Thông tin chung
Cho đến nay, không riêng gì các thế hệ sinh viên y khoa mà ngay cả chúng ta cũng đều tự hào khi biết trong bộ sách giá trị Anatomie Topographique của Henri Rouvière – tập nghiên cứu về cánh tay con người có chương viết về cơ ghi rõ “muscle Do Xuan Hop” và chương về dây thần kinh ghi rõ “nerf Do Xuan Hop”. Bên cạnh đó tên tuổi và công trình nghiên cứu y học của ông còn được in trong bộ Encyclopédie medicale Francaise (bách khoa toàn thư y học Pháp).
Vậy Đỗ Xuân Hợp là ai mà khiến y học thế giới phải đề cao và khâm phục như thế? Ông sinh ngày ngày 8/7/1906 tại Hà Nội, con thứ 5 của cụ Đỗ Xuân Đạt, một gia đình nghèo có truyền thống hiếu học và yêu nước. Khi cụ Lương Văn Can cùng những chí sĩ yêu nước lập ra trường Đông Kinh Nghĩa Thục thì cụ Đạt dù không ra dạy, nhưng vẫn bí mật giúp đỡ tài chính cho trường. Ngay từ nhỏ, Đỗ Xuân Hợp đã nổi tiếng là cậu học trò giỏi nhất trường. Sau khi đậu ưu kỳ thi tiểu học thì phần thưởng là những cuốn sách đã được ông chất đầy trong một tủ lớn! Sau này theo học trường Bưởi, ông cũng là Bác sĩ Đỗ Xuân Hợp “Ông vua” của ngành giải phẫu học Việt Nam học sinh giỏi, chăm chỉ và khiêm tốn giúp bạn học kém hơn mình. Mỗi tháng được nhận học bổng 8 đồng, ông dùng để nuôi hai em tiếp tục ăn học. Sau khi tốt nghiệp trung học với bằng thành chung loại ưu tú, ông theo học trường Cao đẳng Y dược Đông Dương. Ông tính toán như vậy, vì chỉ sau bốn năm học thì có thể đi làm để giúp đỡ gia đình.
Mùa hè năm 1929, Đỗ Xuân Hợp tốt nghiệp ra trường. Lúc này tình yêu đến với ông. Người đó là bà Nguyễn Thị Thịnh – một nữ sinh trường Sư Phạm Hà Nội. Sau này nên duyên nợ thì người vợ đã cùng theo chồng lên đường nhận nhiệm sở. Đỗ Xuân Hợp được phân công về nơi rừng thiêng nước độc ở Bắc Hà (gần Lào Cai)! Nơi đây, trong thập niên 30 của thế kỷ XX vẫn còn là nơi “ánh sáng văn minh” chưa rọi tới! Những người dân vẫn còn tin vào thầy mo hơn là tin vào khoa học, cho dù họ vẫn kính trọng gọi ông là “quan đốc”. Hãy nghe một người học trò của ông là Bác sĩ, Phó tiến sĩ Lê Gia Vinh kể lại: “Một hôm đi qua một quả đồi vắng, bỗng nhiên nghe tiếng chập cheng lốc cốc, kèm theo tiếng rên rỉ khóc lóc, “quan đốc” lần mò vào tận nơi, thấy một cụ già bụng trương phình, đang hổn hển nằm chờ chết, chung quanh vợ con gào khóc khấn vái trước một bàn thờ gà xôi, rượu, hoa quả đủ thứ. Một thầy mo đang phồng mang trợn mép, mặt đỏ tía tai, vung gươm nhảy nhót, truyền phán các âm binh xua đuổi ma quỷ. Thấy “quan đốc” vào, thầy mo vội vã chuồn mất. Thăm bệnh xong, thầy ký được gọi đến, mang dụng cụ tháo thụt ngay cho ông cụ. Phải đả thông mãi ông cụ và gia đình mới bằng lòng cho làm. Ra được một thau sành đầy. Thấy nhẹ nhàng, thoát chết, ông cụ và gia đình lạy lấy lạy để, cám ơn mãi “quan đốc” nhân từ, cứu nhân độ thế” (Con đường vinh quang – Lê Gia Vinh – NXB Văn Hóa 1991). Sống trong một môi trường như thế, vợ chồng bác sĩ Đỗ Xuân Hợp đã làm hết sức mình để cải thiện sức khỏe cho người dân còn mê muội, dốt nát. Ngay từ những năm tháng này, ông đã có quan niệm: cứu được bệnh nhân thoát khỏi tay tử thần là niềm vui của chính mình. Muốn làm được như vậy thì không thể không nâng cao tay nghề và trình độ hiểu biết của mình về y học. Cuối xuân năm 1932, ngoài trời rét lạnh. Những ngọn gió lang thang đi qua rừng cây trong đêm tối làm vọng lại những âm thanh buồn não ruột. Đang nằm trong chăn ấm, hai vợ chồng cùng chúi mũi đọc hài kịch của Molière cho vơi nỗi nhớ nhà thì đột nhiên nghe những tiếng súng vọng lên “Đoàng! Đoàng!”