Tiểu sử
Nguyễn Đình Chiểu (chữ Hán: 阮廷炤; 1822 – 1888), tục gọi là cụ đồ Chiểu (khi dạy học), tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, sinh tại quê mẹ, làng Tân Thới, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh); mất tại Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
Tác giả Tô Ngọc Vĩnh cho biết:
Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 13 tháng 5, năm Nhâm Ngọ, tức Ngựa (1-7-1822).(1)
Cuốn Nguyễn Đình Chiểu – Tác phẩm chọn lọc cũng ghi rõ:
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) tục gọi là Đồ Chiểu, tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, sau khi bị mù còn có hiệu là Hối Trai, sinh ngày 1-7-1822 tại quê mẹ làng Tân Thới, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh); mất ngày 3-7-1888 tại làng An Đức, Ba Tri, tỉnh Bến Tre.(2)
Xuất thân trong gia đình nhà nho, ông sớm tiếp thu nền giáo dục truyền thống. Thuở bé, Nguyễn Đình Chiểu được mẹ nuôi dạy. Năm lên 6, 7 tuổi, ông theo học với một ông thầy đồ ở làng. Thân phụ của Nguyễn Đình Chiểu là Nguyễn Đình Huy, nguyên quán ở huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Cha ông là Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế, vào Gia Định làm thư lại tại Văn hàn ty của Lê Văn Duyệt. Tại đây, ông lấy người vợ kế là Trương Thị Thiệt rồi sinh ra Nguyễn Đình Chiểu.(3)
Ông từng đảm nhiệm nhiều vị trí dưới quyền Tả quân Lê Văn Duyệt, từ lính trạm đến thư lại trong Văn hàn ty, sau được giao quản lý đơn vị tại kinh đô rồi vào Nam giữ chức vụ ở phủ Tổng trấn Gia Định.
Sau khi Lê Văn Duyệt qua đời, vào khoảng năm 1833, cuộc khởi loạn của Lê Văn Khôi, là con nuôi của Tổng trấn nổ ra chống lại triều đình. Lo sợ bị liên lụy, ông Nguyễn Đình Huy phải bỏ lại gia quyến và chạy về Huế. Vài năm sau, khi tình hình lắng dịu, ông quay lại Gia Định đưa con trai Nguyễn Đình Chiểu ra Huế và gửi gắm cho một người quen chăm sóc.
Trong thời gian sống ở cố đô, đến năm 1840, Nguyễn Đình Chiểu trở lại Gia Định đoàn tụ với mẹ là bà Trương Thị Thiệt(4) – vợ kế của ông Nguyễn Đình Huy và tiếp tục dùi mài kinh sử chờ ngày thi.
Năm Kỷ Mão (1843), Nguyễn Đình Chiểu đậu Tú tài ở trường thi Hương – Gia Định, năm đó, ông mới ngoài hai mươi tuổi. Ba năm sau (1847), ông đi cùng em trai là Nguyễn Thành Tựu (10 tuổi) ra Huế học để chờ thi năm Kỷ Dậu (1849), nhưng chưa kịp dự thì nhận được tin mẹ mất, ông quyết định về Gia Định chịu tang. Trên đường về, do quá thương khóc mẹ, ông mắc bệnh nặng rồi bị mù, phải xin trọ lại ở nhà một vị thầy thuốc ở tỉnh Quảng Nam. Trong thời gian ở đây, ông cố gắng công học nghề thuốc. Nguyễn Đình Chiểu đóng cửa chịu tang mẹ, sau mãn tang, ông làm nghề dạy học, chữa bệnh và bắt đầu sự nghiệp sáng tác văn chương.
