Đặng Văn Ngữ (1910 – 1967)

Đặng Văn Ngữ (1910 – 1967)

Thông tin cơ bản

Khái quát

Tiếng học bài ngày đêm “chi chi giả giả” của một nho sinh hiếu học, có thể sánh với tiếng ve kêu ròng rã ngày đêm trên tàng cây rợp bóng ở Huế. Học để đi thi. Dù tóc đã bạc, mắt đã mờ nhưng ông vẫn quyết lập thân bằng con đường khoa cử. “Không công danh thà nát với cỏ cây”, bậc túc nho Nguyễn Công Trứ đã từng nói thế. Nhưng… Bao nhiêu dự định cho tương lai đã mở ra trong đầu, bao nhiêu hăm hở chờ ngày lai kinh ứng thí bỗng phút chốc tan thành mây khói. Theo lệnh của thực dân Pháp, ngày 14/6/1919 triều đình nhà Nguyễn ra chỉ dụ tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn các trường chữ Nho và thay vào đó bằng hệ thống trường Pháp – Việt. Như vậy khoa thi cuối cùng ở Trung Kỳ diễn ra năm 1918. Ông đồ nho bất đắc chí, đem hết sách vở của thánh hiền treo lên xó bếp, từ đó chuyển sang nghề xắt thuốc lá, làm kẹo mứt để cho vợ gánh bán rong ở những vùng chợ quê ngoại thành Huế. Ông tự nhủ, mình không học được nữa thì cố gắng nuôi con mình ăn học để nối chí của mình. Con trai của ông tên là Đặng Văn Ngữ sinh ngày 4/4/1910 tại làng An Cựu. Dù nghèo, nhưng năm con ông 15 tuổi, vợ chồng ông cũng cố gắng gỏi ra Vinh để học trường Quốc Học. Không phụ lòng mong mỏi của cha mẹ, cậu đã thi đỗ bằng Sơ học yếu lược. Sau đó trở về Huế, cậu tiếp tục học trường dòng và là một trong hai người đỗ bằng Thành Chung.

Con đường học tập và nghiên cứu khoa học

Một buổi sáng, trời thu xanh biếc, cậu bịn rịn chia tay cha mẹ để lên xe lửa ra Hà Nội học trường Bưởi. Hình ảnh người cha còng lưng xắt thuốc và gương mặt tảo tần của mẹ đã động viên Đặng Văn Ngữ quyết chí học thật giỏi. Ông tốt nghiệp tú tài rồi theo học Đại học Y Hà Nội. Năm 1936, ông bảo vệ thành công luận án “Góp phần nghiên cứu về lâm sàng và bệnh tî căn các áp-xe gan ở Bắc kỳ”. Ông nhận bằng bác sĩ Y khoa năm 1937. Vì học giỏi nên cậu được giữ lại làm trợ lý cho giáo sư Henri Galliard một nhà ký sinh học nổi tiếng đồng thời cũng là hiệu trưởng của trường. Luận án xuất sắc “Mưng mủ ở gan do a-míp” đã cho thấy Đặng Văn Ngữ có được phẩm chất cần thiết của người nghiên cứu khoa học. Đây cũng là thời gian ông bắt đầu lao vào nghiên cứu. Năm 1941, nhà nấm học Nhật Bản là giáo sư Massuo Ota sang Hà Nội đã dạy ông nghiên cứu nấm học. Sự chịu khó, miệt mài bất kể giờ giấc của ông đã khiến M.Ota hài lòng. Một hôm giáo sư Henri Galliard cho gọi lên và bảo:

Trường đại học Y khoa Hà Nội được chọn một bác sĩ giỏi nhất, xứng đáng đại diện cho nền y học của Pháp ở Việt Nam, đi đào tạo tại Nhật.

Nói xong giáo sư Henri bất ngờ buông một câu ngắn gọn:

Anh có đủ điều kiện trên nên tôi chọn anh!