. Rồi có những tiếng kêu thất thanh: “Cướp! Cướp!”. Tình hình những năm tháng này chưa yên ổn, bọn thổ phỉ từ biên giới tràn sang cướp phá như chỗ không người! Ông Hợp vội tắt đèn măng-xông, vói tay lấy khẩu súng trường đang treo trên tường nhà rồi dẫn vợ chạy ra chỗ ẩn náu. Ông dự định gặp bọn chúng kéo đến là bắn, nhưng hỡi ôi! Chúng đông quá. Ông bất lực nói: “Chúng mày muốn lấy gì thì lấy! Để cho tao sống, tao còn chữa bệnh cho dân”. Thế là chúng lấy hết mọi thứ! Thấy chiếc nhẫn cưới đang đeo trên tay, một tên thổ phỉ định rút dao ra chặt tay ông để cướp thì ông nhanh chóng tháo ra đưa ngay cho nó. Như vậy cả gia tài dành dụm chỉ trong thoáng chốc tan theo mây khói. Lúc binh lính Pháp lên trấn áp bọn thổ phỉ thì chúng đã cao chạy xa bay tự lúc nào rồi! Nhưng trong đời còn có câu: “Tái ông thất mã” để chỉ việc đời biến hóa khôn lường, trong rủi có may và ngược lại. Sau tai họa trên thì nửa tháng sau, ông được mời lên đồn binh để nhận tiền bồi thường! Với số tiền này, ông đã dùng để mua tài liệu y học từ bên Pháp và theo học hàm thụ trường Đại học tổng hợp tại Paris. Hai vợ chồng cùng học say mê chăm chỉ. Cũng trong thời gian này, ông nhận được thông báo: Trường Y khoa Đông Dương đang thi tuyển chọn lấy một trợ lý ngành giải phẫu cho Viện giải phẫu của trường. Thế là với quyết tâm của mình, ông quyết tâm thi.
Cuối năm 1932, ông trở về Hà Nội nộp đơn thi và trúng tuyển. Nhờ vậy, ông được chuyển công tác về Hà Nội, phụ việc cho giáo sư P.Huard – giám đốc của Viện giải phẫu học. Qua năm sau, nhờ có sự chứng nhận và giới thiệu của trường hàm thụ mà vợ chồng được thi tú tài. Cả hai kỳ thi, họ đều đậu thủ khoa. Nếu bác sĩ Hồ Đắc Di là người Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp bác sĩ phẫu thuật tại Pháp thì Đỗ Xuân Hợp lại là người đầu tiên trợ giảng và hướng dẫn cho sinh viên thực tập trong khoa phẫu thuật của trường Y khoa Đông Dương. Thông qua những kinh nghiệm đã thu thập được sau hơn mười năm làm công việc nầy, Đỗ Xuân Hợp đã gây chấn động trong giới y học thời bấy giờ bằng bộ sách Morphologie humaine et anatomie artistique (Hình thái học và giải phẫu thẩm mỹ) in năm 1942. Với bộ sách này ông đã được Viện hàn lâm y học nước Pháp đã tặng giải thưởng Testut vào năm 1949. Ngoài ra, ông còn công bố nhiều công trình nghiên cứu có giá trị khác. Có thể nói, từ năm 1936, Đỗ Xuân Hợp đã nghiên cứu về bộ xương người Việt Nam hiện đại và một số sọ hoặc bộ xương người Việt Nam thời cổ. Ngoài ra ông còn nghiên cứu cả về não, mạch máu thần kinh và nội tạng v.v… Hầu hết những công trình này đều viết bằng tiếng Pháp. Trong thời gian này có hai chi tiết thú vị. Một là mùa thu năm 1942, khi xem triển lãm tại phòng tranh mỹ thuật Đông Dương, vợ ông đã mua bức tranh Gia đình thuyền chài của họa sĩ L.X.N vừa đoạt giải thưởng đặc biệt. Sau khi họa sĩ đem đến tận nhà treo, bấy giờ, Đỗ Xuân Hợp mới ngắm nghía. Chỉ giây lát sau ông đã phát hiện ra chi tiết sai về cơ bắp khi họa sĩ vẽ nhân vật, vì khi ngồi co chân thì bắp chân không thể như thế được. Sự góp ý của ông chính xác và thuyết phục nên họa sĩ này đã vui vẻ đem về vẽ lại, nhờ vậy bức tranh mới đạt đến hiệu quả trong nghệ thuật. Hai là với tấm bằng Testut – do biến chuyển thời cuộc nên Đỗ Xuân Hợp không nhận được. Mãi đến sau này, khi Tổng thống Pháp François Mitterrand sang thăm Việt Nam có gặp vợ của cố bác sĩ Đỗ Xuân Hợp. Trong trò chuyện thân mật, bà có nhắc đến chuyện này, điều chúng ta không ngờ là chỉ thời gian sau, Viện hàn lâm y học Pháp đã gửi đến cho gia đình cố bác sĩ bản sao tấm bằng này. Trước đây, khi ra Hà Nội, chúng tôi đã tìm đến nhà riêng của ông để thu thập tài liệu.
Cụ bà Nguyễn Thị Thịnh, vợ của cố bác sĩ Đỗ Xuân Hợp – dù ở vào lứa tuổi 87 nhưng cụ vẫn minh mẫn và kể lại chuyện tình của mình, chuyện hiếu học của chồng một cách hóm hỉnh, đôi lúc pha giọng cười dí dỏm. Bà kể:
Đối với ông nhà tôi trên đời này chỉ có sách là quan trọng nhất. Không lúc nào tay ông rời quyển sách. Thậm chí ngay trong lúc ăn ông cũng chúi mũi vào sách, nhiều lúc tôi phải… đút cơm cho nhà tôi như chăm sóc trẻ nhỏ! Cơm ngon hay khê nhão ông cũng không quan tâm, cho gì ăn nấy, mắt chỉ dán vào sách hoặc giáo trình sẽ giảng dạy cho sinh viên. Sau này được nhà nước giao nhiều nhiệm vụ quan trọng, nhưng ông vẫn không thay đổi thói quen này. Còn chuyện tiền nong thì không bao giờ ông để ý đến. Mỗi tháng, người lái xe riêng của nhà tôi nhận tiền lương trao cho tôi. Có lần tôi hỏi tiền lương hằng tháng bao nhiêu thì ông lắc đầu không biết. Có thể nói, nhà tôi là người lấy việc say mê nghiên cứu y học là niềm vui. Tôi tự hào là trong tổng số gần 100 công trình đã công bố bằng tiếng Pháp và tiếng Việt, tôi có đôi lần góp cho nhà tôi những việc nhỏ như tìm giúp nhà tôi những từ tiếng Việt phù hợp khi dịch tài liệu tiếng Pháp. Chẳng hạn, năm 1951 nhà tôi nhiều ngày đăm chiêu suy nghĩ khi chuyển ngữ một loại xương từ tiếng Latinh sang tiếng Việt. Trong sách tiếng Latinh ghi là Tibia, có người dịch là “xương ống quyển” nhưng cũng chưa hẳn đúng lắm. Không biết đặt tên gì cho phù hợp, nhà tôi suy nghĩ mãi khiến tôi cũng sốt ruột. Lúc đó, tôi đang ngồi dùng chầy giã cua, thì bác sĩ Nguyễn Thế Khánh đi ngang qua, nhà tôi gọi vào và giãi bày nỗi khó khăn của mình. Thấy tôi đang cầm cái chầy trên tay, bác sĩ Khánh nhìn tấm ảnh vẽ khúc xương rồi buột miệng nói đùa: “Ô hay trông giống cái chầy quá nhỉ !”. Đang chăm chú làm việc nghe vậy tôi phá lên cười vui vẻ. Nhà tôi cũng cười và đặt tên là xương chầy – vì đó là từ đúng nhất mà lâu nay nhà tôi cứ cố gắng tìm kiếm trong vốn từ ngữ tiếng Việt của mình”. Dù là người rất giỏi tiếng Pháp dùng tiếng Pháp để dạy sinh viên, nhưng ngay sau Cách mạng tháng Tám thực hiện chủ trương của Đảng đưa tiếng Việt vào trường Đại học, ông là một trong những người đầu tiên hưởng ứng bằng tất cả tâm huyết của mình.