Khi Nguyễn Đình Chiểu thi đỗ tú tài, có một người họ Võ từng hứa gả con cho, nhưng sau khi ông bị mù trở về, họ Võ bội ước. Cảm thông cảnh ngộ của thầy, học trò ông là Lê Tăng Quýnh người Cần Giuộc đã thuyết phục được gia đình gả em gái là Lê Thị Điền cho thầy, đó là năm 1854. Từ đây, Nguyễn Đình Chiểu sống trong tình yêu thương của gia đình và môn sinh. Trong thời gian này ông vừa dạy học, làm thuốc vừa sáng tác truyện Lục Vân Tiên và Dương Từ – Hà Mậu.(5)
Như vậy, năm 1854, Nguyễn Đình Chiểu cưới Lê Thị Điền (1835-1886, người làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc; trước thuộc Gia Định, nay thuộc tỉnh Long An) làm vợ, sinh sống tại Gia Định cùng vợ là bà Lê Thị Điền. Sau khi thành Gia Định rơi vào tay thực dân Pháp, ông rời về ẩn cư tại làng Thanh Ba, Cần Giuộc (nay thuộc tỉnh Long An). Từ năm 1862, sau khi triều đình Huế ký hiệp ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia quyến lại chuyển về sinh sống tại Ba Tri, vùng đất nay thuộc tỉnh Bến Tre.
Sự nghiệp
Giống như nhiều nhà nho khác, thời niên thiếu Nguyễn Đình Chiểu từng ôm hoài bão phò vua, giúp nước, lập nên sự nghiệp lớn. Tiếc thay, khi đang độ tuổi thanh xuân, ông mắc phải bệnh hiểm nghèo, phải sống trong cảnh mù lòa suốt phần đời còn lại khiến cả công danh dang dở, hoài bão không thành.
Bối cảnh đất nước lúc bấy giờ cũng không thuận lợi. Sau một thời gian bế quan tỏa cảnh, nước ta phải đối mặt với sự xâm nhập ồ ạt và áp đảo về vật lực từ phương Tây. Trong khi đó, triều đình phong kiến lại thể hiện sự yếu kém, bảo thủ, dẫn đến sự thất thế trong các cuộc kháng chiến ở nhiều nơi. Các phong trào yêu nước của nhân dân dù anh dũng nhưng lần lượt thất bại, đất nước từng bước bị rơi vào tay giặc.
Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn Đình Chiểu trở thành nhân chứng và người gánh chịu cùng lúc những bi kịch lớn của dân tộc và nỗi bất hạnh cá nhân. Bởi vậy, không khó hiểu khi:
Các nhà nghiên cứu cũng như bạn đọc đều thống nhất với nhau ở một điểm: cho Nguyễn Đình Chiểu là một trong những tác giả bất hạnh nhất trong lịch sử văn học, bởi ông không chỉ chịu nỗi đau khổ của bản thân mà còn đau với nỗi đau chung của dân tộc trước cảnh nước mất nhà tan, nhân dân lầm than, cơ cực.(6)
Thầy nho
Dù mù lòa, Nguyễn Đình Chiểu vẫn giảng dạy hàng trăm học trò mỗi ngày. Bài viết để kỷ niệm 200 năm Ngày sinh Danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Đình Chiểu (1/7/1822-1/7/2022) – Điều ít người biết về thầy giáo, thầy thuốc Nguyễn Đình Chiểu của tác giả Thái Bình cho biết:
Bà Mai Kim Ba (tức Nữ sĩ Mai Huỳnh Hoa, 1910 – 1987; con của học giả Mai Bạch Ngọc, vợ thứ của chí sĩ Phan Văn Hùm), là cháu cố (chắt ngoại) của Nguyễn Đình Chiểu nhớ lời kể của bà ngoại mình (Nữ sĩ Nguyễn Thị Xuân Khuê, tức Sương Nguyệt Anh – con gái của Cụ Đồ) từng viết năm 1935 trên báo Tân Văn: “Học trò ước có hai trăm người, ngồi ra hai hàng tả hữu nghe giảng. Tiên sinh mắt đã mù, không còn xem sách được, nhưng mỗi bữa hỏi học trò tới đoạn nào, thì tiên sinh giảng đoạn ấy, như ngó thấy sách, vì tiên sinh thuộc lòng các sách.(7)
Đặc biệt, Nguyễn Đình Chiểu chịu ảnh hưởng sâu sắc của dòng giáo dục đạo đức, khí tiết Nam Bộ do cụ Võ Trường Toản khởi xướng. Ông chú trọng dạy đạo làm người, trọng nghĩa khinh tài, rèn luyện đức tính “trung dũng, nghĩa khí”, và truyền lại tinh thần yêu nước, nhân nghĩa, lễ nghĩa cho môn sinh.
