Khái quát
“Nếu người trẻ tuổi được đào tạo theo đúng năng khiếu, anh ta có thể trở thành một tài năng và nếu có thêm trí tuệ xuất chúng, sẽ trở thành thiên tài. Nhà bách khoa D’Alembert thích toán học từ năm 13 tuổi, nhưng gia đình lại muốn cho anh học y khoa, vì lương bác sĩ cao hơn và thu được nhiều tiền khám bệnh. Nể lời bố mẹ, anh vào học trường thuốc, nhưng nửa chừng bỏ dở vì không sao học nổi và đành trở lại môn toán. Rốt cuộc D’Alembert trở thành nhà bác học lớn ở thế kỷ XVIII. Cùng với Diderot, ông đã soạn 20 tập Bách khoa toàn thư khoa học, nghệ thuật và công nghiệp. Nhiều công thức vật lý và toán học được mang tên ông. Nhà toán học Poisson cũng vậy, gia đình ép đi học nghề thuốc, cuối cùng ông bị đuổi vì bàn tay quá vụng về, chích mổ không khéo. Nhưng khi đọc một tờ báo toán học, Poisson lại giải được hết bài toán này sang bài toán khác và từ năm 17 tuổi, đã nổi danh về tài năng toán học ở thế kỷ XIX. Giả thiết Poisson cứ đeo đẳng mãi trường y, do được chiếu cố về mặt này mặt nọ, cũng như D’Alembert, ông sẽ chỉ trở thành người thầy thuốc tầm thường, không có đóng góp gì nhiều cho xã hội”.
Nhiều thế hệ sinh viên vẫn còn nhớ những lời tâm sự chí lý trên của giáo sư Đào Văn Tiến. Ông sinh năm 1920 tại Nam Định, là Nhà giáo Nhân dân, cán bộ giảng dạy tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội; Giáo sư thỉnh giảng các trường Đại học Paris (1979), Phnômpênh (1981), Antanarivo (1983), Chủ tịch danh dự Hội Sinh vật học Việt Nam, Ủy viên Hội đồng Nghiên cứu Quốc tế (IIG)… được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996. Khi mọi người gọi ông là nhà sinh học đầu tiên của nước Việt Nam độc lập thì ông khiêm tốn, lắc đầu từ chối và nói: “Đó là các anh Đặng Văn Ngữ, Hoàng Tích Trí. Các anh ấy là đàn anh của chúng ta”. Sự khiêm tốn này rất đáng quý. Suốt đời ông chỉ làm một việc mà ông tâm đắc: “Sinh học hiện nay là bộ phận chủ yếu của nền nhân văn khoa học”.
Cuộc đời
Suốt một thời tuổi trẻ, ông đặt trước bàn học câu nói của Kalinin: “Ai muốn trở thành người lao động thành thạo, người ấy phải tập đọc sách có hệ thống, rèn luyện bản thân một cách có hệ thống”. Từ năm 1942, mới 22 tuổi, Đào Văn Tiến đã hướng dẫn thực tập cho sinh viên ở Đông Dương khoa học đại học đường! Nhiều người xem ông là tấm gương để mình phấn đấu theo. Do còn quá trẻ và để vượt qua khó khăn trong nghề làm thầy ông đã chọn cách khắc phục bằng con đường tự học.
Vào đầu thập niên 40, lúc Giáo sư Hoàng Xuân Hãn xuất bản cuốn Danh từ khoa học (phần toán, lý, hóa, cơ, thiên văn). Với lòng khâm phục của một bậc đàn anh, Đào Văn Tiến bấy giờ mới 23 tuổi, cảm thấy mình có thể làm tiếp phần Vạn vật học (sau này gọi là Sinh học). Ông đem ý nghĩ táo bạo đó trình bày một cách rụt rè và được thầy Hãn hết lòng động viên khích lệ.
Vào tháng 10/1945, tức là chỉ 2 tháng sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Tổng hội Sinh viên cứu quốc đã cho xuất bản cuốn Danh từ khoa học (phần Vạn vật học) của ông gồm hơn bảy ngàn thuật ngữ thuần Việt và Hán Việt. Những việc làm tiên phong này đã khẳng định sự giàu có, phong phú, trong sáng của tiếng Việt và nó cũng góp phần tích cực khẳng định sự thành công của việc dùng tiếng Việt trong công tác giảng dạy ở bậc đại học, cao đẳng ngày sau nước nhà giành được độc lập. Điều mà ông lấy làm sung sướng là tập sách của mình không ngờ đã được giáo sư Hoàng Xuân Hãn viết lời giới thiệu:
Tác giả là ông Đào Văn Tiến, một bạn trong đám thanh niên tốt nghiệp đầu tiên ở Đại học Hà Nội về Vạn vật học… Các việc thiết thực làm trong bóng tối của các bạn thanh niên như các bạn Tiến, Chiến, Căn, Quán, Quảng, Thiêm đều xứng đáng với một phần nhiệm vụ của thanh niên phải đoàn kết và kiến thiết nước Việt Nam độc lập.
Nghiên cứu khoa học và khảo sát thực địa
Cả cuộc đời ông, cho đến lúc nhắm mắt năm 1995, bao giờ người ta cũng thấy ông say sưa đọc sách và viết sách. Trên trang web của Trường Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết:
Giáo sư là người chỉ đạo chương trình “Điều tra cơ bản khu hệ động vật, ký sinh trùng và côn trùng ở miền Bắc Việt Nam”. Chỉ đọc tên những công trình của ông cũng có thể nhận ra những chuyến đi khảo sát thực địa ngang dọc đất nước của ông: “Nghiên cứu động vật ở Thái Nguyên” (1961), “Dẫn liệu về khu động vật Việt Nam” (1962), “Nghiên cứu nguồn tài nguyên thiên nhiên hồ Ba Bể tỉnh Bắc Kạn” (1988), “Nghiên cứu nguồn tài nguyên sinh vật ở châu thổ Sông Hồng (1959-1964) và vấn đề giải quyết trong tương lai”, (1964) “Sưu tập thú ở miền cực Bắc Việt Nam” (1965), “Ghi chú về một sưu tập thú nhỏ ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình” (1966)… Ông là người đầu tiên mô tả hai loài Voọc ăn lá là Voọc Hà Tĩnh và Voọc mào, là người đầu tiên tìm thấy loài phụ vượn đen tuyền ở vùng đồng bằng sông Hồng và vùng biên giới Đông Bắc giáp Trung Quốc.
Ông từng khuyên thanh niên những kinh nghiệm của chính bản thân mình:
Tự học chủ yếu là tự đọc tài liệu để thu thập kiến thức. Không ít người biết chữ nhưng không biết cách đọc sách. Thí dụ muốn hiểu thấu đáo học thuyết Darwin, ta không chỉ bằng lòng với nội dung học thuyết trình bày trong sách giáo khoa mà phải tìm đọc Nguồn gốc các loài của ông, cũng như muốn hiểu học thuyết Lamac phải đọc thêm cuốn Triết học động vật. Chính qua những tác phẩm đó mới có thể biết được phương pháp đặt vấn đề, giải quyết vấn đề của các tác giả, quá trình sưu tầm tư liệu, tinh thần vượt khó trên con đường khoa học của họ. Đọc có hệ thống còn là đọc theo lịch sử phát triển của vấn đề. Ta không chỉ bằng lòng với cách học thuộc các công thức, quy luật nguyên lý nêu trong tài liệu mà còn phải tìm hiểu thêm về nguồn gốc của những vấn đề này. Đọc có hệ thống còn là khi đọc một ngành khoa học phải chú ý cả các ngành có liên quan như học vật lý phải biết toán, học sinh vật phải biết hóa v.v… Ta không thể duy trì phương châm “cần gì học nấy”, “thích gì đọc nấy” để thực hành việc học lệch khá phổ biến hiện nay.