Tin vui này đến với Đặng Văn Ngữ rất đột ngột. Chuyến tàu Otaoa rời cảng Hải Phòng vào một buổi sáng sương mù rét lạnh, từ từ rẽ sóng ra khơi… Đến Nhật, ông ở ký túc xá cùng với một số bạn mà sau này đều nổi tiếng như Lương Định Của, Nguyễn Xuân Oánh… Ông lao vào việc học bằng tất cả sự say mê của tuổi trẻ. Buổi sáng lên giảng đường học tiếng Nhật, buổi chiều đến phòng thí nghiệm nghiên cứu nấm học. Có lần giáo sư Massuo Ota đã cho ông mượn một số tài liệu và nói:

Đây chỉ mới dừng lại ở chỗ hướng dẫn thôi, tôi thu thập và viết ra, thành công hay không, chủ yếu là ở sự sáng tạo và cố gắng nghiên cứu của anh.

Theo lời dặn ấy, Đặng Văn Ngữ đã cố gắng với một nghị lực phi thường. Suốt thời gian ở Nhật hầu như suốt ngày ông ngồi ở phòng thí nghiệm, nhiều hôm làm việc qua cả đêm. Có người hỏi tại sao làm phải nhọc công như vậy? Thì ông từ tốn đáp:

Còn gì vui hơn, sung sướng hơn khi hiểu được những điều mới lạ và kỳ diệu mà những người đi trước đã khám phá ra. Càng thú vị biết bao nhiêu khi tự mình tìm hiểu tự nhiên và cố gắng để có một đóng góp gì dù nhỏ bé cho nhân loại.

Những thành tựu nghiên cứu tại Nhật Bản

Năm 1945, khi Mỹ bắt đầu sản xuất thành công loại thuốc kháng sinh đầu tiên là Penicillin, thì dưới sự hướng dẫn của giáo sư M.Ota, Đặng Văn Ngữ cũng bắt đầu phân lập được nấm Penicillium và có khả năng ức chế vi khuẩn của chúng. Những chủng Penicillium có hoạt tính kháng sinh đầu tiên của Nhật được giáo sư M.Ota công bố chính là các chủng do tự tay Đặng Văn Ngữ phân lập được. Từ thành công này, ông đã được thực tập ở nhiều phòng thí nghiệm khác nhau ở Tokyo và ông cũng được đến học hỏi ở các nhà máy sản xuất Penicillin. Tại Trường Đại học Y khoa Tokyo, ông đã công bố 4 công trình giá trị: “Xác định loại nấm có tính kháng sinh cao” (1947); “Xác định công thức kháng nguyên Salmonella” (1945); “Đặc điểm tiến hóa của D.mansoni” (1943) và hoàn chỉnh một số xét nghiệm miễn dịch để chuẩn đoán.

Trở về Tổ quốc và quyết định tham gia kháng chiến

Trong khi ông mải mê nghiên cứu thì ngoài cánh cửa của phòng thí nghiệm đã diễn ra biết bao thay đổi. Đại chiến thứ hai sắp kết thúc với đại bại của quân đội Nhật. Cuối năm 1948, ông nhận được bức thư của Việt Nam Thông tấn xã (VNTTX) từ Bangkok gỏi tới. Trong thư hỏi thăm ông về tình hình của Kiều bào ở Nhật. Ông trả lời. Và từ đó liên tiếp ông nhận được những tờ tin tức in ronéo của VNTTX từ Bangkok gửi đến. Do đó, ông có điều kiện để hiểu thêm tình hình kháng chiến ở trong nước. Vì vậy ông quyết định trở về nước qua con đường Thái Lan. Tàu lênh đênh một tháng thì đến nơi. Tại đây, ông đã được gặp ông Nguyễn Đức Quỳ – đại diện Chính phủ Việt Nam ở Thái Lan. Ông Quỳ nói:

Tình hình kháng chiến lúc này rất cần sự có mặt của các trí thức yêu nước. Tôi sẽ đánh điện xin chỉ thị của Trung ương, nhưng có lẽ ông nên về vùng kháng chiến Nam Bộ.