Sự nghiệp giáo dục của Nguyễn Đình Chiểu không chỉ tạo nên thế hệ học trò hiếu học, mà còn góp phần hình thành lớp trí thức yêu nước đầu thế kỷ XX. Trong đó nổi bật có:
- Nguyễn Thị Ngọc Khuê (tức Sương Nguyệt Anh, 18641922): con gái ông, nữ sĩ, nhà thơ, nữ chủ bút đầu tiên của Việt Nam với tờ Nữ Giới Chung xuất bản năm 1918 tại Sài Gòn.
- Nguyễn Đình Chiêm (tức Bảy Chiêm, 1869-1935): con trai ông, thầy thuốc Đông y, tác giả tuồng Nam Tống tinh trung, Phấn Trang Lầu.
- Hòa thượng Khánh Hòa (1877-1947): nhà sư yêu nước, người khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo Nam kỳ.
- Hòa thượng Thích Khánh Thông (1871-1953): người có ảnh hưởng sâu rộng trong giới tăng ni Phật tử Bến Tre.
Lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Bến Tre từng nhấn mạnh:
Với người mắt sáng, dạy học đã khó nhưng người mắt mù thì càng khó khăn vạn lần hơn, vậy mà bằng tất cả ý chí, bằng tất cả thiện cảm đối với người đi học và quan trọng hơn là bằng tất cả kinh nghiệm qua quá trình tiếp xúc đó đây, Nguyễn Đình Chiểu sớm trở thành một nhà giáo được người đời ngưỡng mộ.(8)
Thầy thuốc
Nguyễn Đình Chiểu còn là một thầy thuốc tiêu biểu cho đạo lý y học truyền thống Việt Nam. Trong suốt cuộc đời hoạt động, ông đã dành tâm huyết cho việc chữa bệnh, viết sách, và phổ biến tri thức y học đến nhân dân, thể hiện trọn vẹn vai trò của một lương y chân chính, một “người thầy thuốc của dân tộc”.
Sau khi lâm vào cảnh mù lòa trên đường trở về chịu tang mẹ, Nguyễn Đình Chiểu từng được một danh y tại Quảng Nam truyền dạy nghề thuốc. Vốn có nền học vấn uyên thâm, ông đã tiếp thu tinh thần y học cổ truyền và từng bước phát triển thành một người giỏi y lý, thông y đạo, chữa bệnh cứu người và góp phần gìn giữ kho tàng tri thức Đông y dân tộc.
Trong dòng chảy lịch sử y học Việt Nam, Nguyễn Đình Chiểu được đánh giá là một trong ba danh y tiêu biểu nhất, chỉ sau Tuệ Tĩnh – người đặt nền móng cho y học dân tộc với tư tưởng “Nam dược trị Nam nhân”, và Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác – người để lại bộ “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” bất hủ. Ở giai đoạn cận đại, Nguyễn Đình Chiểu là người nổi bật nhất, hội tụ đủ phẩm chất của một danh y: y thuật tinh thông, y đạo sáng rõ, y đức cao cả.
Không dừng ở mặt kỹ thuật, tác phẩm còn thể hiện rõ quan điểm đạo đức y học của Nguyễn Đình Chiểu. Ông đề cao lòng nhân ái, tinh thần trách nhiệm và đạo làm thuốc:
Thấy người đau giống mình đau
Phương nào cứu đặng mau mau trị lành.
Ông lên án mạnh mẽ thói trục lợi trên nỗi đau bệnh nhân:
Vốn không theo thói tham nhăng
Nhân khi bệnh ngặt đòi ăn của nhiều.
