông tin chung 

Đêm tối. Ngồi bên án thư, ông Tiến sĩ nhìn bâng quơ ra sân. Vầng trăng tròn treo lửng lơ trên ngọn cau. Hương cau thoảng mơ hồ trong gió. Lập lòe những con đom đóm. Xa xa vọng lại tiếng trẻ con đọc sách, giọng đọc đều đều chậm rãi. Lắng tai, ông biết đó là một đoạn sử xa xôi bên Tàu… Bất giác, ông khẽ thở dài ngẫm nghĩ:

– Sử nước nhà có biết bao anh hùng hiệt kiệt xứng đáng để đời sau ngưỡng vọng công đức. Sao không ai viết lại thành thơ để dễ nhớ, dễ đọc? Chao ôi! Ai cũng phải biết sử nước nhà cả, nhất là bọn trẻ con rất cần phải học, phải nhớ!

Cầm chén trà trên tay, ông chiêu một ngụm nhưng hương trà đắng nghét. Dĩa dầu đang cạn dần, ngọn bấc vẫn mờ tỏ soi ánh sáng xuống án thư. Ngồi thừ người suy nghĩ trong chốc lát, ông Tiến sĩ trải trang giấy ra trước mặt rồi cầm bút chấm vào nghiên mực… Khi tiếng gà gáy le te trong đêm khuya, ông giật mình buông bút. Từng dòng chữ thanh thoát như phượng múa, rồng bay đã hiện trên trang giấy: “Làm thơ vịnh sử chủ yếu là để gửi gắm cái ý khen chê. Đề tài thường lấy tên người, tên đất, hoặc lấy núi sông hoặc lấy những người tôn thất, những văn nhân tài tử cổ kim, đặc biệt những người thực hành điều nghĩa thì càng được chú trọng. Trời Nam từ thuở dựng nước đến nay, các bậc đế vương, hậu phi, công hầu, tướng võ, tướng văn, kẻ sĩ và phụ nữ được ghi chép trong sử sách không phải là không có nhiều, nhưng được người sau đề vịnh thì mười chỉ mới một hai”.

Thân thế

Có thể xem những dòng chữ này là một quan niệm cổ nhất về thể loại thơ vịnh sử ở nước ta. Người viết là Tiến sĩ Đặng Minh Khiêm, tự Trình Dự, hiệu Thoát Hiên sinh năm 1456 (?); vốn thuộc dòng dõi Đặng Tất, Đặng Dung – những sĩ phu yêu nước thời Hậu Trần. Nguyên quán của ông ở huyện Thiên Lộc, nay thuộc Hà Tĩnh, nhưng sau đó chuyển đến cư ngụ tại làng Mao Phổ, huyện Sơn Vì nay thuộc tỉnh Phú Thọ. Ngay từ thuở nhỏ, ông đã nổi tiếng là người học giỏi và thi đậu Tiến sĩ khoa Đinh Mùi (1487) dưới thời vua Lê Thánh Tông. Bước đường hoạn lộ không mấy gập ghềnh, ông làm quan đến Thượng thư Bộ lễ, kiêm phó tổng tài Sử quán, coi việc ở Chiêu văn cục và Tú lâm cục. Nhà bác học Phan Huy Chú khi biên soạn phần Nhân vật chí trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí có nhận xét: “Ông học vấn rộng rãi, khẳng khái, có tiết tháo lớn”. Trong thời gian làm quan, ông có hai lần đi sứ Trung Quốc và làm được nhiều điều ích nước lợi dân.

Sự nghiệp

Ý thức vịnh sử nước Nam đã hình thành trong tâm thức Đặng Minh Khiêm từ lúc nào? Chính ông viết: “Khoảng niên hiệu Hồng Thuận (1509-1516), tôi vào giữ chức vụ ở Sử quán, từng có ý thuật cổ. Hiềm vì những thư tịch tàng trữ ở Bí thư, trải bao phen binh lửa, thành ra sách vở bị tàn khuyết khá nhiều. Đọc thấy toàn tập, chỉ có Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký của Phan Phu Tiên, Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên, Lĩnh Nam chích quái lục của Trần Thế Pháp mà thôi. Dưới những sự ghi chép của tác phẩm ấy, mở mà duyệt đọc, tàng trữ mà khảo cứu và dựa theo đó mà ca vịnh, ngày qua tháng lại… Tự biết mình tuổi già tài kém, chức vụ thấp, học vấn nông, bình luận phải trái nếu có sai lầm, nhất định sẽ bị những bậc quân tử kiến thức cao minh, hiểu biết sâu rộng chê cười, nhưng đối với việc truyền thụ và học tập của gia đình, về tài liệu sử học thì chưa hẳn là không phần nào bổ ích”. Thật ra, trước Đặng Minh Khiêm từ nửa sau thế kỷ XV đã có Cổ tâm bách vịnh – tập thơ vịnh Bắc sử chữ Hán của vua Lê Thánh Tông cùng dăm bài thơ vịnh sử Nam của các tác giả thời Hồng Đức. Nhưng phải đợi đến Đặng Minh Khiêm thì thơ vịnh sử mới tiếp tục phát triển về số lượng lẫn chất lượng.