Xây dựng nền sinh học Việt Nam
Năm 1951, để chuẩn bị nhân tài cho đất nước, ông đã cùng các giáo sư như Ngụy Như Kontum – người Việt Nam đầu tiên đậu thạc sĩ ở Pháp, Nguyễn Xiển – người khai sinh ngành thủy tượng thủy văn ở Việt Nam, Nguyễn Văn Chiến – người anh cả của ngành địa chất… xuyên rừng vượt suối đến nơi an toàn để xây dựng trường Sư phạm cao cấp và khoa học cơ bản của Việt Nam trong kháng chiến. Năm 1955 trở về Hà Nội, cùng với các bạn đồng nghiệp, Đào Văn Tiến bắt tay vào xây dựng ngành sinh học Việt Nam. Thời gian này, điều quan trọng nhất đối với ông là phải đào tạo đội ngũ sinh viên ham thích nghiên cứu khoa học.
Nếu thanh niên không quan tâm đến khoa học, xã hội sẽ nhanh chóng suy thoái về văn hóa và vật chất.
Đó là câu nói của V.Kurganov mà ông thường để nhắc nhở sinh viên và chính ông cũng tự phấn đấu như thế. Từ những năm còn trẻ tuổi (1940), ông đã chọn Phòng thí nghiệm Sinh học và Y học thực nghiệm để phát huy năng khiếu của mình. Đào Văn Tiến đánh giá cao vấn đề năng khiếu trong thanh niên, ông nói:
Nếu không được bồi dưỡng, năng khiếu nào cũng sẽ lụn bại đi và dần dần mất hẳn. Một hạt giống tốt, được gieo vào mảnh đất thích hợp mới nẩy mầm và khai hoa, kết quả thuận lợi. Còn nếu gieo ở mảnh đất không thích hợp, nó không nẩy mầm hoặc có thành cây thì cũng với phẩm chất bình thường hoặc thiếu phẩm chất.
Các công trình tiêu biểu và đóng góp cho ngành động vật học
Từ năm 1956, Đào Văn Tiến bắt đầu nghiên cứu các loài thú một cách có hệ thống. Nhờ lao động cần cù và không mệt mỏi nên sau này ông mới hoàn thành và công bố công trình Khảo sát các loài thú ở miền Bắc Việt Nam (1969). Với công trình này, nhiều nhà khoa học nước ngoài quan tâm đến giá trị của nó. Sau đó, ông tiếp tục công bố tác phẩm Động vật có xương sống (1971). Cho đến nay, bộ sách này vẫn là gối đầu giường của nhiều sinh viên và các nhà động vật học Việt Nam.
Có lần nhà văn Tô Hoài, nổi tiếng với nhiều tác phẩm viết về loài vật đã phát biểu:
Kinh nghiệm viết văn của tôi về động vật là hãy đọc những bài viết của giáo sư Đào Văn Tiến.
Nhà văn Nam Bộ – Đoàn Giỏi – đã viết về mong ước của người ông trước yêu cầu của cháu bé:
Buồn thay, tôi chỉ là một nhà văn sơ thiển, giá tôi được một phần nhỏ kiến thức của ông Đào Văn Tiến – nhà động vật học lỗi lạc đầu tiên ở Đông Dương từ thời Pháp thuộc, thì ắt con bé sẽ mê và phục ông nó, phải biết.
Ngoài ra ông còn viết thêm Hỏi đáp về động vật (3 tập) và viết nhiều bài báo kêu gọi bảo vệ động vật quý hiếm ở nước ta.
Những đóng góp khoa học
Với những kiến thức uyên bác này, ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu khoa học có giá trị. Từ năm 1979, ông là giáo sư thỉnh giảng các trường Đại học Paris 7, Phnôm Pênh… là người sáng lập Hội Sinh học Việt Nam và sau đó là chủ tịch danh dự của Hội, rồi ủy viên nghiên cứu nghề cá miền Tây Thái Bình Dương, ủy viên Hội đồng nghiên cứu thú quốc tế. Rồi năm 70 tuổi ông vẫn còn tín nhiệm được bầu làm hội viên danh dự của Hội Thú học toàn Liên Xô (1990). Kinh nghiệm lớn nhất của con đường nghiên cứu khoa học, Đào Văn Tiến đã nhiều lần tâm sự với các bạn trẻ vẫn là tự học. Suốt gần cả đời người với những gì thu thập được qua kinh nghiệm của bản thân, ông đã trình bày trong quyển Khoa học hóa cách suy nghĩ, làm việc, học tập. Theo chúng tôi đây là quyển sách “gối đầu giường” rất cần thiết cho thế hệ trẻ.