Và khẳng định tinh thần bác ái vô phân biệt:
Đứa ăn mày cũng trời sinh
Bệnh còn cứu đặng thuốc dành cho không.
Việc chữa bệnh, với ông, cũng là một hình thức phụng sự nhân dân và quốc gia trong bối cảnh đất nước bị xâm lược. Vì vậy, y học nơi ông không chỉ là kỹ thuật trị liệu, mà còn là đạo lý hành xử, là phương tiện thể hiện chí khí của người trí thức Việt Nam thời loạn.
Gần 40 năm hành nghề trong bóng tối, lại gánh trên vai sứ mệnh văn hóa và tinh thần của dân tộc, Nguyễn Đình Chiểu đã khẳng định mình không chỉ là một danh nhân văn hóa, mà còn là một danh y chân chính, xứng đáng đứng cùng hàng với những bậc tổ sư của nền y học nước nhà.
Sự nghiệp sáng tác
Nhà nghiên cứu Trần Văn Giàu nhận xét về Nguyễn Đình Chiểu:
Mù thì có thể giảng kinh, truyện mình đã học thuộc rồi, nhưng làm sao sáng tác được một tập thơ dài hấp dẫn đầy màu sắc như Lục Vân Tiên? (chẳng những Lục Vân Tiên mà còn Dương Từ – Hà Mậu, Ngư Tiều y thuật vấn đáp…). Nghị lực của vị giáo sư, vị lương y, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu thật vĩ đại. Đường lập công bị rấp thì mở đường lập đức, lập ngôn; đường này khỏi phải nói, đã vinh quang không kém mà còn hơn hoạn lộ rất nhiều.[…] Làm người phải có ích cho đời. Cho dù vận mệnh đen tối đến đâu, ta cũng phải có thắng nó để làm người có ích cho đời. Thầy Nguyễn Đình Chiểu dạy như thế không phải chỉ bằng lời khuyên mà bằng cả cuộc sống của chính mình. Lớn thay, thầy Nguyễn Đình Chiểu.(9)
Nguyễn Đình Chiểu đã để lại cho nền văn học dân tộc một di sản đồ sộ với nhiều tác phẩm giá trị, phần lớn được sáng tác bằng chữ Nôm và thể thơ lục bát. Toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông có thể chia thành hai giai đoạn lớn, gắn liền với hoàn cảnh đất nước và tâm thế của chính ông trước vận mệnh dân tộc.
Giai đoạn trước khi Pháp xâm lược (trước 1858)
Trong giai đoạn này, các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu mang đậm tính đạo lý, thể hiện rõ quan niệm “văn dĩ tải đạo”, đề cao giá trị nhân nghĩa, trung hiếu tiết nghĩa trong đời sống con người. Nổi bật là hai truyện thơ Nôm dài:
- Lục Vân Tiên: kiệt tác gồm 2.082 câu thơ lục bát, thể hiện quan niệm đạo đức lý tưởng của một người quân tử Nam Bộ: trung nghĩa, trọng tình, giúp đời cứu người.
- Dương Từ – Hà Mậu: một truyện thơ giáo huấn, mô phỏng hành trình giác ngộ đạo lý, phản ánh mối tương giao giữa tôn giáo, đạo đức và đời sống.
Giai đoạn sau 1858 – Văn chương kháng chiến và nhân dân
Khi thực dân Pháp xâm lược, văn chương Nguyễn Đình Chiểu chuyển hẳn sang hướng chính luận – trữ tình, thể hiện khí phách của một nhà nho yêu nước. Các tác phẩm tiêu biểu gồm:
- Chạy giặc (1859): bài thơ ngắn nhưng đau xót và khẩn thiết trước cảnh giặc đến, dân tán.
- Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (1861): áng văn bất hủ tôn vinh hình tượng người nông dân đánh giặc, được xem là tác phẩm tiêu biểu nhất của văn học yêu nước nửa sau thế kỷ XIX.
- Văn tế Trương Định (1864), Mười hai bài thơ điếu Phan Tòng, Văn tế nghĩa sĩ Lục tỉnh, v.v.: đều thể hiện lòng tiếc thương và ngợi ca những người hy sinh vì nước.