Tác phẩm để lại của ông là Việt giám vịnh sử tập (còn gọi là Thoát Hiên vịnh sử tập), gồm ba tập, 125 bài thơ thất ngôn tuyệt cú – vịnh 125 nhân vật từ Kinh Dương Vương đến thời Hậu Trần. Tập thơ này được các học giả thuở ấy khen là “danh bút”. Theo nhà bác học Lê Quý Đôn đây là một áng “văn chương kiệt tác”, còn nhà bác học Phan Huy Chú đánh giá “Văn chương ông thanh nhã, dồi dào đời vẫn truyền tụng… không hổ bậc khoa danh”, còn Tiến sĩ Hà Nhậm Đại cho biết “đến đâu cũng thấy người ta nói đến thơ Thoát Hiên”… Và ngày nay các nhà nghiên cứu hiện đại khẳng định “là tập thơ đầu tiên vịnh Nam sử quy mô và hệ thống” (Tổng tập văn học Việt Nam tập 6 – NXB Khoa học Xã hội – 1987).

Để hiểu thêm về Đặng Minh Khiêm, thiết tưởng ta cũng nên biết về thể loại thơ vịnh sử. Theo nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân: “Thơ vịnh sử là thơ vịnh truyện cũ, người xưa, với ngụ ý răn dạy người đời, tính chất sùng cổ và mục đích giáo huấn thể hiện rõ rệt, nhân vật được chọn lọc, vừa phải là nhân vật lịch sử, vừa phù hợp với chuẩn mực đạo đức chính thống. Nhà thơ vịnh sử của ta thường biết nhiều nhân vật lịch sử Trung Quốc, nên thơ vịnh Bắc sử xuất hiện sớm và có số lượng nhiều. Ở thể loại thơ vịnh sử, tính chất giáo huấn thể hiện khá lộ liễu, thơ vì thế mà hay khô khan, đơn điệu. Nhưng trong mảng thơ vịnh lịch sử dân tộc, tính chất giáo huấn thường được thể hiện chững chạc, tinh tế, thơ vì thế mà sống động, nhuần nhuyễn, giàu cảm xúc. Ở đây cái đẹp là cái đạo đức, đạo đức ấy là sự hỗn dung giữa đạo đức truyền thống dân tộc với phần tích cực của đạo đức Nho giáo. Cho nên không ít bài thơ vịnh sử đã vượt lên trên quan niệm giáo huấn khô khan gò gẫm của Nho giáo bảo thủ, trở nên những bài ca yêu nước và tự hào về truyền thống văn hiến cao đẹp của dân tộc. Thơ vịnh sử lấy con người làm đối tượng, nhưng thường đối chiếu con người lịch sử với chuẩn mực đạo đức để đánh giá bình luận, nêu cái ý khen chê, chứ ít khi đi sâu vào khắc họa nội tâm nhân vật. Đó chính là điều như Đặng Minh Khiêm – nhà thơ vịnh sử nổi tiếng này từng nhận xét: “Làm thơ vịnh sử chủ yếu là để gởi gắm cái ý chê khen”. Tuy nhiên, khi có sự tâm đắc với nhân vật thì các nhà thơ vịnh sử cũng rất chân tình trong cảm xúc yêu thương, trân trọng hoặc căm ghét, khinh bỉ”.

Mở đầu tập thơ, Đặng Minh Khiêm đã vịnh Kinh Dương Vương:

Khai thiên lập địa có Hồng Bàng
Dòng dõi thần minh sản thánh vương
Nhượng nước kính anh yêu đức độ
Bắc Nam phân trị dựng phong cương

Mỗi bài thơ vịnh của ông đều khắc họa được thần sắc của nhân vật. Chẳng hạn viết về vịnh Trưng Vương:

Sinh tiền dũng mãnh nêu Mai Lĩnh
Hiển thánh làm mưa lại có công
Dòng dõi Mê Linh dòng võ tướng
Nữ nhi liệu được mấy anh hùng?

Viết về oai linh của Trần Quốc Tuấn với những câu như “Sau khi mất mà oai thanh còn bẻ gãy giặc Bắc” thì khí thơ hào sảng lạ thường:

Gia hấn mà trung sáng tỏ thêm
Trùng hưng công nghiệp dựng xây nên
Mất rồi, uy vẫn tan hồn giặc
Gươm tựa trời cao nổi gió đêm

Thật lạ cho thể thơ này, không phải cứ là văn nhân hay chữ thì đều có thể vịnh được nhân vật lịch sử. Ở đây, người đọc còn đòi hỏi cái tâm của nhà thơ ấy như thế nào nữa.

Mọi người yêu thích thơ vịnh sử của Đặng Minh Khiêm, vì chỉ có 28 chữ nhưng đã nói được công đức của danh nhân đó bằng tất cả sự ngưỡng mộ chân thành. Khi vịnh Lý Thường Kiệt, ông viết:

Anh em gần gũi đấng quân vương
Tài mạo hơn người rất vẻ vang
Đánh Bắc dẹp Nam công rạng rỡ
Phải đâu hoạn thị bọn tầm thường

Hoặc vịnh vua Lý Thái Tổ, tức Lý Công Uẩn:

Trung nghĩa hình ra khi khóc chúa
Mệnh trời về với được suy tôn
Thăng Long đất vạc đà yên ổn
Muôn thuở trời Nam dựng nước non

Có thể nói, vì có lòng tự hào dân tộc qua các nhân vật lịch sử, vịnh thành thơ mà đời sau mới còn nhớ đến Đặng Minh Khiêm; chứ không phải đời sau nhớ đến những chức vụ ngất ngưởng danh vọng của ông thuở sinh thời. Không chỉ làm thơ vịnh sử nước nhà, Đặng Minh Khiêm còn vâng mệnh triều đình sửa lại bộ Đại Việt sử ký. Đặng Minh Khiêm mất năm 1522 ở Hóa Châu, lúc ông theo vua Lê Chiêu Tông lánh nạn. Tấm lòng ngưỡng vọng của ông đối với tiền nhân vẫn còn sống mãi cùng sử xanh.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 2 – Những người Việt Nam đi tiên phong, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Đặng Minh Khiêm

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)