Hoạt động trong kháng chiến chống Pháp
Khi toàn quốc kháng chiến nổ ra tiếng súng hào hiệp và chính nghĩa thì bác sĩ Đỗ Xuân Hợp bỏ lại sau lưng căn biệt thự số 69 phố Trần Xuân Soạn (Hà Nội), bỏ lại những tiện nghi vật chất để lên đường tòng quân. Hình ảnh này khiến ta nhớ đến câu thơ của Chính Hữu:
Cả kinh thành nghi ngút cháy sau lưng
Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa
Tuy nhiên, sự cương quyết của ông khi đi theo kháng chiến là việc không phải ai cũng làm được – vì bấy giờ, ông đang giảng dạy ở trường Đại học Y khoa, lại chữa bệnh ở bệnh viện Phủ Doãn và còn có cả phòng mạch tư ở phố Chợ Hôm. Nhưng theo tiếng gọi của Tổ quốc, vợ chồng ông ra đi nhẹ nhàng và thanh thản. Vào tháng 3/1947, họ ở Việt Trì. Sau khi Pháp tấn công thì phải dắt díu nhau chạy lên Lâu Thượng, rồi nửa đêm chạy ngược sông Lô để qua Bình Son (Vĩnh Yên). Từ đây, bác sĩ Đỗ Xuân Hợp được giao nhiệm vụ làm giám đốc Quân y viện Liên khu 10. Vào tháng 3/1949 nhiều chiến dịch lớn đã mở và quân ta đánh thắng giặc Pháp nhiều trận oanh liệt. Để kịp thời đào tạo cán bộ quân y phục vụ chiến trường, trường Đại học Quân y được thành lập ở cánh rừng Liễn Sơn, xã Hồng Hoa, huyện Tam Dương (Vĩnh Phú). Bác sĩ Đỗ Xuân Hợp nhận thêm nhiệm vụ giảng dạy cho trường, ngoài ra ông còn phải dạy ở trường Đại học Y khoa ở Chiêm Hóa (Tuyên Quang) do bác sĩ Hồ Đắc Di làm hiệu trưởng. Từ năm 1950, ông được chỉ định làm hiệu trưởng trường Đại học Quân y. Tuy bận nhiều việc nhưng ông vẫn không ngừng nghiên cứu khoa học và biên soạn giáo trình giảng dạy.
Nghiên cứu khoa học và biên soạn giáo trình
Trực tiếp mổ xẻ, băng bó, chăm sóc vết thương cho thương bệnh binh từ chiến trường chuyển về, ông nhận thấy vết thương tứ chi bao giờ cũng chiếm một tỷ lệ lớn do đó ông đã kịp thời biên soạn quyển Giải phẫu tứ chi và thực hành y khoa. Tập sách này được xuất bản năm 1952 tại Việt Bắc – nó không chỉ là tài liệu chính giảng dạy trong nhà trường mà còn là cẩm nang quý báu cho cán bộ quân y tham khảo để phục vụ thương binh ngay tại chiến trường. Theo bác sĩ Vưu Hữu Chánh – nguyên chủ nhiệm bộ môn Nhi của Trường Đại học Y Hà Nội – thì bấy giờ chủ trương của việc đào tạo cán bộ y tế: “Mục tiêu đề ra phải thay đổi: không đào tạo bác sĩ theo phương thức hoà bình nghĩa là đa khoa hóa cán bộ. Yêu cầu là đào tạo nhanh, rút ngắn thời gian và lấy phẫu thuật chiến tranh làm chính”. Rõ ràng các công trình nghiên cứu của bác sĩ Đỗ Xuân Hợp là cần thiết biết chừng nào. Với tác phẩm Giải phẫu tứ chi và thực hành y khoa ông được Bác Hồ gửi thư khen ngợi và Chính phủ tặng Huân chương kháng chiến hạng ba. Từ sự khích lệ này, trong suốt 20 năm (1952-1971) ông đã dành hết tâm lực để hoàn thành bộ sách nghiên cứu về giải phẫu học gồm nhiều tập, với 2.000 trang, 900 hình vẽ minh họa có giá trị lâu bền như Giải phẫu bụng, Giải phẫu ngục… đã được Nhà xuất bản Y học tái bản nhiều lần. Ngoài ra, còn có thể kể đến những tác phẩm y học ông viết trong thời gian chống Pháp như Triệu chứng học, Dược học, Thực hành bệnh viện…