Chúng tôi xin tóm tắt đôi nét chính nhằm thấy tinh thần nghiên cứu khoa học của ông:
- Yêu chân lý và dũng cảm trí tuệ: “Dù thế nào chăng nữa trái đất vẫn cứ quay”. Chân lý là sự thật khách quan, nhà khoa học là người bằng mọi cách, khám phá ra sự thật khách quan trong tự nhiên. Nếu không có lòng yêu chân lý, không ai có thể vượt khó khăn trở ngại trên con đường hoạt động để tới đỉnh cao của chân lý. Nhà vật lý học Anxtanh cũng có lời khuyên học trò của mình: Với công việc của chúng ta, cần phải có hai điều kiện, một là cần phải có một đức tính kiên nhẫn không bao giờ giảm sút và hai là cần phải luôn luôn sẵn sàng (đổ xuống biển) cái mà chúng ta phải bỏ phí bao nhiêu thời gian và lao động.
- Trung thực và trí tuệ: “Biết thì thưa thớt, không biết thì dựa cột mà nghe”. Trung thực trí tuệ trước hết là không gian dối trong công tác khoa học. Điều này thường hay xảy ra đối với các người nghiên cứu hám danh lợi, sốt ruột vì thành tích. Họ không rõ là sự thiếu trung thực trí tuệ thường dẫn tới thất bại ngay trên đoạn đường khoa học đầu tiên. Hiện nay không ít người quản lý khoa học cũng giống như nhà nghiên cứu nói trên, muốn nghe báo cáo phù hợp với định kiến có sẵn của mình, đã tạo một số môn đồ báo cáo sai, đi tới nhận định sai lầm về thực tế. Nếu nhà quản lý này lại dùng biện pháp quyền uy hoặc biện pháp hành chính để hạn chế tự do trong thảo luận, thì tai hại gây ra cho sự nghiệp khoa học càng lớn, sai lầm sẽ kéo dài và hướng công việc triển khai chệch đường. Trung thực trí tuệ là không bao giờ phát triển hàm hồ không dựa trên sự kiện… Trung thực trí tuệ là công khai nhận cái đúng của đồng nghiệp và cái sai của mình… Trung thực trí tuệ là không giấu dốt. Dốt không phải là điều xấu và càng học càng thấy mình dốt là lẽ đương nhiên.
- Độc lập trí tuệ: “Không quy phục bất cứ uy quyền nào là châm ngôn cơ bản của phương pháp thực nghiệm”. Độc lập trí tuệ (hay tư duy tự do) là một yếu tố quan trọng của tinh thần khoa học. Có độc lập trí tuệ, mới có hy vọng đi tới phát minh lớn trong khoa học. Có nhà khoa học đã nói: Lòng dũng cảm và tính độc lập của tư duy, khả năng kỳ diệu của trí tưởng tượng là những tính chất này mới cho phép con người nhìn trước được đúng. Lịch sử khoa học đã cho thấy, ai dám từ bỏ con đường mòn của những khái niệm quá quen thuộc mà khai phá những nơi còn chưa có đường thì mới có hy vọng tìm được những điều mới lạ cho khoa học… Độc lập trí tuệ không phải bẩm sinh mà đòi hỏi sự rèn luyện. Thuộc tính bẩm sinh của động vật sống thành xã hội là hành động theo đàn. Ngay khi loài người thành hình cũng còn giữ thuộc tính này. Chỉ với sự thành hình khoa học mới nảy sinh tính độc lập suy nghĩ.
- Nghi vấn khoa học: “Chỉ công nhận một sự vật là thật nếu bản thân biết chắc chắn là thật”. Lịch sử đã chứng tỏ có nhiều mệnh đề đã được chấp nhận như chân lý, sau này lại coi như sai lầm. Người nghiên cứu phải có thái độ dè dặt trước những chân lý hiện nay, tức phải có tính nghi vấn khoa học…. Biết nghi vấn là một điều kiện của sự phát triển khoa học… Hãy rèn luyện tính nghi vấn khoa học ngay từ lúc còn ở nhà trường.