Trong thời gian chờ đợi, với những giống nấm kháng sinh đem về từ Tokyo, Đặng Văn Ngữ bắt tay vào nghiên cứu nấm Penicillium với nước dừa là thứ nguyên liệu có nhiều nhất ở Nam Bộ. Ông còn mua thêm nhiều dụng cụ bằng thủy tinh để có thể về Nam Bộ thành lập một phòng nghiên cứu về kháng sinh. Sau một tháng trời chờ đợi, một hôm lúc 19 giờ, ông đang nằm nghỉ ngơi thì ông Quỳ đến ghé tai nói nhỏ:

Tôi vừa mới nhận được chỉ thị của Trung ương. Trên quyết định đưa anh lên Việt Bắc. Sáng hôm sau anh sẽ đi, bằng chỉ mang một cái va-li thôi. Không mang theo thứ gì nặng cả, các vật dụng của anh thì sẽ có người đem về sau.

Chế tạo “nước lọc Penicillin” phục vụ kháng chiến

đi buôn. Họ vượt sông Mekong để sang đất Lào. Từ Lào, họ cắt rừng để có mặt ở Nghệ An, rồi tiếp tục đi bộ lên chiến khu Việt Bắc. Đến nơi, Bác Hồ cho người dẫn Đặng Văn Ngữ đến gặp và ân cần gợi ý:

Chúng ta đánh nhau với Pháp để giành độc lập. Điều này chú biết rồi. Có đánh nhau là có người bị thương. Ta phải làm sao có thuốc để chữa các vết thương cho anh em thương binh. Bác nghe nói chú biết làm Penicillin. Vậy chú có kế hoạch gì chưa?

Đặng Văn Ngữ trình bày mọi kế hoạch cho Bác, nghe xong Bác:

Làm Penicillin tinh khiết thì hoàn cảnh kháng chiến chưa cho phép. Bác đề nghị chú hãy làm thật nhiều thứ nước lọc Penicillin càng nhiều càng tốt. Có khó khăn gì trong sản xuất thì Bác sẽ cho người giúp đỡ chú.

 

Tiếng súng từ mặt trận vọng về càng làm ông náo nức và bắt tay ngay vào chuyên môn. Nhưng hỡi ôi! Số giống nấm đem về từ Tokyo đã không phát triển được như trước – vì nhiệt độ lên xuống thất thường. Không chịu bó tay, ông đã liên tục tiến hành hàng loạt thínghiệm, cố gắng sử dụng những nguyên vật liệu sẵn có trong nước. Và cuối cùng ông đã tìm ra một thứ nước nuôi nấm rất tốt: nước cây ngô! Nấm mọc trên mặt nước và nhả ra chất Penicillin. Nước cây ngô dễ kiếm, rẻ tiền đã trở thành thứ thuốc quý dùng để rửa và đắp vết thương để cứu thương binh. Từ năm 1951, những chai thuốc kháng sinh thô, màu vàng, gọi là “nước lọc Penicillin” đã có mặt khắp chiến trường. Nó có hiệu quả cứu chữa cho thương binh – nhất là trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Xây dựng ngành ký sinh trùng học và nghiên cứu phòng chống sốt rét

Hòa bình lập lại, năm 1954, ông được giao trọng trách xây dựng ngành ký sinh trùng học ở trường Đại học Y Hà Nội đồng thời xây dựng Viện nghiên cứu sốt rét, ký sinh trùng và côn trùng. Một công việc mới mẻ đang đặt ra cho ông là phải tiêu diệt bệnh sốt rét. Thời kỳ này bệnh sốt rét đang là một bệnh khá phổ biến ở các vùng nông thôn và miền núi phía Bắc cướp đi tính mạng của nhiều người. Từ tháng 8.1960 ông bắt đầu đi khắp núi rừng, làng xã ở miền Bắc để… bắt muỗi! Vật dụng để nghiên cứu còn thiếu thốn thì ông đã tự sáng chế ra, chẳng hạn cây kim cắm côn trùng để quan sát nó trong phòng thí nghiệm. Ở nước ngoài người ta dùng loại kim làm bằng một hợp kim không rỉ. Nước ta không có, muốn mua thì giá rất đắt. Thế là ông sáng tạo ra loại kim bằng thủy tinh. Hoặc khi nuôi bọ gậy do trứng muỗi nở ra trong các phòng thí nghiệm lại không nuôi được? Ông đã nghĩ ra cách dùng ruột cỏ bấc, nhẹ dễ nổi trên mặt nước, vừa xốp giúp bọ gậy dễ cắm ống thở, vừa không thối rữa, bọ gậy sinh sống rất tốt. Nhờ miệt mài nghiên cứu mà ông đã tìm ra được loại muỗi mà quốc tế chưa hề biết đến, được ông đặt tên là: “Anophelinae Tonkirensis” (Aniphen Bắc Kỳ). Ông đã hoàn thành công trình thực tiễn có giá trị cống hiến to lớn và được gọi là “Khóa định loại muỗi Đặng Văn Ngữ”. Trong đội quân tuyên truyền, phòng chống sốt rét ở các bản làng xa xôi, núi rừng, làng xã bao giờ người ta cũng nghĩ đến hình ảnh Đặng Văn Ngữ.