Xây dựng nền y học quân sự sau năm 1954
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội địa cầu, cùng với đoàn quân chiến thắng, gia đình bác sĩ Đỗ Xuân Hợp trở về Hà Nội. Về lại thủ đô, với chức vụ hiệu trưởng ông bắt tay vào việc xây dựng lại trường Đại học Quân y và từ năm 1962 khi trường chuyển thành Viện nghiên cứu y học quân sự thì ông được cử làm Viện trưởng. Bên cạnh các công việc này ông còn làm chủ nhiệm bộ môn giải phẫu của trường Đại học Y Hà Nội. Từ năm 1965, ông làm phó chủ tịch Tổng hội Y Dược học Việt Nam, chủ tịch Hội Hình thái học Việt Nam và là chuyên viên đầu ngành giải phẫu học. Sức làm việc của ông thật dữ dội. Trong những năm tháng nầy, ông vẫn tiếp tục công bố những công trình nghiên cứu có giá trị như Giải phẫu đại cương, giải phẫu đầu mặt cổ v.v… và có nhiều đóng góp về nhân trắc học và hình thái học người Việt Nam. Nói như GS.TS Itsvan Kiszely nhà nhân chủng học nổi tiếng của Hungary trong Hội nghị khoa học tổ chức tại Hà Nội thì: “Toàn bộ công trình nghiên cứu của GS Đỗ Xuân Hợp là tấm gương phản chiếu về mặt nhân chủng học của con người Việt Nam cổ xưa và hiện đại”. Con người như bác sĩ Đỗ Xuân Hợp thật hiếm có. Đối với ông không hề có ngày nghỉ trong tuần. Lao động miệt mài trong nghiên cứu khoa học và chữa bệnh cứu người của ông đã để lại trong tâm trí mọi người niềm kính phục. Và đó cũng là tấm gương sáng cho các thế hệ sinh viên y khoa hậu thế noi theo. Thật cảm động khi trên giường bệnh, chỉ một tuần trước lúc qua đời, trong lúc bất chợt tỉnh táo, ông còn nắm tay vợ dặn dò: “Hễ các học trò tôi tới, nhớ nhắc họ về quyển Atlas nhân trắc nhé”. Ông mất lúc 14 giờ 15 phút ngày 17/12/1985 tại khoa A1, bệnh viện 108 trong sự thương tiếc của mọi người. Trong Điếu văn, Thượng tướng Bùi Phùng – Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã đánh giá cao những cống hiến của ông trong nền y học nước nhà: “Bằng lao động khoa học nghiêm túc, đồng chí Đỗ Xuân Hợp đã đóng góp cả cuộc đời mình cho ngành y học, cùng với các đồng chí đồng nghiệp khác đào tạo ra nhiều cán bộ khoa học cho ngành quân y cũng như dân y, đã xây dụng những cơ sở vật chất, kỹ thuật cho y học quân sự. Là một nhà khoa học, một người thầy thuốc, đồng chí đã đem hết lòng hết sức đem hết khả năng và kinh nghiệm của mình để cứu chữa cho thương bệnh binh, luôn luôn thể hiện tốt lời dạy của Hồ Chủ tịch: “Người thầy thuốc giỏi phải đồng thời như người mẹ hiền”.
Với những đóng góp của mình, bác sĩ Đỗ Xuân Hợp được Nhà nước và quân đội trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Độc lập, Huân chương Quân Công hạng nhất, Huân chương Quân kỳ quyết thắng, Danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang, Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 1)… Nhưng có lẽ phần thưởng cao quý nhất đối với ông là ông đã tự nguyện sống trọn vẹn cả cuộc đời cho công việc phụng sự y học với tư tưởng “cứu nhân độ thế” mà Thánh y Lê Hữu Trác đã dạy.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 3 – Danh nhân khoa học Việt Nam, Nxb Trẻ.