- Tin tưởng khoa học: “Khoa học là vô địch. Chỉ có nhà bác học mới nhầm lẫn”. Tuy có tính nghi vấn khoa học, người nghiên cứu phải có lòng tin tuyệt đối vào khoa học. Từ khi thành hình, khoa học đã giúp loài người đi sâu có kết quả vào bí ẩn của thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ có kết quả cho con người. Trước đây đã thế, từ nay về sau cũng sẽ thế. Nếu không có lòng tin rằng chúng ta có thể nắm được tính thực tại của thế giới tự nhiên nhờ những cấu trúc lý thuyết của chúng ta, nếu không có lòng tin vào tính chất hài hoà tự thân của thế giới chúng ta, thì sẽ không có bất cứ khoa học nào. Chính lòng tin này đã và luôn luôn sẽ là động cơ chính của mọi sáng tạo khoa học… Sự thống nhất tính nghi vấn khoa học và sự tin tưởng vào khoa học ở người nghiên cứu là một tất yếu của sự khoa học.
- Khiêm tốn và rộng lượng: “Người khoa học khác với người ngu dốt ở chỗ người khoa học rộng lượng với người ngu dốt còn người ngu dốt lại không rộng lượng với người khoa học”… Nhà triết học cổ Hi Lạp Sôcrát đã có một câu nổi tiếng: Tôi biết rõ rằng tôi chẳng biết gì hết cả. Và ông đi khắp nơi tìm những người có học thức để học hỏi thêm. Ông cho rằng mọi sự hiểu biết lớn lao nhất của một người chẳng qua chỉ là một hạt cát trên bãi sa mạc tri thức mênh mông. Tính khiêm tốn của nhà khoa học không cho phép mình được nghỉ ngơi trên những thành tích đã đạt… Newton đã đánh giá đúng mức công lao của các nhà khoa học đi trước trong câu nói bất hủ: Sở dĩ tôi nhìn xa là vì được ngồi trên vai những người khổng lồ.
- Tư duy không vụ lợi: “Tìm hiểu chân lý phải là mục đích chính của hoạt động khoa học”. Mục đích chính của khoa học là giúp con người ngày càng đi sâu vào bí ẩn của tự nhiên. Khoa học chỉ phát triển mạnh mẽ nếu quy luật phát triển nội tại của nó được bảo đảm. Nếu lồng mục đích danh lợi vào nghiên cứu khoa học thì quy luật phát triển của khoa học bị thương tổn và đường hướng phát triển tự nhiên của khoa học bị lệch lạc hoặc ngừng trệ. Điều này ảnh hưởng ngay tới việc đi tìm chân lý. Khoa học và danh lợi dường như là hai phạm trù mâu thuẫn. Yêu cầu của khoa học là khách quan, còn yêu cầu của danh lợi là chủ quan. Chân lý là sự thật khách quan. Danh lợi không thể nào dẫn dắt con người tới chân lý”.
Quan niệm về khoa học liên ngành
Theo ông cho biết:
Trong tình hình cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật hiện đại, nhiều ngành khoa học thành hình có tính chất liên ngành, như sinh thái học liên kết kiến thức về động vật, thực vật, thổ nhưỡng, khí tượng, thủy văn… và có cả những lĩnh vực đa ngành như kế hoạch hóa và quy hoạch lãnh thổ đòi hỏi sự tham gia của sinh học, địa học, kinh tế học, nông học, dân số học v.v… Yêu cầu đặt ra cho người làm công tác khoa học là giỏi một ngành mà biết nhiều ngành liên quan.
Thiết nghĩ lời tâm sự chí tình của một người suốt đời đeo đuổi nghiên cứu khoa học rất đáng để lớp con cháu chúng ta chép ra cùng suy nghĩ. Với những đóng góp của mình cho Khoa học giáo sư Đào Văn Tiến đã được trao giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt I).
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 3 – Danh nhân khoa học Việt Nam, Nxb Trẻ.