Những đóng góp trong nghiên cứu ký sinh trùng

Không những có kiến thức sâu rộng về ngành ký sinh trùng, về nấm học… mà Đặng Văn Ngữ còn nghiên cứu cả biện pháp chống giun sán trong nhân dân. Chính ông đã phát hiện thêm một loại giun chỉ có tên Brugia Malayi và đưa ra phương pháp đếm ấu trùng giun chỉ bằng phòng đếm huyết học – được gọi là “Phương pháp Đặng Văn Ngữ”. Có thể nói, ông là người say mê nghiên cứu tột độ, nhiều lúc bỏ cả ăn ngủ.

Vào chiến trường miền Nam nghiên cứu sốt rét

Cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam ngày càng ác liệt, tin tức báo về ngày càng nhiều chiến sĩ bị bệnh sốt rét. Điều này đã khiến ông bồn chồn, nao nức muốn vào Nam để trực tiếp nghiên cứu các biện pháp tạo miễn dịch sốt rét. Ông đã làm một việc mà nhà sinh học Đào Văn Tiến và các thệ hệ sau này còn phải khâm phục: “Nhà kí sinh trùng học Đặng Văn Ngữ, muốn thử nghiệm hiệu quả của Vacxin phòng sốt rét do ông sáng chế, đã không ngại nguy hiểm tự thân đến thực địa chiến trường để tiến hành thí nghiệm và ông đã hy sinh trong thời gian chiến tranh giải phóng vừa qua. Là một nhà khoa học chân chính, ông muốn đích thân kiểm nghiệm giả thiết của mình, bất chấp nguy hiểm”. Đầu năm 1967 đoàn cán bộ y tế do giáo sư bác sĩ Đặng Văn Ngữ dẫn đầu đã có mặt ở tuyến lửa Quảng Bình – Vĩnh Linh. Nhà văn Trần Công Tấn có kể lại những năm tháng này một cách xúc động:

“Đầu năm 1967, Mỹ ném bom đánh phá ác liệt vùng Quảng Bình Vĩnh Linh hòng chặn con đường chi viện từ Bắc vào Nam. Trong lúc hàng chục ngàn người già, trẻ em từ vĩ tuyến 17 phải sơ tán ra các tỉnh phía Bắc thì có một đoàn cán bộ y tế do giáo sư Đặng Văn Ngữ dẫn đầu tiến vào vùng đất lửa. Gặp đoàn của anh Ngũ dừng lại nghỉ chân tại Ty Y tế Quảng Bình trên đường vào Nam, tôi hỏi: “Ngành y tế phải “xuất tướng” ra trận, chắc sắp thắng to đến nơi rồi, anh Ngữ hè?”. Anh Ngữ cười, giọng Huế dịu dàng, nhỏ nhẹ nói: “Tướng tá trận mạc chi mô. Bọn mình vô đi… bắt muỗi”.