- Thảo thử hịch, Thư gửi cho em, Ngựa Tiêu sương, Tự thuật: cho thấy khí tiết, nhân cách và nỗi lòng của một trí thức giữa thời đoạn lịch sử đau thương.
Đặc biệt, cuối đời ông còn để lại một tác phẩm kết hợp giữa y học và văn chương:
- Ngư Tiều y thuật vấn đáp – một truyện thơ Nôm dài gồm hơn 3.600 câu, trình bày lý thuyết Đông y bằng hình thức vấn đáp, thể hiện tri thức uyên bác và y đức mẫu mực của ông.
Tác phẩm Lục Vân Tiên
Lục Vân Tiên là truyện thơ tiêu biểu nhất của Nguyễn Đình Chiểu, không chỉ bởi quy mô lớn và giá trị nghệ thuật, mà còn vì sức sống bền bỉ trong văn hóa dân gian Nam Bộ suốt hơn một thế kỷ rưỡi. Tác phẩm kể về chàng thư sinh Vân Tiên, người có lý tưởng cứu đời, trọng nghĩa tình và trải qua nhiều thử thách để khẳng định phẩm chất anh hùng, nhân hậu.
Câu chuyện kết thúc bằng chiến thắng của chính nghĩa và tình yêu, thể hiện khát vọng đạo lý, công bằng, và lòng tin vào điều thiện. Cũng chính nhờ tác phẩm này mà hình tượng Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga trở thành một biểu tượng đạo đức trong văn học Việt Nam.
Theo cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Lục Vân Tiên không chỉ là văn học mà còn là một hiện tượng văn hóa, khi được phổ biến rộng rãi qua hình thức kể thơ, nói thơ, hát Vân Tiên trở thành “sách giáo khoa đạo lý” của người dân Nam Bộ trong thế kỷ XIX.
Tôn vinh Danh nhân Nguyễn Đình Chiểu
Với những đóng góp to lớn trong các lĩnh vực giáo dục, y học, văn học và đạo đức xã hội, Nguyễn Đình Chiểu được xem là một nhà văn hóa tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, được các thế hệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, giới học thuật trong và ngoài nước đánh giá cao. Ông không chỉ là một nhà thơ lớn với sự nghiệp văn chương đồ sộ, mà còn là biểu tượng của nhân cách văn hóa Việt Nam, kết tinh trong một con người vừa là thầy giáo, thầy thuốc, vừa là người cầm bút yêu nước.
Trong suốt chiều dài lịch sử hiện đại, hình ảnh và tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu luôn là nguồn cảm hứng để giáo dục đạo lý, tinh thần dân tộc. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, dù giữa thời điểm chiến tranh khốc liệt, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn tổ chức trọng thể các lễ kỷ niệm ngày sinh và ngày mất của ông. Đây không chỉ là sự tưởng niệm một nhà thơ lớn, mà còn là cách dùng hình tượng và sự nghiệp văn chương của ông để tuyên truyền, động viên toàn dân tham gia kháng chiến, thống nhất đất nước.
Từ năm 1992 đến nay, tỉnh Bến Tre đã chính thức lấy ngày 1 và 3 tháng 7 âm lịch (ngày sinh và mất của ông) làm ngày truyền thống văn hóa của địa phương. Đây là hoạt động có ý nghĩa sâu sắc nhằm bảo tồn và phát huy giá trị tư tưởng di sản của Nguyễn Đình Chiểu, đặc biệt là tác phẩm Lục Vân Tiên, vốn đã ăn sâu vào đời sống văn hóa dân gian Nam Bộ và văn học Việt Nam nói chung.
Nhằm ghi nhận tầm vóc đặc biệt của ông, ngày 22/12/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2499/QĐ-TTg xếp hạng Di tích lịch sử Mộ và Khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu là di tích quốc gia đặc biệt.