Đêm đó, cùng mắc võng ngủ lại dưới căn nhà hầm của phó ty y tế -bác sĩ Đỗ Tùng, chúng tôi giật mình thức dậy sau những đợt bom. Anh Ngữ không ngủ lại được, nằm kể chuyện về con muỗi. Muỗi có dăm bảy loại ở khắp nơi. Không thể nghiên cứu muỗi ở Hà Nội để làm vắcxin chống bệnh sốt rét do muỗi ở Vĩnh Linh, Quảng Bình và dọc Trường Sơn đốt. Bởi cán bộ và bộ đội giao lưu ra vào nhiều trên tuyến đường Hồ Chí Minh, xuyên qua cả Miên, Lào nên bệnh sốt rét lan tràn trở lại và hoành hành rất ác liệt. Ngoài việc hy sinh do chiến đấu, thì muỗi cướp đi không ít tính mạng của người lính. Có những chiến sĩ chiến đấu rất anh hùng, xông pha hàng trăm trận không sao nhưng nhanh chóng ngã gục sau một cơn sốt rét ác tính diễn ra chỉ mấy phút…

Giọng anh Ngữ xót xa khi nói đến đồng bào và chiến sĩ phải chết vì sốt rét. Anh không thể chịu nổi khi thấy hàng đoàn xe chở đầy những cán bộ, chiến sĩ da vàng, gầy guộc do sốt rét phải rời mặt trận trở ra miền Bắc điều trị. “Phải tìm ra các biện pháp tạo miễn dịch sốt rét ngay tại chiến trường!”. Động cơ đúng đắn đó đã thôi thúc giáo sư Đặng Văn Ngữ vào Nam.

Sau đêm chuyện trò đó, chúng tôi chia tay anh Ngữ tại làng Phương Hạ, cầu mong cho anh mạnh khỏe và thành công trong chuyến đi B này. Một vài tháng sau, tôi vẫn giữ được liên lạc tin tức với đoàn anh Ngữ. Nhưng càng ngày, đoàn của anh càng đi xa và sâu hơn trong các vùng có muỗi độc. Nhiều người đã gặp đoàn của anh và họ thắc mắc không hiểu vì sao lại có người cứ chiều chiều ra ngồi cho muỗi bâu lại đốt để… bắt. Điên khùng hay sao mà bất chấp cả bom đạn để đi bắt muỗi như vậy? Thương bệnh binh từ mặt trận ra kể đoàn anh Ngữ đang bắt muỗi ở khu phi quân sự hai bên bờ sông Bến Hải, rồi dọc theo đường Trường Sơn lên tận A Lưới, A Sầu. Những con muỗi “mẫu” anh Ngữ bắt đã được gửi ngay ra Viện Sốt rét ký sinh trùng và côn trùng ở thủ đô Hà Nội. Công việc của đoàn anh Ngữ Hà Nội đang tiến triển tốt đẹp đầy hứa hẹn thì vào một đêm cuối tháng 4-1967, bác sĩ Đỗ Tùng gọi điện thoại cho tôi nghẹn ngào báo tin: “Chiều 1-4 anh Ngữ đã hy sinh do máy bay B.52 ném bom rải thảm ở mặt trận miền tây Thừa Thiên”. Tôi buông máy sững sờ trước tin dữ ấy. Thế là một nhà khoa học lớn, một trí thức yêu nước kiên cường, một người anh hùng của ngành y tế đã ngã xuống giữa mặt trận ở tuổi 57 đẩy sung sức ngay trên chính quê hương mình” (Tuổi trẻ số ra ngày 27/2/1996).

Sự ghi nhận

Với những cống hiến khoa học của mình, anh hùng liệt sĩ Đặng Văn Ngữ được trao giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 1) ngành Khoa học Y dược. Ông đã để lại nhiều thương tiếc trong các thế hệ sau. Cả cuộc đời ông đã thực hiện đúng lời hứa: “Mang hết sức lực, tài năng và nếu cần hy sinh cả cuộc đời cho lý tưởng của Đảng, cho chủ nghĩa cộng sản, cho nhân dân, cho Tổ quốc”, mà ông đã phát biểu trong ngày 8/2/1960 khi được kết nạp vào Đảng. Được biết, con trai của ông là NSND Đặng Nhật Minh, đã có nhiều đóng góp cho nền điện ảnh nước nhà.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 3 – Danh nhân khoa học Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Đặng Văn Ngữ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)