Bước ngoặt quốc tế đến vào năm 2021, khi tại kỳ họp thứ 41 của Đại hội đồng UNESCO (tổ chức tại Paris, Pháp), hồ sơ Danh nhân Nguyễn Đình Chiểu do Việt Nam đề cử đã được thông qua. Từ đó, Nguyễn Đình Chiểu chính thức được vinh danh là Danh nhân Văn hóa thế giới trong danh sách các nhân vật có tầm ảnh hưởng toàn cầu niên khóa 2022-2023.
UNESCO ghi nhận:
Nguyễn Đình Chiểu là một nhà văn hóa, nhà thơ lớn của Việt Nam; là tấm gương vượt qua nghịch cảnh và theo đuổi lý tưởng học tập suốt đời. Ngoài văn chương, ông còn là một nhà giáo, một lương y giàu y đức và tri thức.
Sự vĩ đại của Nguyễn Đình Chiểu không chỉ nằm ở tài năng, mà còn ở khả năng hội tụ và cống hiến sâu sắc trên ba lĩnh vực: thơ văn, giáo dục, y học, điều rất hiếm thấy trong lịch sử thế giới.
Chú thích
- Ngô Ngọc Vĩnh, Đặc San Nguyễn Đình Chiểu & Lê Ngọc Hân, Nxb Tác Giả, 2006, tr 22.
- Phạm Văn Ánh, Nguyễn Đình Chiểu – Tác phẩm chọn lọc, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009, tr 9.
- Phạm Văn Ánh, Nguyễn Đình Chiểu – Tác phẩm chọn lọc, sđd, tr 7.
- Trương Thị Thiệt: Theo bài viết Chương trình nghệ thuật Hành trình theo bước chân Cụ Đồ Chiểu, ngày 09/06/2022, đăng trên website Sở Văn hóa và Thể thao – thành phố Huế của tác giả Văn Vũ: Lớn lên, ông Huy cưới vợ ở đây và đã có 2 con (1 trai và 1 gái). Mùa hạ tháng 5 năm Canh Thìn (1820) Tả quân Lê Văn Duyệt được triều đình Huế phái vào làm Tổng trấn Gia Định Thành. Đến đầu mùa Thu, Nguyễn Đình Huy đi theo Tả quân để tiếp tục làm thư lại ở Văn hàn ty thuộc dinh Tổng trấn. Ở Gia Định, ông Huy có thêm người vợ thứ là bà Trương Thị Thiệt, người làng Tân Thới, sinh ra 7 con (4 trai, 3 gái) và Nguyễn Đình Chiểu chính là con đầu lòng.
- Phạm Văn Ánh, Nguyễn Đình Chiểu – Tác phẩm chọn lọc, sđd, tr 10.
- Phạm Văn Ánh, Nguyễn Đình Chiểu – Tác phẩm chọn lọc, sđd, tr 11.
- Thái Bình, Điều ít người biết về thầy giáo, thầy thuốc Nguyễn Đình Chiểu, website Công an nhân dân, 30/06/2022.
- Ban tuyên giáo tỉnh ủy, Bài tuyên truyền 200 năm Ngày sinh Danh nhân Nguyễn Đình Chiểu, Trang thông tin điện tử xã An Hiệp.
- Trần Văn Giàu. Nguyễn Đình Chiểu – đạo làm người, Sở Văn hóa – Thông tin Long An XB, 1983, tr. 10.
Tham khảo
- Phạm Văn Ánh (2009), Nguyễn Đình Chiểu – Tác phẩm chọn lọc, Nxb Giáo dục Việt Nam.
- Thái Bình (2022), Điều ít người biết về thầy giáo, thầy thuốc Nguyễn Đình Chiểu, website Công an nhân dân.
- Trần Văn Giàu (1983), Nguyễn Đình Chiểu – đạo làm người, Sở Văn hóa – Thông tin Long An XB.
- Nguyễn Phong Nam, Giáo trình Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX.
- Đặng Hữu Thụ, Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954, quyển Thượng.
- Ngô Ngọc Vĩnh (2006), Đặc San Nguyễn Đình Chiểu & Lê Ngọc Hân, Nxb Tác Giả.